Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014


 

Tìm hiểu tại sao Tân Phúc-Âm-hoá 

Toàn thể Giáo hội hôm nay đang tập trung quan tâm đến Tân Phúc-Âm-hóa. Năm 2010 Đức Bênêđictô XVI lập Hội Đồng Tòa Thánh lo thúc đẩy việc Tân Phúc-Âm-hóa, đến năm 2012 ngài họp Thượng Hội đồng Giám mục thế giới khóa 13 bàn về đề tài “Tân Phúc-Âm-hóa để thông truyền Đức tin Kitô giáo”. Vì thế ta sẽ cố gắng tìm hiểu một lần đến nơi đến chốn, để cảm thông với Giáo hội và góp phần vào việc Tân Phúc-Âm-hóa. Ta sẽ tìm hiểu về ý nghĩa mỗi chữ rồi đến ý nghĩa các cụm từ.
1. Ý nghĩa mỗi chữ
Trong tập Bài giảng Chúa Nhật của Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn, tháng 2-2013, mục “Mỗi tháng một từ”, linh mục Huỳnh Trụ đã có bài viết nghiên cứu đầy đủ; ở đây chỉ tóm tắt những gì cốt yếu giúp ta hiểu thôi.
Nghĩa chữ “Tân”: Tân có 12 chữ Hán, nghĩa chính là: “mới”, thay đổi cho mới, những cái mới, những gì mới xuất hiện.
Nghĩa chữ “Phúc”: Phúc có 9 chữ Hán, nghĩa chính là: những sự tốt lành, điều may, những điều tốt đẹp trời đất ban để thỏa mãn nguyện vọng của con người.
Nghĩa chữ “Âm”: Âm có 11 chữ Hán, nghĩa chính là tiếng phát ra bởi vật thể bị chấn động, tin tức.
Nghĩa chữ “Hóa”: Hóa có 2 chữ Hán, nghĩa chính là dạy, giáo dục, thay đổi, biến chất. Nếu đặt sau danh từ hay tĩnh từ thì có nghĩa là chuyển biến trạng thái hay tính chất của vật, làm cho trở thành, biến thành, làm cho thấm nhuần.
Trong cụm từ Tân Phúc-Âm-hóa phải lưu ý phân biệt, nếu coi Tân là bổ nghĩa cho Phúc-Âm-hóa thì mới hiểu được là việc hay công cuộc Phúc-Âm-hóa được đổi mới, canh tân. Nếu coi Tân chỉ bổ nghĩa cho Phúc Âm mà thôi thì sẽ là Phúc Âm mới: ta nghĩ xem có Phúc Âm mới không, nếu có thì nó thế nào? Ta phải nắm vững ngay rằng không bao giờ có Phúc Âm mới, vì chỉ có một Phúc Âm duy nhất mà Đức Giêsu Kitô đem đến cho mọi người “Đức Giêsu Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi là một” (Dt,13,8). Ta sẽ tiếp tục tìm hiểu ý nghĩa các cụm từ.
2. Phúc Âm
Phúc Âm hay Tin Mừng là cụm từ dịch tiếng Hi Lạp euaggelion nghĩa là tin vui thắng trận. Thời trước đây quen gọi là Evan: đọc Evan, sách Evan. Sau mới dịch là Phúc Âm. Linh mục Phan Tấn Thành cho biết: “Hồi còn nhỏ cách đây 60 năm khi đi lễ Chúa Nhật tôi được nghe đọc sách Evan. Khi đi tu cách đây 55 năm tôi được nghe đọc sách Phúc Âm”. Từ thập niêm 60, chữ Phúc Âm được phổ biến khắp Việt Nam: sách Phúc Âm, rao giảng Phúc Âm, các lời khuyên Phúc Âm. Sang thập niên 90, thấy từ Tin Mừng dần dần xuất hiện trong Thánh đường, rồi trong sách vở (xem Hiệp Thông số 73 tháng 11 & 12). Có người đoán rằng Phúc Âm là tiếng Hán, được dùng từ thời các cố, các cụ già xưa, người bình dân sau này khó hiểu; còn Tin Mừng là tiếng Nôm, tiếng Việt dễ hiểu, gần với tin lành, tin vui, như tin trúng số, tin thi đậu... Tuy nhiên, theo linh mục Huỳnh Trụ thì Tin Mừng chỉ có nội dung đơn giản (tin chiến thắng, tin vui, tin lành) còn Phúc Âm thì có nội dung rất phong phú, sâu sắc, bao hàm nhiều điều tốt đẹp may mắn trời đất cho, để con người được thỏa mãn mơ ước của mình, lại gần với triết lý và văn hóa Đông Phương, có Ngũ Phúc hay Phúc Lộc Thọ, nhất là có thể hội nhập với giáo lý Kitô giáo. Từ Phúc Âm có nghĩa tuyệt vời như vậy, tại sao lại thích từ mới là Tin Mừng, chỉ gợi ra ý nghĩa hạn hẹp nghèo nàn. Vì thế trong bài này tôi sẽ dùng Phúc Âm thay Tin Mừng, mặc dầu rất nhiều tài liệu vẫn dùng cả Phúc Âm và Tin Mừng lẫn lộn (nhưng không thấy dùng “những lời khuyên Tin Mừng” và cũng không thấy dùng “Tân Tin Mừng hóa”). Bây giờ ta tìm hiểu ý nghĩa cụm từ Phúc Âm. Cụm từ Phúc Âm bao hàm một nội dung rất gần gũi với đức tin Kitô giáo, có thể hiểu cụm từ này theo 3 nghĩa:
