Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011

Công bố Sứ điệp Mùa Chay 2011 của Đức Thánh Cha

VietCatholic News (22 Feb 2011 12:41)


VATICAN - ĐTC Biển Đức 16 mời gọi các tín hữu tái khám phá và sống trọn ý nghĩa bí tích Rửa tội, dựa theo hành trình phụng vụ Mùa Chay, và vượt thắng lòng ích kỷ.Trên đây là nội dung Sứ điệp của ĐTC nhân dịp Mùa Chay sắp bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro 9-3 tới đây với chủ đề ”Cùng với Chúa Kitô anh chị em đã được chôn táng trong phép Rửa Tội, và anh chị em cũng được sống lại với Người” (Xc Cl 2,12). Sứ điệp của ĐTC được ĐHY Robert Sarah, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum (Đồng Tâm), và các vị phụ tá, giới thiệu trong cuộc họp báo sáng hôm ngày 22-2-2011, tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh. Hiện diện trên bàn chủ tọa còn có bà Myriam García Abisqueta, Chủ tịch tổ chức bác ái ”Manos Unidas” (Những bàn tay liên kết) tại Tây Ban Nha.Qua Sứ điệp, ĐTC nhắc nhở rằng ”Bí tích Rửa Tội không phải là một nghi thức quá khứ, nhưng là một cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, ảnh hưởng trên toàn thể của sống của người chịu Phép Rửa, mang lại cho họ sự sống thần linh và kêu gọi họ chân thành hoán cải, một cuộc hoán cải được ân thánh khởi sự và nâng đỡ, đưa họ đạt tới tầm mức trưởng thành của Chúa Kitô. Có một mối liên hệ đặc biệt giữa Bí tích Rửa Tội và Mùa Chay như một thời điểm thuận tiện để cảm nghiệm ơn thánh cứu độ”.ĐTC lần lượt trình bày sự trợ giúp của các bài Phúc Âm đọc trong 5 chúa nhật mùa chay, để chúng ta tiến đến một cuộc gặp gỡ đặc biệt nồng nhiệt với Chúa, bằng cách đưa chúng ta tiến qua các giai đoạn trong hành trình khai tâm Kitô giáo: đối với các dự tòng, điều này diễn ra trong viễn tượng nhắm lãnh nhận bí tích tái sinh, và đối với những người đã chịu phép Rửa, để họ đạt tới những bước tiến mới có tính chất quyết định trong hành trình theo Chúa Kitô và hiến thân trọn vẹn hơn cho Chúa”.ĐTC cũng khẳng định rằng: ”Sự dìm mình của chúng ta trong cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô qua bí tích rửa tội, thúc đẩy chúng ta mỗi ngày giải thoát con tim của mình khỏi gánh nặng của những sự vật chất, khỏi mối liên hệ ích kỷ với trần thế này, liên hệ ấy làm cho chúng ta trở nên nghèo nàn và ngăn cản không để chúng ta sẵn sàng và cởi mở đối với Thiên Chúa và tha nhân.. . Qua những việc thực hành truyền thống như ăn chay, làm phúc, cầu nguyện, là những biểu hiệu của sự dấn thân hoán cải, Mùa Chay dạy chúng ta sống tình thương của Chúa Kitô một cách quyết liệt hơn”.”Tóm lại, hành trình Mùa Chay, trong đó chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Mầu Nhiệm Thánh Giá, chính là ”trở nên đồng hình với cái chết của Chúa Kitô” (Pl 3,10), để thực hiện sự hoán cải sâu xa trong đời sống chúng ta, để cho hoạt động của Chúa Thánh Linh tác động, như thánh Phaolô trên đường Damasco; quyết liệt qui hướng cuộc sống chúng ta theo thánh ý Chúa; giải thoát chúng ta khỏi tính ích kỷ, vượt thắng bản năng muốn thống trị người khác và cởi mở đối với tình thương của Chúa Kitô. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để nhìn nhận những yếu đuối của chúng ta, chân thành kiểm điểm cuộc sống để đón nhận ơn thánh canh tân của Bí tích Thống Hối và quyết liệt tiến về cùng Chúa Kitô”.Và ĐTC kết luận rằng: ”Anh chị em thân mến, qua cuộc gặp gỡ bản thân với Đấng Cứu Chuộc chúng ta và qua chay tịnh, làm phúc, cầu nguyện, hành trình hoán cải tiến về Lễ Phục Sinh dẫn đưa chúng ta đến chỗ tái khám phá phép Rửa của chúng ta. Trong Mùa Chay này, chúng ta hãy tái đón nhận Ơn Thánh mà Thiên Chúa ban cho chúng ta trong lúc này, để Ơn Thánh soi sáng và hướng dẫn mọi hành động của chúng ta”.Trong cuộc họp báo, ĐHY Sarah, người Guinea Equatoriale, trình bày một số hoạt động cứu trợ của tổ chức Cor Unum, cơ quan bác ái của ĐTC, đặc biệt trong những tháng gần đây và ĐHY nhấn mạnh rằng: ”tại Haiti, Sahel, Mỹ châu la tinh và Carabí, cũng như tại bất kỳ nơi nào khác trên thế giới cần có một sự cứu giúp cụ thể, Giáo Hội Công Giáo luôn đi hàng đầu trong việc cứu trợ cấp thiết. Bao nhiêu lần, trong những trường hợp thiên tai, chúng ta đã nhe ĐTC kêu gọi sự can thiệp vật chất của cộng đoàn Giáo Hội và quốc tế, không phân biệt tín ngưỡng, chủng tộc hoặc chính kiến!” (SD 22-2-2011)
LM Trần Đức Anh OP

Những Điểm Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Công Giáo Và Cải Cách (Tin Lành)


Từ đầu thế kỷ XX, mọi Kitô hữu, nhất là ở các giáo hội Tây Phương, đã cảm thấy mối đe dọa chính đối với họ không còn đến từ “bọn Thệ Phản” đối với người Công Giáo, hoặc “phe Công Giáo La Mã” đối với những anh em Tin Lành (Protestant). Nhưng nó đã đến từ các chủ thuyết mới xuất hiện như cộng sản chủ nghĩa, quốc gia chủ nghĩa, khoa học chủ nghĩa, phàm tục chủ nghĩa (secularism), khoái lạc chủ nghĩa (hedoism), tình cảm chủ nghĩa, tà đạo chủ nghĩa (cultism) v.v… Những chủ thuyết mới này đã nhanh chóng chứng tỏ rằng chúng có khả năng làm biến đổi đời sống tinh thần cũng như vật chất của con người và trực tiếp đối chọi với những giá trị bất biến của Kitô giáo. Gần đây, lại có những thành phần quá khích của Hồi giáo đã tạo những cuộc khủng bố, hăm dọa sự an toàn của cả thế giới. Do đó, cùng với những nguyên nhân khác, các Kitô hữu (gồm Công Giáo, Chính Thống - Đông Phương, Tin Lành…) đã thấy sự cấn thiết phải ngồi lại với nhau, tạo một lực lượng chung đễ đương đầu với những thách đố mới.