Phúc Âm của Đức Kitô (có từ đầu thế kỷ I)
Phúc Âm về Đức Giêsu Kitô (có từ giữa thế kỷ I)
Phúc Âm là sách ghi chép về cuộc đời và giáo huấn của Đức Giêsu Kitô (có từ thế kỷ II)
2.1 Phúc Âm của Đức Kitô: là tin đem lại hạnh phúc do chính Đức Giêsu Kitô là Con Đức Chúa Cha được cử đến trần gian, để báo cho mọi người biết rằng: Thiên Chúa Ba Ngôi vì tình yêu đã sáng tạo vũ trụ và con người, chia sẻ hạnh phúc cho con người. Nhưng con người nghe ma quỷ cám dỗ không muốn vâng phục Thiên Chúa rồi sa ngã trong tội lỗi, đau khổ triền miên. Thiên Chúa vẫn thương, đã cử Đức Giêsu Kitô đến trần gian, không những để báo tin Thiên Chúa sẽ cứu rỗi, và còn trao cho Đức Giêsu Kitô sứ vụ cứu rỗi bằng hiến mạng sống cứu chuộc tội lỗi loài người, để quy tụ tất cả mọi vật mọi người về hưởng hạnh phúc trong nước Thiên Chúa (Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 516-518). Như thế nội dung của Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô là: Thiên Chúa yêu thương con người đã cứu rỗi và cứu chuộc con người. Và lịch sử Giáo hội là lịch sử việc Đức Giêsu Kitô loan báo Phúc Âm và thiết lập Nước Thiên Chúa ở trần gian, đem lại hạnh phúc thật cho con người. Muốn hiểu đúng và sâu nội dung này ta cần tìm hiểu hai từ then chốt là cứu rỗi và cứu chuộc.
Cứu rỗi và cứu chuộc đều là chữ Nôm, tiếng của nhà đạo, các tôn giáo khác như Khổng, Phật, Lão giáo không dùng. Cứu rỗi là kéo ra khỏi sự dữ, sự hư mất do tội lỗi, và phục hồi sự toàn vẹn. Cứu chuộc là giải thoát bằng chuộc lại, tìm cách lấy lại cái mình đã làm mất, hoặc đền bù để khỏi bị phạt. Cứu rỗi có nghĩa chung là cứu vớt linh hồn, còn cứu chuộc là cứu rỗi bao gồm việc phải trả giá. Vì thế Thiên Chúa và Đức Giêsu Kitô cứu rỗi, nhưng chỉ mình Đức Giêsu Kitô cứu chuộc. Hai từ này có nghĩa sâu sắc diễn tả đầy đủ rõ ràng công trình cứu rỗi của Thiên Chúa.Thế mà gần đây có nhiều người coi cứu rỗi cứu chuộc là tiếng nôm cổ, do các cố các cụ đặt ra, và thay bằng cứu độ, lấy cớ là tiếng mới, ngắn gọn, nhiều người dùng. Thực ra, theo linh mục Huỳnh Trụ, cứu độ là từ Hán Việt, bên Phật Giáo thường dùng, có nghĩa là cứu giúp như đưa qua từ bờ mê sang bờ ngộ, không bao hàm trọn vẹn ý nghĩa cứu rỗi và cứu chuộc mà chỉ có Thiên Chúa mới làm được. Vì thế không nên chọn cái tưởng là mới là hay mà chỉ có ý nghĩa hạn hẹp chung chung, để bỏ hai từ then chốt trong Kitô giáo (xem Tìm hiểu từ vựng Công giáo của linh mục Huỳnh Trụ).
2.2 Phúc Âm về Đức Giêsu Kitô, là lời rao giảng của các tông đồ và môn đệ về Đức Giêsu Kitô và ơn cứu rỗi cứu chuộc do Người mang đến, nghĩa là bao gồm Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô như vừa kể ở trên đồng thời cả cuộc đời Đức Giêsu Kitô từ khi giáng sinh, sống ở Nadarét, đi giảng Phúc Âm, chịu tử hình thập giá, sống lại và về trời, sống với Chúa Cha, với Chúa Thánh Thần và với mọi người.
2.3 Phúc Âm là những sách ghi chép lại cuộc đời và giáo huấn của Đức Giêsu Kitô. Ta biết việc Đức Giêsu Kitô sống trên trần gian không có ai ghi chép lại, nhưng các tông đồ và các môn đệ sống chung với Người đã ghi nhớ tất cả và loan báo truyền thông cho mọi người. Khi các ngài về già, một số môn đệ đã thu thập những gì được truyền miệng để ghi chép lại thành sách, truyền miệng bằng tiếng Aram và Hi Lạp, còn sách thì trước hết là sách Phúc Âm theo Thánh Maccô, rồi đến Phúc Âm theo Thánh Matthêu, Phúc Âm theo Thánh Luca, sau hết là Phúc Âm theo Thánh Gioan, viết bằng tiếng Hi Lạp.
Tóm lại Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô và các sách Phúc Âm làm thành nền tảng duy nhất không thể thay đổi để Giáo hội loan báo cho mọi người khắp thế giới cho đến khi Đức Giêsu Kitô lại đến, bởi vì Đức Giêsu Kitô vừa là Phúc Âm vừa là người loan báo Phúc Âm của Thiên Chúa vốn đã được loan báo trong lịch sử Israel qua các ngôn sứ, và được hứa trong Kinh Thánh, Đức Giêsu Kitô là tâm điểm của Phúc Âm, là người đầu tiên và vĩ đại nhất của việc Phúc-Âm-hóa: Phúc Âm của Người và chính Người là một.
3. Phúc-Âm-hóa
Phúc-Âm-hóa là cụm từ dịch tiếng La tinh (evangelisatio), xuất hiện từ thế kỷ XIX bên Âu Châu, được Công đồng Vatican II sử dụng, với ý nghĩa là loan báo, truyền giảng, đem Phúc Âm đến cho tất cả mọi tầng lớp nhân loại, để nhờ ảnh hưởng của Phúc Âm biến đổi nhân loại từ bên trong, và làm cho nhân loại nên mới (xem Tông huấn Loan Báo Phúc Âm của Đức Phaolô VI). Nói cách khác, đó là hoạt động đem các giá trị Phúc Âm thấm nhuần vào các thực tại trần thế như men trong bột, để biến đổi mọi sự cho phù hợp với tinh thần Phúc Âm. Nếu đến thế kỷ XIX mới dùng cụm từ này với ý nghĩa vừa kể, thì từ thời Đức Giêsu Kitô và các tông đồ cho đến thế kỷ XIX có Phúc-Âm-hóa không? Chắc chắn là có, và Đức Giêsu Kitô cũng như các tông đồ đã Phúc-Âm-hóa một cách tuyệt vời, chỉ chưa được gọi bằng cụm từ Phúc-Âm-hóa mà thôi. Hơn nữa việc Phúc-Âm-hóa của Đức Giêsu Kitô và các tông đồ còn là nền tảng, là mẫu mực cho mọi cuộc Phúc-Âm-hóa của Giáo hội cho đến ngày Đức Giêsu Kitô lại đến. Ta cần nắm vững việc Phúc-Âm-hóa này để có thể hiểu một cách dễ dàng tại sao lại phải Tân Phúc-Âm-hóa ngày nay.
3.1 Việc Phúc-Âm-hóa của Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu Kitô đã Phúc-Âm-hóa bằng cách nào, cho ai, ở đâu và kết quả ra sao?
a/ Phúc-Âm-hóa bằng dùng ngôn ngữ bình dân (tiếng Aram), dễ hiểu, với các dụ ngôn rút ra từ các chuyện trong đời thường, vừa đơn sơ dễ hiểu, vừa thâm thúy sâu sắc, để loan báo Phúc Âm cho mọi người.
b/ Phúc-Âm-hóa bằng toàn bộ đời sống của Người (từ khi sinh ra đến khi chịu chết, sống lại, về trời) đối với Thiên Chúa và mọi người:
Với Thiên Chúa: người luôn hiệp thông trong vâng phục hoàn toàn ý Chúa Cha, luôn liên hợp với Chúa Thánh Thần để cùng hoạt động cho Phúc Âm. Chính sự liên hợp với Chúa Thánh Thần tạo nên cái mà nhà thần học Paul Tihon gọi là năng động của Phúc Âm. Năng động là sức mạnh sống động có khả năng tác động tích cực làm biến đổi thế giới chung quanh. Năng động của Phúc Âm là sức mạnh sống động của Đức Giêsu Kitô liên hợp với Chúa Thánh Thần, giống như ánh sáng, muối men có khả năng biến đổi, nhân văn hóa và siêu nhiên hóa cả cá nhân lẫn xã hội (xem Paul Tihon, Pour libérer L’Evangile, trang 106).
Với mọi người: Chính nhờ năng động của Phúc Âm mà Đức Giêsu Kitô đi bước trước đến với mọi người, ưu tiên cho người nghèo, bệnh tật, đau khổ, bị gạt ra bên lề xã hội, để cảm thông, chia sẻ, chữa lành, phục vụ họ. Đức Giêsu Kitô sống hiền lành, khiêm nhường, khó nghèo, không kỳ thị ai. Người còn tín nhiệm chọn gọi một số người làm tông đồ, lập thành Giáo hội của Người để cộng tác như bạn hữu của Người. Cuối cùng Người hiến thân chịu chết trên thập giá như hiến tế cứu chuộc toàn thể nhân loại.
c/ Đức Giêsu Kitô đã Phúc-Âm-hóa người Do Thái là dân riêng của Thiên Chúa trước hết, nhưng cũng muốn Phúc-Âm-hóa tất cả mọi người mà Người gặp trên đất Palestin, những người có thiện cảm cũng như những người chống đối và thù nghịch.
d/ Kết quả việc Phúc-Âm-hóa của Người là biến đổi nhiều người thành tông đồ, thành môn đệ trong Giáo hội Người, tin theo Người và Phúc Âm của Người, sống theo lối sống của Người với Thiên Chúa với mọi người, sẵn sàng sống chết để làm chứng về Người, và tiếp nối sứ vụ Người trao cho. Nhưng quan trọng và cao quý hơn hết là Đức Giêsu Kitô làm vinh danh Chúa Cha, cứu chuộc mọi người mọi vật sinh ra trên trần, từ khởi thủy cho đến tận thế. Việc Phúc-Âm-hóa của Người đã được ghi chép trong các sách Phúc Âm.