Tuy vẫn có những tương đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành, nhưng các bất đồng đã và đang là trở ngại chính cho mọi nỗ lực hợp nhất. Ở đây, chúng tôi không muốn dùng tiếng “dị biệt” giữa các anh em Kitô, vì không thể có dị biệt giữa những người anh em, con của một Cha chung. Có chăng, chỉ là những bất đồng giai đoạn mà thôi. Tuy nhiên, giảm thiểu hoặc giản dị hóa những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành trong việc diễn giải Kinh Thánh, đã không thể gọi là một hành động nghiêm chỉnh và thành thật. Mặt khác, nếu không công nhận những tương đồng quan trọng giữa các giáo hội Kitô, sẽ bị cho là thiển cận và thiếu công tâm.

NHỮNG TƯƠNG ÐỒNG

Công Giáo và Tin Lành cùng chia sẻ một nhãn quan xuyên qua những sự kiện vật chất để hướng tới những gía trị tinh thần, đồng thời nhắc nhở con người sống cho cả hai cuộc sống đời này cũng như đời sau. Họ cùng tin vào Thiên Chúa và trung thành với Ðức Giêsu Kitô. Cùng công nhận 10 giới răn như lề luật cho mọi hành vi. Cùng tin rằng con người sau khi sa ngã, nếu không có sự giúp đỡ, tự con người không thể tìm được sự cứu rỗi nếu không có Ðấng Cứu Thế. Họ cùng đọc và tôn trọng Kinh Thánh, tuyên xưng cùng một kinh Tin Kính (của công đồng Nicaea) và cầu nguyện cùng một kinh Lạy Cha. Con người được gia nhập đời sống ân sủng và thánh thiện qua bí tích Rửa Tội, Thanh Niên nam nữ Công Giáo và Tin Lành có thể kết hôn với nhau và phép Hôn Phối đã được các giáo hội tôn trọng. Họ cùng mừng chung các lễ Giáng Sinh và Phục Sinh (trừ các giáo hội Chính Thống Ðông Phương), cùng công nhận các giảng huấn của các thánh Tông Ðồ, các văn bản thánh thiện và chia sẻ các bản thánh ca.

Trong sắc lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio) của Công đồng Vatican II, các nghị phụ đã tuyên bố: “Một khi đã được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu phép Rửa Tội, họ (các anh em Tin Lành) đã được tháp nhập vào Chúa Kitô, và vì thế họ có quyền mang danh Kitô hữu, xứng đáng là con cái Chúa và và được giáo hội Công Giáo nhìn nhận là anh chị em trong Chúa.” (Ch.I, đ.3). Về các giáo hội Tin Lành, các nghị phụ cũng đã xác định: “Dù chúng ta tin là họ còn khiếm khuyết, nhưng chính các giáo hội và các cộng đồng tách riêng ấy vẫn chưa trở thành vô nghĩa và vô giá trị trong Mầu Nhiệm Cứu Rỗi. Vì Thánh Thần của Chúa Kitô không khước từ xử dụng họ như những phương tiện cứu rỗi mà năng lực phát xuất từ chính sự sung mãn của Ơn Thánh và Chân Lý đã được ủy thác cho giáo hội Cơng Giáo.” (ibid.)

NHỮNG BẤT ÐỒNG

Người ta có thể chia những bất đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành thành hai loại chính: Những bất đồng căn bản và những bất đồng “tai nạn.”

Các bất đồng tai nạn đã xảy ra theo thời gian và hoàn cảnh địa phương, nhu cầu kỷ luật, biến thiên lịch sử, hội nhập văn hóa mà các giáo hội cảm thấy hữu ích và chấp nhận. Những điều đó đã trở thành cá tính của một giáo hội Tin Lành. Trong trên 300 giáo hội Tin Lành khác nhau, đã không có giáo hội nào hoàn toàn giống giáo hội khác.

Tuy nhiên, chỉ những bất đồng căn bản mới thực sự là những trở ngại chính cho công cuộc hiệp nhất. Các Kitô hữu đã tin rằng con người khi được tạo dựng đã hoàn hảo, nhưng vì xử dụng tự do cách sai lầm nên đã bất tuân lệnh Chúa và sa ngã.

1. Con người sau tội tổ tông (Justification)

Bất đồng đầu tiên giữa Công Giáo và Tin Lành khởi đi từ quan niệm về bản tính của con người sau khi đã sa ngã. Người Công Giáo tin rằng: Sau khi sa ngã, những sung mãn của bản tính và ân sủng của con người đã bị suy yếu. Những ơn Chúa ban cho ông bà Nguyên Tổ trong vườn địa đàng đã bị mất hết. Những ơn đó là ơn siêu nhiên, sự bất tử của thân xác, sự vẹn toàn và không phải đau khổ. Nếu không có ơn Cứu Chuộc, con người sẽ không tự mình tìm đến Nhan Thánh Chúa được. Nhưng bản tính tiên khởi của con người vẫn còn.

Trong khi đó, ông Luther (Lu-Te) lại cho rằng sau khi sa ngã, con người đã mất hết. Tất cả những gì con người làm, kể cả việc thiện, đều gây phiền toái cho Chúa và không có ơn ích gì cả. Sự công chính hóa (justification) chỉ bởi đức tin mà thôi và ơn cứu chuộc là do Chúa ban cách riêng chứ con người không thể tự hưởng bằng những việc lành. Thuyết công chính hóa bởi đức tin đó đã đưa đến ba nguyên tắc khác: Chối bỏ việc con người có lòng muốn tự do (free will), chỉ có công chính hóa ngoại tại, và chối bỏ sự hữu ích của mọi việc thiện.