3.2 Việc Phúc-Âm-hóa của các tông đồ và môn đệ đầu tiên. Nhận huấn lệnh đi khắp thế giới để Phúc-Âm-hóa, các ngài Phúc-Âm-hóa thế nào, cho ai, ở đâu và kết quả thế nào?
a/ Các ngài Phúc-Âm-hóa bằng loan báo Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô cùng với Phúc Âm về Đức Giêsu Kitô nghĩa là gồm cả cuộc đời của Đức Giêsu Kitô trên trần gian. Phúc-Âm-hóa bằng can đảm mạnh dạn đi loan bao Phúc Âm cho muôn dân, biến đổi họ thành môn đệ Đức Giêsu Kitô. Nhờ năng động do Thánh Thần của Đức Giêsu Kitô ban cho, các ngài tìm lời lẽ thích hợp với dân chúng để họ dễ hiểu, hội nhập Phúc Âm vào văn hóa của họ như diễn từ của Thánh Phaolô ở Athen (Cv 17,22-32 ). Lúc đầu dùng tiếng Aram, về sau ghi chép lời giảng thành sách Phúc Âm, rồi còn ghi chép công việc Phúc-Âm-hóa của các ngài trong sách Công vụ các tông đồ và trong các thư gửi các giáo đoàn.
b) Phúc-Âm-hóa bằng chính đời sống noi gương Đức Giêsu Kitô để - sống với Thiên Chúa, cùng nhau chuyên cần cầu nguyện, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, ca tụng Thiên Chúa (Cv 2, 42.47) - sống với mọi người theo lối sống của Đức Giêsu Kitô, hòa nhập với mọi người, luôn hiệp thông với nhau, để của chung rồi chia sẻ cho nhau tùy theo nhu cầu (Cv 2,42-44 ) với thái độ hiền lành, khiêm tốn, khó nghèo “sống như Chúa Kitô sống trong mình” (Gl 2,20). Đến cuối đời hầu hết các ngài đã tử vì đạo để làm chứng cho Phúc Âm và trở thành hạt giống trổ sinh các Kitô hữu.
c) Phúc-Âm-hóa người Do Tháicả những người không phải Do Thái như Hi Lạp, Rôma hay các dân tộc khác ở đất Palestin. Các ngài tuyên xưng đức tin trước giáo quyền Do Thái, dù bị cấm cách bách hại, và cũng làm chứng về Phúc Âm cho cả các nhà cầm quyền Rôma dù bị cầm tù và phải tử vì đạo.
d) Kết quả việc Phúc-Âm-hóa của các ngài là biến đổi được nhiều người trở thành Kitô hữu (bạn của Đức Giêsu Kitô) khiến cộng đoàn ở Giêrusalem mỗi ngày một đông. Khi bị cấm cách, các ngài di tản đến các vùng chung quanh rồi lan tràn khắp đế quốc Rôma để lập nên rất nhiều cộng đoàn Kitô hữu. Mặc dù việc Phúc-Âm-hóa của các ngài bị giáo quyền Do Thái và nhà cầm quyền Rôma cấm đoán bách hại, nhưng chính nhờ thế mà Phúc Âm được loan báo khắp đế quốc Rôma. Việc Phúc-Âm-hóa này được ghi chép trong sách Công vụ các tông đồ, trong các thư gửi các giáo đoàn và trong sách Khải huyền. Tất cả cùng với 4 sách Phúc Âm làm thành sách Tân ước, được viết bằng tiếng Hi Lạp, để mọi người đã được nghe còn có thể đọc nữa.
3.3 Việc Phúc-Âm-hóa của Giáo hội. Đức Giêsu Kitô khi ở trần gian đã Phúc-Âm-hóa trong 33 năm, sau đó các tông đồ và môn đệ tiếp tục sứ vụ của Người để Phúc-Âm-hóa đến hết thế kỷ I. Từ thế kỷ II Giáo hội Phúc-Âm-hóa cho đến ngày nay trong suốt 20 thế kỷ, thời gian vừa dài vừa đầy những biến chuyển mới lạ, cần chia làm nhìều thời kỳ để tìm hiểu thấu đáo hơn.
Xin chia ra 3 thời kỳ:
– Thời kỳ 1 từ thế kỷ II đến thế kỷ V
– Thời kỳ 2 từ thế kỷ V đến thế kỷ XV
– Thời kỳ 3 từ thế kỷ XV đến nay
- Thời kỳ 1, từ thế kỷ II đến thế kỷ V
Những ai chủ động trong việc Phúc-Âm-hóa, Phúc-Âm-hóa bằng cách nào, cho ai, ở đâu và kết quả như thế nào?
a/ Giáo Hội loan báo Phúc Âm do sáng kiến của các cá nhân là môn đệ của các tông đồ đã được Phúc-Âm-hóa và lãnh nhận năng động của Phúc Âm, để tiếp tục loan báo Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô cùng với Phúc Âm về Đức Giêsu Kitô như các tông đồ đã làm. Phúc Âm này được ghi chép thành sách (thế kỷ II) là sách Tân Ước bằng tiếng Hi Lạp. Đến thế kỷ thứ IV, thánh Hiêrônymô lại dịch sang tiếng Latinh để Kitô hữu Rôma có thể dùng. Giáo hội còn tóm lược giáo lý trong Kinh Tin Kính, Lạy Cha, và trong các bí tích Rửa tội, Thêm sức, Thánh Thể. Giáo hội tiếp xúc với mọi người tùy theo hoàn cảnh sinh sống và nghề nghiệp. Đến thế kỷ thứ IV khi Giáo hội được tự do hoạt động thì các mục tử tổ chức các khóa dự tòng, dạy giáo lý cho người xin vào đạo để khai tâm cho họ.