Ngược lại, người Công Giáo tin rằng con người có toàn quyền xử dụng lòng muốn tự do của mình, ngay cả việc từ chối ơn Chúa ban. Sau khi được công chính hóa toàn diện (bởi đức Tin và Phép Rửa) mọi việc thiện của con người đều nên công trạng. “Ðức tin nếu không có việc làm là đức tin chết.”

2. Ðức tin

Tin Lành: Ðức tin là tác động tối thượng, tin vào Chúa rằng Ngài sẽ cứu ta khỏi hỏa ngục và “che đậy” mọi tội lỗi của ta (Ngài chỉ che đậy chứ tội lỗi vẫn luôn luôn còn). Do đó, đức tin trở nên một hành động của lòng muốn và tình cảm.

Công Giáo: Ðức tin là một sự đồng ý với ơn Chúa mạc khải. Thí dụ: Khi Chúa Kitô nói phép rửa tội thì cần thiết để được cứu rỗi. Chúng ta chấp nhận câu tuyên bố này vì chúng ta tin vào Ngài. Ðức tin đối với người Công Giáo là một hành động của trí khôn.

3. Kinh Thánh

Tin Lành: Kinh Thánh có quyền tôn giáo tối thượng. Không chấp nhận những khẩu truyền kể từ sau thời các thánh Tông Ðồ.

Công Giáo: Chúa Kitô chỉ giảng dạy chứ không viết Kinh Thánh và tự bộ Kinh Thánh đã không được quyền tôn giáo tối thượng. Từ chối khẩu truyền là tự tiện và độc đoán.

Ðối với Tin Lành, mọi người đều có quyền và bổn phận diễn giải Kinh Thánh theo ý mình hiểu. Sự kiện này đã là nguyên nhân đưa đến việc phân chia giữa các giáo hội Tin Lành thành hàng trăm giáo hội khác nhau. Trong khi đó, Công Giáo tin rằng Giáo Hội dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Linh, là cơ quan duy nhất có quyền diễn giải Kinh Thánh. Ðể am tường Kinh Thánh, người ta đã phải thấu hiểu các nguyên ngữ nguyên bản của Kinh Thánh, thần học, lịch sử và khảo cổ học (Archaeology). Do đó, nếu không có những nhà chuyên môn trợ giúp, người ta có thể sẽ không hiểu hoặc hiểu Kinh Thánh cách sai lạc.

4. Quyền bính Ðức Giáo Hoàng

Tin Lành: Giáo hội thì vô hình, những giáo hữu của các giáo hội này chỉ có Chúa biết mà thôi. Ðứng đầu giáo hội là chính Chúa Kitô.

Công Giáo: Chỉ có một giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền do Chúa Kitô khai sáng. Người đứng đầu hữu hình của giáo hội là vị Ðại Diện Chúa Kitô, kế vị thánh Phêrô, là Ðức Giáo Hoàng, là vị Giám Mục thành Roma.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây có nhiều anh em Tin Lành đã tỏ mối thán phục và cảm tình với các ÐHG đặc biệt là Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

5. Những giáo huấn của giáo hội

Tin Lành: Không công nhận giáo hội là một tổ chức thánh thiện có quyền giảng dạy. Ðối với họ, giáo hội chỉ là một tổ chức thân hữu của những người tin vào Chúa Kitô và cùng chia sẻ Lời Chúa.

Công Giáo (và các giáo hội Ðông Phương): Tin Mừng Cứu Rỗi đến với từng cá nhân qua giáo hội với sự bảo đảm không bị sai lầm mà không một Kitô hữu nào dám tự nhận.

6. Các bí tích

Tin Lành: Từ chối tất cả các bí tích, trừ phép Rửa Tội và nghi thức Tiệc Ly, nhưng họ giữ hai điều này vì vâng theo thánh ý Chúa mà thôi. Các phép thống hối (giải tội), thêm sức, truyền chức thánh, hôn phối, và sức dầu bệnh nhân chỉ được giữ như những nghi thức của giáo hội chứ không phải là bí tích.

Về nghi thức tiệc ly (chứ không phải thánh lễ), người Tin Lành từ chối ý nghĩa “của lễ Hi Sinh” và đặt Lời Chúa thành trọng tâm của việc thờ phượng. Vì giáo hội vô hình, lại không có thánh lễ và năm bí tích khác nên chức linh mục cũng trở nên không cần thiết. Tất cả các tín hữu đều là linh mục mà lễ Truyền Chức là phép Rửa Tội. Tuy nhiên, một số người đã được huấn luyện cách đặc biệt, trở thành mục sư để điều hợp cộng đoàn.

Công Giáo: Công nhận tất cả 7 bí tích do Chúa lập ra. Bí tích Thánh Thể gồm cả Lời Chúa, hiến tế hi sinh, và chia sẻ Mình Thánh, chứ không phải chỉ có Lời Chúa mà thôi. Mọi người cùng tham dự vào thiên chức linh mục của Chúa Kitô và là những phần tử của Nhiệm Thể của Ngài. Một số người được ơn gọi đặc biệt làm linh mục để cử hành Hiến Lễ Hi Sinh.

7. Sự Tiền Ðịnh (Predestination)

Tin Lành: Chúa đã chọn một số người vào Thiên Ðàng, còn những người khác bị vào hỏa ngục, dù có ăn ngay ở lành thế nào cũng không thể thay đổi được ý Chúa.

Công Giáo: Hoàn toàn không chấp nhận thuyết này, vì theo đó, con người không còn có lòng muốn tự do, ngược hẳn với tín lý.

Ngoài ra, người Tin Lành còn chối bỏ luyện tội, họ cho rằng sau khi chết, linh hồn hoặc lên thiên đàng, hoặc xuống hỏa ngục mà thôi. Mọi lời cầu nguyện cho kẻ chết đều không có ích gì cả. Họ cũng hủy bỏ việc sùng kính Ðức Mẹ và các Thánh.