b/ Giáo hội Phúc-Âm-hóa bằng đời sống noi gương Đức Giêsu Kitô và các tông đồ, để: - đối với Chúa vẫn giữ truyền thống các tông đồ, là chuyên cần cầu nguyện, suy gẫm Phúc Âm, lãnh các bí tích, - đối với nhau và với mọi người là luôn hiệp thông trong tình huynh đệ, chia sẻ cho nhau trong các cuộc lạc quyên, cứu trợ (xem 2 Cr 8, 1-9,15), sống hiền lành, khiêm tốn, khó nghèo và sẵn sàng làm chứng cho Phúc Âm bằng tử đạo như các Kitô hữu đi trước.
c/ Giáo hội Phúc-Âm-hóa những người sống chung quanh cộng đồng mình, người buôn bán hoặc làm nghề với mình, cả những nô lệ hoặc địa chủ và công chức của đế quốc Rôma. Nhưng Giáo hội bắt đầu gặp các tà giáo gây chia rẽ (xem sách Khải huyền đoạn 12 và 13).
d/ Kết quả: Giáo hội có sách Phúc Âm bằng tiếng Hi Lạp cho người Hi Lạp, bằng tiếng La tinh cho người Rôma để học Phúc Âm thường xuyên hơn, Giáo hội biết hội nhập Phúc Âm vào văn hóa Hi Lạp Rôma, tổ chức cộng đoàn có Đức Giáo Hoàng đầu tiên là Linô kế vị thánh Phêrô, các giám mục, linh mục, phó tế hướng dẫn các Kitô hữu, có cơ chế để cử hành phụng vụ Thánh Thể. Nhất là Giáo hội có các giám mục gương mẫu về thánh thiện và khôn ngoan, gọi là các giáo phụ, dạy dỗ về Kinh Thánh, giáo lý, bảo vệ đức tin chống các bè rối mới nổi lên, như Thánh Giustinô, Irênê, Augustinô… các ngài là những nhà thần học đầu tiên. Điều đáng ghi nhớ là Giáo hội vẫn đang sống như “Giáo hội hầm trú” vì trung thành với Phúc Âm, và đã có cả trăm ngàn Kitô hữu tử vì đạo. Kết quả độc đáo hơn cả là Giáo hội đã Phúc-Âm-hóa được hoàng đế Rôma là Constantinô, nên Giáo hội được tự do Phúc-Âm-hóa trên toàn đế quốc Rôma, về sau hoàng đế Rôma còn chọn Kitô giáo làm quốc giáo. Nhưng các bè rối nổi lên làm khó cho Giáo hội, đó là dấu hiệu cho thấy Phúc Âm bắt đầu bị bóp méo sai lệch.
- Thời kỳ 2, từ thế kỷ V đến thế kỷ XV
Các bè rối phát triển, Giáo hội phải họp Công đồng để giải quyết (Công đồng Nixê và Ephêxô). Không còn được tử đạo, Kitô hữu chuyển sang lý tưởng tu dòng (thánh Antôn tu rừng, thánh Bênêđictô). Các tu viện với các tu sĩ đã trở nên những trung tâm nuôi dưỡng tinh thần Phúc Âm và văn hóa trong các miền nông thôn. Trong khi đó nhiều quân mandi là di dân xâm chiếm đế quốc Rôma đang chia rẽ, cuối cùng đế quốc Rôma sụp đổ. Giáo hội đã Phúc-Âm-hóa trong thời kỳ này thế nào, bằng cách nào, cho ai, và kết quả thế nào?
a/ Giáo hội luôn đứng vững để Phúc-Âm-hóa xã hội, đang khi đế quốc Rôma sụp đổ dưới sức mạnh của quân mandi. Giáo hội nhờ các mục tử sáng suốt, nhất là nhờ các tu viện có các tu sĩ sinh sống, Giáo hội vẫn duy trì được truyền thống và năng động của Phúc Âm từ thời các tông đồ để củng cố đức tin cho những người đã theo đạo, lấy Phúc Âm để cảm hóa giáo dục và Phúc-Âm-hóa dân mandi, rồi còn mở rộng sang các nước Âu châu. Vì dân mandi không biết tiếng Hi Lạp Latinh, lại theo đạo tập thể nên không còn tổ chức các khóa dự tòng.
b/ Giáo hội Phúc-Âm-hóa bằng tổ chức đời sống với Chúa và với mọi người. Giáo hội quy định những việc làm cụ thể với Thiên Chúa như đọc kinh sáng trưa chiều (Kinh Truyền Tin), dự thánh lễ, ăn chay kiêng thịt, đi hành hương, rước kiệu, học thuộc kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính, kinh 10 điều răn ĐCT và 6 điều răn Hội thánh, kinh Tám mối Phúc thật, kinh Thương người có 14 mối. Với mọi người Giáo hội tổ chức làm việc từ thiện giúp cô nhi quả phụ, chia sẻ cứu trợ người nghèo, giáo dục binh lính biết trừ gian diệt bạo, giáo dục người dân biết buôn bán hay lao động theo lương tâm nghề nghiệp.