NHỮNG HÒA ÐỒNG

Tinh thần hòa giải và hòa hợp hởi đi từ đầu thế kỷ XX đã đưa các giáo hội đến gần nhau hơn, không những chỉ qua lời nói và cử chỉ thân mật bề ngoài, nhưng cả trong thực hành nữa. Những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành đã thực sự được thu hẹp hơn. Ðặc biệt trong những thập niên sau công đồng Vatican II, thánh lễ đã được cử hành bằng các ngôn ngữ địa phương. Nội dung các bài giảng đã được chuẩn bị và chú trọng cách đặc biệt. Phần tham gia của các tín hữu (đáp ca, thánh ca) cũng được để ý và phát triển hơn. Giáo dân đã tham gia nhiều hơn vào các công tác phụng vụ và mục vụ. Ở nhiều nơi, giáo dân đã chịu Mình Thánh qua cả hình Bánh và hình Rượu như linh mục. Các Thày Sáu Vĩnh Viễn, thường là những người đã lập gia đình, được kể vào hàng giáo sĩ và có quyền giảng, rửa tội, ban phép hôn phối và cử hành nghi thức an táng… Một chiều hướng mục vụ đặc biệt dành cho các cặp hôn nhân giữa Công Giáo và Tin Lành cũng đã được đề cập tới.

Mặt khác, đã có nhiều anh em Tin Lành nhìn lại vai trò của Ðức Mẹ trong đời sống của các Kitô hữu cách nghiêm chỉnh hơn. Họ cũng thay đổi nhãn quan về vai trò và quyền bính của Ðức Giáo Hoàng. Các nhà thần học Công Giáo và Tin Lành đã hội họp với nhau và tìm ra rất nhiều lãnh vực tương đồng giữa các giáo hội mà trước đây người ta đã không nghĩ tới.

Sau khi nhấn mạnh rằng phép Rửa Tội “tạo nên mối giây hiệp nhất tất cả những người đã được tái sinh.” (Sắc Lệnh Hiệp Nhất, ibid. III, 22), các nghị phụ công đồng đã khảo sát đời sống Kitô hữu của các anh em Tin Lành: “Ðời sống Kitô hữu của các anh em ấy được nuôi dưỡng bằng Ðức Tin vào Chúa Kitô và được duy trì nhờ ân sủng của phép Rửa Tội và nhờ nghe Lời Chúa; đời sống ấy biểu lộ trong kinh nguyện riêng, trong việc suy niệm Kinh Thánh, trong đời sống gia đình Kitô giáo, trong việc phụng sự của cộng đoàn tụ hợp để ngợi khen Thiên Chúa.” (ibid.)

Với “con cái trong nhà” các nghị phụ đã ân cần nhắc nhở: “Ngày nay, ở nhiều nơi trên thế giới, nhờ Ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, rất nhiều cố gắng nhằm tiến tới hiệp nhất đầy đủ, theo ý muốn của Chúa Giêsu Kitô đang được thực hiện bằng kinh nguyện, lời nói, việc làm, nên Công Ðồng này khuyến khích tất cả mọi người Công Giáo hãy nhận ra những dấu chỉ thời đại, hãy khéo léo tham gia vào công cuộc hiệp nhất này.” (ibid.I,4).

LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Mépu 15/2/2011



Sau 25 tháng thi công, sáng ngày 15/2/2011, Giáo xứ Mépu hân hoan đón chào quí khách từ khắp nơi về dự lễ khánh thành và cung hiến nhà thờ mới, do Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết chủ sự. Có trên 40 Linh Mục trong ngoài Giáo phận cùng đồng tế và đông đảo Tu Sĩ Nam Nữ, giáo dân thuộc các giáo xứ vùng Phương Lâm, Gia Kiệm và Đức Tánh hiệp dâng Thánh lễ tạ ơn.
“Ân huệ tình yêu tuyệt diệu
Trọn đời cảm mến tri ân”
Ý nghĩa của hai câu đối được treo trên cung thánh đã được Đức Cha Giuse quảng diễn trong bài giảng lễ qua ba niềm vui cảm tạ: nhớ ơn các vị tiền bối, vui mừng với ngôi giáo đường mới, nơi Chúa chọn để hiện giữa Dân Người và mời gọi Dân Chúa tiến bước trên cánh đồng truyền giáo. Ngôi giáo đường khang trang này gợi nhớ bao nhiêu công lao của các vị tiền bối đã đang góp công xây dựng giáo xứ này, từ những ngày đầu gian khổ qua bao thăng trầm của lịch sử, cho đến hôm nay giáo xứ trưởng thành. Vui mừng hơn nữa là ngôi thánh đường bao tháng ngày mơ ước đã thành hiện thực, giữa cánh đồng xanh bao la của vùng đất Mépu. Từ đây Thiên Chúa đã có một địa chỉ cố định, khi nhà thờ được cung hiến, dấu hiệu của sự hiện diện của Thiên Chúa trên vùng đất này. Niềm vui cuối cùng là tính truyền giáo của buổi lễ hôm nay, cũng như của cả cộng đoàn giáo xứ Mépu, đang vui sướng khẳng định vị trí của mình nhờ ngôi thánh đường khang trang đẹp đẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho sứ mệnh loan báo Tin Mừng.
Nhà thờ mới có tổng diện tích trên 700 m2, chứa khoảng 600 chỗ ngồi.
Ngược dòng lịch sử, từ năm 1960, nhà thờ Mépu chỉ là một căn nhà lá thô sơ, nơi cố Lm Hoàng Kim Điền quản xứ Huy Khiêm đến dâng thánh lễ hằng tuần cho khoảng 800 giáo dân gốc Quảng Nam, Quảng Trị đến vùng đất Mépu lập nghiệp. Năm 1962, cố Lm Antôn Mai Khắc Cảnh quản xứ tiên khởi xây dựng nhà thờ, nhưng năm 1964 bị đổ nát do chiến tranh, giáo dân tản cư lánh nạn. Sau năm 1975, giáo dân trở về quê cũ, nhưng nhà thờ không còn, muốn dự lễ phải về Võ Đắt, Gia An hay Phương Lâm xa xôi đến trên 20 cây số. Năm 1977, với phong trào kinh tế mới, vùng đất Mépu đón tiếp thêm nhiều gia đình từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên về đây sinh sống. Số giáo dân tăng đến con số trên 1000 người, sinh hoạt tôn giáo trở thành một nhu cầu rất lớn. Từ năm 1990, giáo họ Mépu trực thuộc Giáo xứ Võ Đắt, bà con giáo dân tự động tổ chức các giờ kinh, phụng vụ Lời Chúa. Từ năm 1994, giáo dân Mépu mới được lãnh nhận các bí tích thường xuyên hơn, nhờ sự quan tâm của Cha Hạt trưởng và quí Cha trong vùng. Năm 1997, các thánh lễ chúa nhật và lễ trọng được cử hành trong sân nhà của một giáo dân. Mọi sinh hoạt tôn giáo lúc này vẫn chưa chính thức, vì thế khung nhà tiền chế làm nơi cử hành thánh lễ năm 2000, vừa dựng lên đã bị tháo dỡ. Năm 2006, Giáo Họ Mépu trực thuộc Giáo xứ Võ Xu, Cha Phaolô Nguyễn Văn Hạnh, quản xứ và quí Cha trong Hạt cũng thay nhau đến cử hành các bí tích cho Giáo họ. Tháng 11/2007, Giáo họ Mépu chính thức được công nhận cùng với ban điều hành giáo họ và xúc tiến việc mua đất xây dựng nhà thờ. Năm 2008, khung sắt tiền chế lại được dựng lên làm nhà nguyện tạm, để vừa dâng thánh lễ, học giáo lý và hội họp. Và cuối cùng ngày 12/1/2009, Giáo Họ Mépu hân hoan đón tiếp Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết, trên 20 Linh mục, đông đảo các Nữ Tu và trên 3000 giáo dân từ khắp nơi đến dâng thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Mépu. Và hôm nay trên cánh đồng lúa vàng của xã Mépu, ngôi thánh đường mơ ước đã hoàn thành, một mùa gặt mới đầy hứa hẹn.
Suốt 50 năm trôi qua, với bao thăng trầm, sức sống Mépu đã từng ngày vươn lên, cho đến hôm nay con số giáo dân là 2300 người, gồm Mépu 1, Mépu 2 và Sùng Nhơn. Giáo họ Mépu đã khẳng định được tầm vóc của mình. Vì thế trong niềm hân hoan phấn khởi với ngôi nhà thờ mới, Giáo Họ Mépu đã được Đức Giám Mục Giáo Phận chính thức nâng lên hàng Giáo Xứ với đầy đủ quyền lợi theo Giáo luật kể từ ngày 15/01/2011.
Nhờ lời bầu cử của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Bổn mạng của Giáo Xứ, nguyện chúc Giáo Xứ Mépu phát triển vững mạnh trong sứ mệnh chứng nhân cho Tình Yêu của Thiên Chúa trong cánh đồng lúa Mépu mênh mông.

Thảo Hương

Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Nam Hà, GP Phan Thiết.



“Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả chỉ là uổng công”, 29 tháng thi công vất vả, hôm nay 16/2/2011, Nam Hà cảm nhận được dồi dào hồng ân Chúa qua Thánh Lễ tạ ơn khánh thành và cung hiến nhà thờ mới. Đức Cha Giuse Giám Mục GP Phan Thiết chủ sự Thánh lễ, cùng đồng tế với Ngài có trên 30 Linh Mục và đông đảo Tu sĩ Nam Nữ giáo dân trong và ngoài Giáo Phận.
Khởi đầu thánh lễ, Cha Hạt Trưởng Đức Tánh đã long trọng đọc quyết định nâng giáo họ Nam Hà lên hàng Giáo Xứ.

Chia sẻ niềm vui cùng với Cha Phêrô Hoàng Văn Thinh và giáo xứ Nam Hà, Đức Cha Giuse trong bài giảng lễ đã đưa ra ba lý do: điểm dừng của Nam Hà, ngôi giáo đường mới địa chỉ hiện diện cụ thể của Thiên Chúa, phép lạ trong cánh đồng truyền giáo.
Trên 18 năm lưu lạc với 29 gia đình buổi ban đầu khó khăn, hôm nay Nam Hà đã có điểm dừng, như ngày xưa Ba Vua đã từ phương xa đến và dừng lại ở Bê Lem gặp Chúa Hài Đồng. Ngôi giáo đường mới như địa điểm dừng chân, nơi đây Chúa đã chọn để hiện diện giữa dân Ngài. Từ hôm nay, đây là chỗ Dân Chúa lãnh nhận các bí tích, nơi Thiên Chúa qui tụ Dân Chúa để thi ân giáng phúc, như ngày xưa Chúa Giêsu đã đoái thương đến nhà Ông Gia Kêu, để “hôm nay nhà này được ơn cứu độ”. Nhưng nhà thờ chỉ là chỗ dừng chân để tiếp tục hành trình sứ vụ tông đồ của mỗi Kitô hữu. Vì thế, ngôi giáo đường khang trang nơi vùng đất vốn hoang vu, đã trở thành “phép lạ”. Thiên Chúa đã chọn vùng đất này để hiển linh, như tước hiệu Giáo Xứ đã chọn, vang lên tiếng gọi làm cho “Danh Cha cả sáng”.