c/ Giáo hội Phúc-Âm-hóa mọi hạng người trong xã hội: các Kitô hữu đạo gốc, các dự tòng, tân tòng, đa số là dân mandi không biết chữ, các viên chức nhà nước, các người buôn bán và làm các nghề.
d/ Kết quả: Trong mấy thế kỷ đầu từ thế kỷ V đến thế kỷ XIII, Giáo hội còn giữ được truyền thống các tông đồ để Phúc-Âm-hóa, nhất là nhờ các tu viện và các tu sĩ có mặt khắp nơi, đã cảm hóa và biến đổi con người cũng như xã hội. Rồi khi Giáo hội tổ chức đời sống đối với Chúa, với nhau và với mọi người bằng thực hành những việc làm cụ thể, rất thích hợp với đa số là dân mandi thíếu học thức, thì việc Phúc-Âm-hóa phát triển rất mạnh đến nỗi sang thế kỷ XII và XIII cả Âu châu trở thành một Thế giới Kitô giáo. Tuy nhiên, sau khi Giáo hội hòa nhập với chế độ quân chủ phong kiến, giáo sĩ được nhà nước cho hưởng lộc tiền bạc đất đai để xây cất nhà thờ nhà xứ, nên sao nhãng việc Phúc-Âm-hóa; còn giáo dân không được giảng dạy giáo lý, lại không có chữ nghĩa để đọc Kinh Thánh và Phúc Âm. Đang khi đó ngoài xã hội, vào thế kỷ XV, phong trào Phục hưng các giá trị nhân văn nổi lên, đề cao tự do cá nhân, muốn tục hóa Giáo hội, dửng dưng với Thiên Chúa. Đó là dấu hiệu virus phong kiến đã phát triển mạnh, giáo sĩ và vua chúa tranh giành đất đai danh vọng, xã hội chia rẽ, khiến cho Thế giới Kitô giáo tan rã. Mặc dầu có hai vị Thánh là Phanxicô Atxidi và Đôminicô đã lập hai dòng lớn để đổi mới, nhưng ảnh hưởng có giới hạn. Sang thế kỷ XV và XVI giáo hoàng, giám mục, tu sĩ mải mê lo những chuyện trần thế, việc buôn thần bán thánh (ân xá) và gương xấu đã đạt mức kỷ lục… Có thể rút ra bài học lịch sử là: khi Xêda phục vụ Giáo hội thì thường gây nhiều nguy hại cho Giáo hội hơn là khi bách hại. Càng xa rời Phúc Âm của Đức Giêsu Kitô, Giáo hội càng suy sụp.
- Thời kỳ 3, từ thế kỷ XV đến nay
Thời kỳ này có rất nhiều biến cố và hoàn cảnh làm biến đổi cả Giáo hội lẫn xã hội. Xin tóm tắt:
– Năm 1520 linh mục Lutêrô cải cách Giáo hội đang suy sụp không đúng theo truyền thống các tông đồ, ly khai khỏi Giáo hội và lập Giáo hội Tin lành.
– Năm 1545 Giáo hội  họp Công đồng Trentô để Phúc-Âm-hóa lại nội bộ Giáo hội theo tinh thần Phúc Âm và truyền thống các tông đồ.
– Khi khám phá Mỹ châu, Phi châu, Á châu, Úc châu, Giáo hội sai các tu sĩ giáo sĩ đi truyền giáo cho họ (thế kỷ XV- XVI).
– Từ thế kỷ XVIII là thế kỷ Ánh sáng, thế giới Âu châu biến đổi mạnh theo hướng đã bắt đầu từ thời Phục hưng (thế kỷ XV): đề cao cá nhân, khoa học, lý trí, tự do, muốn thế tục hóa, muốn tách khỏi Kitô giáo và tách khỏi cả Thiên Chúa.
– Giáo hội đã cải cách đổi mới suốt 400 năm, từ Công đồng Trentô đến Công đồng Vatican II, nhưng thần học chưa theo kịp đà phát triển trí thức, khoa học, kỹ nghệ của thế giới. Mặc dù Công đồng Vatican II đã cập nhật hóa Giáo hội nhưng sau Công đồng gần 50 năm việc cập nhật hóa vẫn chưa thấm nhập vào Dân Thiên Chúa, chưa ảnh hưởng tích cực đến thế giới. Trước những hoàn cảnh biến đổi trên, Giáo hội đã Phúc-Âm-hóa thế nào, bằng cách nào, cho ai, ở đâu và kết quả ra sao?
a/ Linh mục Lutêrô đã cải cách Giáo hội vì nhận ra rằng Giáo hội đã sống xa rời Kinh Thánh, không quan tâm học và dạy giáo lý, nên dễ chạy theo thế tục. Vì thế ngài là người đầu tiên dịch Kinh Thánh ra tiếng địa phương, soạn sách giáo lý cho người lớn và trẻ em. Nhưng ngài đã đi trệch đường, không đúng với truyền thống các tông đồ. Còn Công đồng Trentô đã Phúc-Âm-hóa lại các giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân bằng quy định kỷ luật, soạn sách lễ, sách các giờ Kinh, sách các bí tích, sách giáo lý, giúp các cha xứ dạy giáo lý, nhưng không dịch Kinh Thánh (mãi tới Công đồng Vatican II mới có Kinh Thánh bằng tiếng địa phương). Khi khám phá các châu lục mới bên ngoài Âu châu, Giáo hội sai các tu sĩ các dòng Phanxicô, Đôminicô, dòng Tên… đến với họ để Phúc-Âm-hóa.
b/ Giáo hội không chỉ Phúc-Âm-hóa bằng loan báo Phúc Âm mà còn Phúc-Âm-hóa bằng chính đời sống với Chúa và với mọi người theo truyền thống các tông đồ. Giáo hội tổ chức cầu nguyện, lãnh các bí tích, sống hiền lành, khó nghèo, Giáo hội cũng hội nhập Phúc Âm vào xã hội Âu Châu, và vào cả các nước trên khắp thế giới.
c/ Giáo hội Phúc-Âm-hóa các Kitô hữu của mình, dân chúng sống ở khắp Âu châu, và còn lo Phúc-Âm-hóa cho nhiều dân tộc ở ngoài Âu châu, sống trong những vùng đất mênh mông trên khắp các lục địa mới khám phá. Đặc biệt sang thế kỷ XVIII trở đi, Giáo hội phải đối mặt với những người theo thế kỷ Ánh sáng, chủ trương tục hóa, chống lại Giáo hội. Thế kỷ gần đây khoa học, kỹ thuật còn phát triển mau chóng vượt bậc, và thế giới còn được toàn cầu hóa.
d/ Kết quả: Cuộc cải cách của linh mục Lutêrô đã trệch ra khỏi truyền thống của các tông đồ, kéo theo một nửa số Kitô hữu Âu châu (lúc đó khoảng 40 triệu) ly khai khỏi Giáo hội, lấy tên là Giáo hội Tin lành, gây chia rẽ trong Giáo hội cho tới ngày nay chưa hàn gắn được. Cuộc cải cách của Công đồng Trentô đã giúp Giáo hội hồi phục nếp sống theo Phúc Âm, và được duy trì suốt 400 năm cho tới Công đồng Vatican II. Khi các nhà truyền giáo được sai đến muôn dân ở các châu lục mới, các ngài đã đem đến nếp sống Kitô giáo theo văn hóa Âu châu để truyền lại cho các dân như Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam. Các dân này đã có sẵn một tôn giáo hoặc tín ngưỡng từ lâu đời, như Phật giáo, đạo ông bà… vì thế việc truyền giáo khó phát triển (đạo của Tây). Cho tới nay ở Á châu mới chỉ có 3% là Công giáo. Sang thế kỷ XVIII, thế kỷ Ánh sáng với phong trào đề cao tự do cá nhân, đề cao lý trí và khoa học,việc tục hóa càng mạnh, nhiều Kitô hữu đã tách rời khỏi Giáo hội và cả Thiên Chúa nữa. Còn Giáo hội chưa kịp phát triển thần học để Phúc-Âm-hóa các hoàn cảnh và tình huống mới đó. Nên từ việc Giáo hội kết án nhà khoa học Galilê là lạc đạo khi ông quả quyết trái đất xoay quanh mặt trời (1633), (mãi đến thời Đức Gioan Phaolô II năm 1992 mới phục hồi danh dự cho ông), cho đến việc Giáo hội không ngăn cản được 2 nước theo Kitô giáo làm cách mạng: Pháp (1789) và Nga (1917); và cũng không ngăn cản được nhiều nước theo Kitô giáo gây ra hai cuộc thế chiến 1914 – 1918 và 1939 – 1945, giết chết cả 70 triệu người. Sau 2 thế chiến cỏn tiếp tục có chiến tranh lạnh giữa 2 khối tự do và cộng sản. Uy tín Giáo hội với thế giới giảm sút, nhiều Kitô hữu rời bỏ Kitô giáo hoặc theo các giáo phái khác. Mặc dù Công đồng Vatican II (1965) giúp Giáo hội cập nhật với thế giới, tuy nhiên gần 50 năm sau Công đồng, việc cập nhật hóa tiến triển chậm chạp. Dịp Năm Thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II nhìn nhận rằng việc Phúc-Âm-hóa vẫn còn ở giai đoạn đầu, và kêu gọi toàn Giáo hội phải khẩn cấp Tân Phúc-Âm-hóa. Từ thế kỷ XX cho tới nay, thế giới còn phát triển khoa học và kỹ nghệ hạt nhân, được ứng dụng vào y tế (máy hiển vi điện tử), giao thông (máy bay siêu thanh), truyền thông (vi tính, điện thoại di động …), và thế giới đang được toàn cầu hóa nữa.
4. Tân Phúc Âm Hóa
Qua ba số 1, 2, 3 ta đã hiểu Phúc-Âm-hóa là gì, rồi xem kết quả việc Phúc-Âm-hóa từng thời kỳ ta cũng dễ dàng nhận ra tại sao ngày nay phải Tân Phúc-Âm-hóa. Đức Giêsu Kitô đã dạy ta một nguyên tắc để phán đoán là “cứ xem quả thì biết cây” (Mt 12, 33). Cây không còn sinh hoa trái tốt là cây có vấn đề. Ta cũng biết tâm điểm của Phúc-Âm-hóa là gặp gỡ chính Đức Giêsu Kitô để Phúc Âm của Người biến đổi con người thành con người được Phúc-Âm-hóa. Có được Phúc-Âm-hóa rồi, ta mới có thể Phúc-Âm-hóa người khác. Đức Giêsu Kitô và Phúc Âm của Người thì không biến đổi bao giờ: “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13, 8); nhưng thế giới và con người sống trong thế giới thì luôn đổi thay. Do đó Tân Phúc-Âm-hóa không phải là loan báo một Phúc Âm mới mà là Phúc-Âm-hóa một cách mới mẻ, nói cho cụ thể là phải đổi mới người Phúc-Âm-hóa để họ có một nhiệt tình mới, để họ biết dùng những phương pháp mới, để họ có thể trình bày Phúc Âm một cách mới mẻ phù hợp với con người của thời đại hôm nay. Người của thời đại hôm nay tin vào kinh nghiệm và việc làm hơn là lý thuyết lý luận, họ là người duy vật nên nhạy cảm với những gì họ thấy được, đụng chạm sờ mó được. Đức Giêsu Kitô và năng động của Phúc Âm luôn ở cùng Giáo hội cho đến ngày tận thế, giúp Giáo hội Tân Phúc-Âm-hóa, Giáo hội luôn luôn phải cải cách (Ecclesia semper reformanda), mà Giáo hội là các Kitô hữu. Vậy Kitô hữu muốn Tân Phúc-Âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo thì chính Kitô hữu phải được Tân Phúc-Âm-hóa trước hết, có thế mới hòng Phúc-Âm-hóa con người và thế giới được.