Hân hoan đón nhận hồng ân Thiên Chúa hôm nay, vị đại diện giáo xứ đã vui mừng nhìn lại lịch sử của giáo xứ và quá trình xây dựng nhà thờ như sau:
“Vào tháng 03 - 1993 nhà nước đưa dân từ miền Bắc thuộc Tỉnh Nam Hà vào lập nghiệp, trong đó có 29 hộ gia đình công giáo thuộc 2 giáo phận: Bùi Chu và Hà Nội.
Những ngày đầu tiên chúng con gặp rất nhiều khó khăn, rừng núi âm u, đường mòn lầy lội nhà thờ thì xa, nên việc tham dự Thánh lễ ngày chủ nhật cũng bị thất thường, lúc bấy giờ mọi người rất lo lắng và hoang mang về đời sống đạo. Đến tháng 04-1995 thì được Cha Phêrô Nguyễn Đình Sáng phụ trách Giáo xứ Chính Tâm, hướng dẫn quy tụ nhau lại lập thành một giáo khu, trực thuộc Giáo xứ Thánh Tâm. Thời gian sau, giáo khu được phát triển theo ngày tháng, và lấy tên là giáo họ Nam Hà. Trong 3 năm đầu không có nhà thờ, giáo họ chúng con rất lúng túng trong việc tổ chức đọc kinh và chia sẻ lời Chúa tại các tư gia. Đến tháng 12/1995 để thuận lợi cho việc đọc kinh cầu nguyện và cử hành Thánh lễ, giáo họ chúng con có mượn nhà của một giáo dân để làm nơi thờ tự. Đến tháng 01/1996 giáo họ được nhận lễ Chúa Hiển Linh làm bổn mạng và Thánh lễ đầu tiên được cử hành tại ngôi Nhà Tạm này.
Chúng con xin có đôi lời dâng lên Đức Cha Nicola: Vào ngày 23/03/1996 cách đây 15 năm, chúng con được đón Đức cha tại ngôi nhà thờ tạm, lúc bấy giờ giáo dân còn quá ít ỏi, nhưng chúng con cũng được Đức cha thương, hướng dẫn, thăm nom, giúp đỡ, động viên chúng con tiếp tục sống đạo trong miền đất mới. Đến ngày 24/09/1998 Đức cha còn ban cho chúng con một vị chủ chăn là cha Phêrô Hoàng Văn Thinh về quản xứ giáo xứ Thánh Tâm, lúc bấy giờ chúng con có nhiều thuận lợi hơn, cha cho xây lại chung quanh vì trước đây là vách ván, nới rộng 2 bên, nối dài về phần cuối, lúc này nhà nguyện được rộng rãi hơn và Thánh lễ được cử hành thường xuyên.
Chúng con cũng xin có đôi lời dâng lên Đức cha Phaolô: Ngày 15/06/2007 Đức cha có đến thăm động viên và hướng dẫn chúng con xin giấy phép xây nhà thờ. Đến ngày 04/04/2008 được UBND Tỉnh và Sở xây dựng chấp thuận. Ngày 25/06/2008 lễ đặt viên đá đầu tiên do Đức cha Phaolô chủ sự, đến lúc này chúng con vẫn chưa có kinh phí để mua vật liệu. Công việc phải tạm ngưng, cha quản xứ phải tạo mọi điều kiện để ra nước ngoài hồi tháng 06/2008 để tìm kiếm các ân nhân giúp đỡ, tới tháng 09/2008 cha về nước và công việc xây dựng mới được tiến hành, cái khó lại bó cái khôn, lúc đó đất của nhà thờ chỉ có bề ngang 30m, thì có xây dựng xong cũng không thuận lợi cho việc đi lại và rước chung quanh Thánh đường, nên một lần nữa phải tạm dừng, để xin hoán đổi đất. Đến ngày 21/08/2009 mới được UBND Tỉnh và Sở xây dựng chấp thuận cho việc hoán đổi. Hiện nay đất của nhà thờ bề ngang 60m, dài 150m, tổng diện tích là 8.384m2 lúc này thuận tiện cho việc xây cất. Đến ngày 23/09/2008 bắt đầu khai móng. Thời điểm đó đã vào cao điểm mùa mưa, đất thì nằm ngay vị trí trũng nên không thể đào được, cha xứ lại cho ngưng thi công để chờ bớt mưa. Đến ngày 20/06/2010 công trình bắt đầu tiếp tục. Diện tích nhà thờ là 776m2 ngang 22m dài 40m cao 17m. Tháp chuông 26m.
(…)
Đây là một công trình khiêm tốn mà giáo họ chúng con hôm nay đã tạm hoàn thành, và cũng là một ân huệ mà Thiên Chúa đã đoái thương đến cộng đoàn nhỏ bé chúng con.” (trích “Lược sử hình thành xây dựng nhà thờ Nam Hà”, Giuse Vũ Văn Trang, Chủ tịch HĐMVGX Nam Hà)
Sức sống của Nam Hà hôm nay đã thực sự “Hiển Linh”. Nguyện chúc Giáo Xứ Nam Hà ngày càng phát triển mọi mặt để cho Tin Mừng được loan báo trên vùng đất dồi dào cây trái của Huyện Đức Linh.
Bình Nguyên

Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

CHÚA NHẬT THỨ IV THƯỜNG NIÊN NĂM A



30 tháng 1/2011: CHÚA NHẬT THỨ IV THƯỜNG NIÊN NĂM A


BÀI ĐỌC I: Xp 2, 3; 3, 12-13 "Ta sẽ để sống sót lại giữa ngươi, một dân tộc khiêm tốn và nghèo hèn".

Trích sách Tiên tri Xôphônia. Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước, là những kẻ tuân giữ luật Chúa; hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường, nếu các ngươi muốn được che chở trong ngày thịnh nộ của Chúa. Ta sẽ để sống sót lại giữa ngươi một dân tộc khiêm tốn và nghèo hèn, biết tin tưởng vào thánh danh Chúa. Kẻ sống sót của Israel sẽ không làm điều bất công, sẽ không nói dối, miệng chúng sẽ không nói lời phỉnh gạt, vì chúng sẽ được chăn dắt và nằm ngủ không bị quấy rầy. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10.

Đáp: Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,3).

Xướng: 1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù, Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Đức Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua từ đời này sang đời khác.

BÀI ĐỌC II: 1 Cr 1, 26-31 "Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô. Anh em thân mến, anh em hãy xem ơn kêu gọi của anh em: Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng. Nhưng điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ; điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những gì là mạnh mẽ phải hổ ngươi. Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian, những điều bị khinh chê, những điều không không, để phá huỷ những điều hiện hữu, hầu mọi xác thịt không thể vinh vang trước mặt Người. Chính do Người mà anh em ở trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng do Thiên Chúa, đã trở nên sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh hoá và sự cứu rỗi cho chúng ta, ngõ hầu, như đã chép: "Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa". Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Lc 19, 38 Alleluia, alleluia! - Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến, bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. - Alleluia.


PHÚC ÂM: Mt 5, 1-12a "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp. Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG NHỮNG MỆNH LỆNH YÊU THƯƠNG
Trong Phim Ben Hur, đạo diễn cố tạo ra khung cảnh vừa ngoạn mục, vừa phác họa thân phận bất lực của con người trên một ngọn đồi, để làm nổi bật Bài Giảng Trên Núi về Tám Mối Phúc Thật của Chúa Giêsu. Người ta có thể từ đó đọc được ý nghĩa phó thác cậy trông nhiều hơn vào tình thương Chúa, hoặc có khi cũng được an ủi yên vui khi tin thật vào những lời hứa của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, bản chất của Tám Mối Phúc Thật, vì là hiến chương Nước Trời, nên không hề có tính cách tiêu cực, mà thực sự là những mệnh lệnh yêu thương cho cuộc sống nhân loại hướng về Nước Trời. Thực vậy, những lời hứa của Chúa Giêsu như Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp; hoặc tương tự như Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an... không có nghĩa tiêu cực an ủi trong thân phận và hoàn cảnh buộc phải chịu vậy, để được một điều tốt hơn, bởi suy nghĩ cho kỹ, thì một khi đã mang thân phận con người sau tội tổ tông, có ai trong đời mà không buồn đau, nghèo khó, đói khát, yếu đuối, tội lỗi và phải chịu muôn phần cơ cực... Như thế những lời hứa của Chúa Giêsu chẳng những nói lên sự thật đời người trước các hậu quả của tội tổ tông, mà còn là những con đường buộc nhân loại phải đi ngược lại cái thân phận bị ảnh hưởng trong bản năng yếu đuối và tội lỗi của mình, để có thể hưởng được ơn cứu độ của Chúa. Thế nên một khi sống hiền lành, là tức khắc phải từ bỏ các khuynh hướng và hành động gian ác; một khi chịu cảnh buồn đau, thì lập tức thấy rõ hơn thân phận mình, rồi phó thác vào Chúa thì sẽ được Ngài an ủi đỡ nâng; một khi khát khao điều công chính, thì dĩ nhiên phải từ bỏ con đường bất công trong đời, để nép mình theo đường lối chính trực của Chúa; một khi biết xót thương người, là chính lúc phải khắc phục bản tính ích kỷ tiềm tàng sâu kín trong nội tâm ta, mới hiểu được niềm khao khát yêu thương của tha nhân cũng là của mình; một khi muốn tâm hồn trong sạch, phải can đảm lắm trước các cám dỗ tội lỗi và các khuynh hướng xấu xa; một khi biết ăn ở thuận hòa, phải luôn chiến thắng bản tính hiếu thắng và cái tôi không chịu nhường bước trước các mối lợi cho riêng mình; và một khi chấp nhận chịu bách hại vì Chúa, thì cũng chấp nhận cái chết như Chúa Kitô. Tất cả các mối phúc thật do đó trở nên những mệnh lệnh cho đời người Kitô hữu. Những mệnh lệnh này rất lạ lùng, vì mở đầu bằng lời chúc phúc, nên không còn mang tính bắt buộc, mà là những lời mời gọi yêu thương của Chúa Giêsu, để con người có thể đi vào con đường thánh thiện trên hành trình tiến về thiên quốc.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Tin Mừng Chúa Nhật 2 Thường Niên – Năm A

Gợi ý suy niệm về bài Tin Mừng Chúa Nhật 2 Thường Niên – Năm A (song ngữ)
Một vài gợi ý suy niệm song ngữ về bài Tin Mừng Chúa Nhật 2 Thường Niên – Năm A.
2nd Sunday of Ordinary TimeReading I: Isaiah 49:3,5-6 II: 1Cor 1:1-3
Chúa Nhật 2 Thường NiênBài Đọc I: Isaia 49:3,5-6 II: 1Côrintô 1:1-3
Gospel
John 1:29-34
29The next day he saw Jesus coming toward him, and said, "Behold, the Lamb of God, who takes away the sin of the world!
30This is he of whom I said, 'After me comes a man who ranks before me, for he was before me.'
31I myself did not know him; but for this I came baptizing with water, that he might be revealed to Israel."
32And John bore witness, "I saw the Spirit descend as a dove from heaven, and it remained on him.
33I myself did not know him; but he who sent me to baptize with water said to me, 'He on whom you see the Spirit descend and remain, this is he who baptizes with the Holy Spirit.'34And I have seen and have borne witness that this is the Son of God."
Phúc Âm
Gioan 1:29-34
29 Hôm sau, ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, liền nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.
30 Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng : Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.
31 Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Israel, tôi đến làm phép rửa trong nước."
32 Ông Gioan còn làm chứng: "Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.
33 Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần."34 Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.
Interesting Details · The title "Lamb of God" are mentioned only in John's gospel as John the Baptist proclaims when he sees Jesus appoaching (Jn 1:29 and
Jn 1:36). This title may refer to: - the pascal lamb whose blood saved the people of Israel in the Passover (Ex 12), - the victorious apocalyptic lamb who would destroy evils in the world (Rv 5-7), - Jesus is crucified on the afternoon before Passover, this is the time when the pascal lamb are slain, or - the suffering servant of the Lord who is led to slaughter like a lamb and bears our sins (Is 53). Jesus is presented as a lamb, not only to bear our sins but also to take away our sins. · The Spirit descends and "remains" upon Jesus. The Spirit staying with Jesus emphasizes the permanent relationship between the Father and the Son, and between the Son and the Christian. Jesus is the permanent bearer of the Spirit.
Chi Tiết Hay· Trong các sách Phúc Âm, chỉ có Phúc Âm thánh Gioan nói tới chức hiệu "Chiên Thiên Chúa" hai lần (Jn 1:29 và
Jn 1:36), đó là lời Gioan Tẩy Giả khẳng định khi ông nhìn thấy Chúa Giêsu. Chức hiệu này có thể ám chỉ những hình ảnh sau đây: - Chiên tế lễ mà người Do Thái đã dùng máu chiên trong lễ Vượt Qua để được cứu thoát (Ex 12). - Chiên chiến thắng tội lỗi trần gian trong sách Khải Huyền (Rv 5-7). - Báo hiệu Chúa Giêsu sẽ bị đóng đinh trên thập giá vào chiều trước lễ Vượt Qua là lúc các thầy tư tế giết chiên làm lễ tế. - Người tôi trung đau khổ của Thiên Chúa bị hành xử như một con chiên để chịu tội cho chúng ta (Is 53). Chúa Giêsu đưọc diễn tả như một con chiên, không những để chịu tội mà còn xóa bỏ tội cho chúng ta. · Thần Khí ngự xuống và "ở" cùng Người. Thần Khí ở cùng Chúa Giêsu nhấn mạnh sự liên hệ vĩnh cữu giữa Chúa Cha và Chúa Con, giữa Chúa Con và Kitô hữu. Chúa Giêsu là Đấng luôn tràn đầy Thánh Thần.
One Main Point LAMB OF GOD, WHO TAKES AWAY THE SINS OF THE WORLDJohn the Baptist presumably did not know Jesus, but he is the first to bear witness and to proclaim that Jesus is the Lamb of God, who has the power to take away the sins of the world. John testifies as he himself sees and describes the Spirit's descending and remaining upon Jesus.
Một Điểm Chính CHIÊN THIÊN CHÚA, ĐẤNG XÓA TỘI TRẦN GIAN Gioan Tẩy Giả hầu như không biết Chúa Giêsu là ai, nhưng ông là người đầu tiên đã làm chứng và tuyên xưng Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng có uy quyền xóa tội trần gian. Gioan đã minh chứng qua những điều ông thấy và diễn tả là Thần Khí ngự xuống và ở cùng Chúa Giêsu.
Reflections1. The people who went to John the Baptist on the bank of the Jordan River might have different attitudes: a great number came to be baptized, some by curiosity or just to be with friends, others to question and to criticize.By my activities in the church or in my community group, who am I in the crowd on the bank of the Jordan River? 2. Pausing the baptism, humbling himself, directing the attention of people to the person being in sight, John the Baptist courageously steps over his "ego" and acts under the light of the Holy Spirit; he turns himself as an instrument for the Holy Spirit. What are the motives in my actions?3. John the Baptist chooses the most shallow spot in the Jordan River, where people from nations can travel or do business, for his mission. Therefore, the crowd includes not only Israelites, but also people from other countries, other cultures and economics. Is my mission limited only within my own, my family's, or my group's salvation?
Suy Niệm1. Những người tới với thánh Gioan Tẩy Giả bên bờ sông Jordan, một số lớn xin đưọc thanh tẩy, một số có mặt vì sự tò mò hiếu kỳ hay do bạn bè lôi kéo, còn một số nhỏ đi theo để tra hỏi bắt bẻ. Khi tôi tham gia những hoạt động trong xứ đạo, trong gia đình Đồng Hành, tôi thuộc lớp người nào bên bờ sông Jordan?2. Gián đoạn nghi thức rửa tội, tự đặt mình thấp bé và dồn sự chú ý của dân chúng về một nhân vật khác, Gioan Tẩy Giả đã táo bạo vượt qua cái tôi của mình và ông đã hành động theo sự hướng dẫn của Thánh Linh. Ông biến chính mình thành dụng cụ của Thánh Linh. Động lực nào thúc đẩy tôi trong các hành động? 3. Gioan Tẩy Giả chọn một nơi cạn nước nhất, chỗ dân muôn xứ có thể qua lại buôn bán du lịch. Vì thế chung quanh thánh nhân hôm nay, không phải chỉ có những người Do Thái, nhưng có thể có nhiều màu da khác nhau, nhiều văn hóa khác nhau, nhiều trình độ trí thức, giầu nghèo. Có phải sự nhiệt thành tông đồ của tôi chỉ để cho một mình tôi, một mình gia đình tôi hay một mình nhóm của tôi?

Trích nguồn: http://www.kinhthanhvn.org/viewItem.jhtml?itemId=3818

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

PHÚC ÂM: Mt 2, 1-12
"Chúng tôi từ phương Đông đến thờ lạy Đức Vua".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu. Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Đông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Đức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Đấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta". Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người". Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình. Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG MỞ LÒNG RA CHO ĐẤNG CỨU THẾ
Có nhiều điểm quan trọng trong Bài Phúc Âm Lễ Hiển linh giúp ta đi tìm Chúa với ơn gọi qua tiếng lương tâm ngay lành. Lần lượt ta đọc thấy sự kiện các nhà đạo sĩ nhận thấy ngôi sao lạ như dấu chỉ đi tìm vua mới sinh, Đấng sẽ có quyền uy cao cả trên nhân loại; đến sự nham hiểm của vua Hêrôđê qua lớp son đạo đức giả bằng những lời bọc vỏ khiêm tốn đạo hạnh: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cùng đền triều bái Người!" Các đạo sĩ chắc sẽ vô cùng ngạc nhiên khi ngôi sao dừng lại trước máng cỏ nghèo hèn với hình ảnh một hài nhi được sinh trong hang bò lừa, và cha mẹ Ngài lại vô cùng nghèo khó! Nhưng các ông đã xác tín đây chính là vị Vua các ông đã dong duổi khổ cực đi tìm, và các ông đã thờ lạy Ngài bằng kính dâng những lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược. Và sự kiện sau cùng soi thấu lương tâm ngay lành: đó là điềm báo cho các ông hãy tìm lối khác về, vì Hêrôđê đang tìm hãm hại Hài Nhi. Những sự kiện trên xảy ra vào những ngày đầu đời của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế. Dĩ nhiên chúng ta sẽ nghĩ đến bàn tay can thiệp của Thiên Chúa trong việc Đấng Cứu Thế giáng trần, nên không để cho Hêrôđê có thể hãm hại Ngài. Điều đó đúng, vì thuộc chương trình cứu độ Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tuy nhiên, điều chúng ta đọc được qua sự kiện trên chính là học cách xử sự của các nhà đạo sĩ với Hài Nhi Giêsu. Trước hết muốn gặp được Đức Giêsu cần phải có tâm hồn ngay lành và sẵn sàng muốn gặp Chúa. Thứ đến phải can đảm vượt các khó khăn trên đường tìm kiếm Chúa. Và trên đường tìm Chúa, rất cần phải tỉnh thức để có thể lắng nghe tiếng Chúa muốn ta làm gì, bởi quanh ta tràn đầy những nguy hiểm và bóng tối dầy đặc của tội lỗi và Satan. Sau cùng, khi gặp được Chúa, phải mở lòng ra đón lấy Ngài. Ngài có thể hiện thân trong hình trẻ sơ sinh nghèo nàn, trong thân phận những người nghèo khó, cô đơn, đau khổ, vô gia cư, không chút tiếng tăm, hoặc trong những kẻ bị xã hội ruồng bỏ, kết án là tội nhân, rác rưởi; Ngài có thể hiện thân trong những kẻ rất gần ta nhưng thường bị ta quên lãng, làm ngơ hay cư xử thậm tệ. Đức Kitô đã sinh ra trong hoàn cảnh mà người đời khó có thể nhận ra Ngài là Vua trời đất, nhưng từ khi sinh ra cho đến lúc lìa trần trên cây thập tự, Ngài đã tìm hiện thân bằng tình thương trong những loại người bị xã hội kết án ruồng bỏ, nói chung là tội nhân trước mắt họ, nhưng lại trở thành con cái Chúa trước lòng nhân hậu của Đấng Cứu Thế. Hiển Linh chính là ánh sáng tình thương của Đấng Cứu Thế soi chiếu toàn thể nhân loại sau Tin Mừng Giáng Sinh báo tin Đấng Mesia cho dân Do Thái. Hãy đi tìm Chúa với ý ngay lành và mở lòng ra cho Ngài như các đạo sĩ, ta sẽ thấy Ngài và đón nhận được Ngài. Ngài là vua tình thương và đường cứu rỗi duy nhất cho ta đó.

Lm. Raphael Xuân Nguyên