Để kết
Chuyện kể là một triết gia Ấn độ đã nhìn lại quãng đời của mình như sau: Lúc còn trẻ tôi là một người có đầu óc cách mạng. Lời cầu nguyện duy nhất của tôi dâng lên Thượng Đế là: “Lạy Chúa, xin ban cho con nghị lực để thay đổi thế giới”. Đến tuổi trung niên, tôi mới nhận thấy rằng nửa đời tôi đã qua đi mà tôi chưa thay đổi được một người nào. Lúc đó, tôi mới cầu nguyện với Thượng Đế: “Lạy Chúa xin ban cho con được ơn biến đổi tất cả những người con gặp gỡ hằng ngày, nhất là gia đình con, bạn bè con. Và như vậy là đủ cho con mãn nguyện rồi”. Nhưng giờ đây, tóc đã bạc, răng đã long, ngày tháng còn lại chỉ đếm trên đầu ngón tay, tôi mới nhận thức rằng tôi đã khờ dại biết chừng nào. Giờ này, tôi chỉ biết cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa, xin ban cho con được ơn thay đổi chính con”. Nếu tôi biết cầu nguyện như thế này ngay từ lúc đầu thì tôi đã không phí phạm quãng đời đã qua.
Khoảng 600 năm trước Đức Giêsu Kitô, Đức Khổng tử đã dạy các đệ tử của ngài phải tu thân thì mới tề gia được, có tề gia thì mới trị quốc được… Đức Giêsu Kitô đã tự nguyện xuống thế làm người cách đây khoảng 2000 năm để Phúc-Âm-hóa loài người và thế giới bằng chu toàn ba sứ vụ là: tư tế, ngôn sứ, vương giả. Tư tế là người hiến thân chuộc tội và cầu thay nguyện giúp cho đời; ngôn sứ là người loan báo cho đời biết Thiên Chúa cũng như biết mình, và tố cáo mọi tội ác bất công; vương giả là người làm tôi tớ phục vụ cho hạnh phúc mọi người như Người dạy (x. Mt 20, 26-28). Kitô hữu là bạn hữu của Đức Giêsu Kitô, dù là ai cũng phải Phúc-Âm-hóa mình sao cho giáo hoàng ra giáo hoàng, giám mục ra giám mục, linh mục ra linh mục, tu sĩ ra tu sĩ, giáo dân ra giáo dân, để tự nguyện chu toàn ba sứ vụ cho tốt. Nếu chỉ là tư tế biết đọc kinh xem lễ theo đúng “chữ đỏ” mà không hiệp thông với Đức Giêsu Kitô hiến mình cho Thiên Chúa và mọi người; nếu chỉ là ngôn sứ giảng thuyết rất hùng hồn mà không loan báo Phúc Âm và không dám tố cáo tội ác bất công; nếu chỉ là vương giả để sống như ông vua độc tài quan liêu, xa hoa, hưởng thụ, vô cảm với người nghèo khổ bệnh tật bị áp bức… thì phải cầu xin Thiên Chúa đổi thay chính mình trước. Thánh Gioan tông đồ trong sách Khải huyền đã khuyên Kitô hữu mua thuốc đau mắt để nhỏ mắt cho thấy được (Kh 3, 13). Nhà văn Anh có tinh thần công giáo ngày nay đã viết một câu rất ngắn gọn sâu sắc: Bác ái phải bắt đầu từ bản thân, từ nhà mình trước (charity begins at home). Vì thế dù bây giờ còn trẻ, đã lớn, hay đã già, không bao giờ tu thân là muộn. Người Anh có câu châm ngôn rất hay là “muộn còn hơn không” (better late than never).
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Tân Phúc-Âm-hóa có phải là làm cho Phúc Âm biến đổi thành Phúc Âm mới không? Tại sao? Nếu không phải thì là đổi mới cái gì?
2. Những nguyên nhân chính nào khiến giáo hội phải khẩn cấp Tân Phúc-Âm-hóa?
3. Bạn có thể làm gì để giúp gia đình bạn tham gia việc Tân Phúc-Âm-hóa?.
4. Bạn có thể làm gì để giúp các giáo dân trong giáo xứ bạn tham gia việc Tân Phúc-Âm-hóa?
5. Bạn hãy cắt nghĩa vắn tắt: sứ vụ Tư Tế, sứ vụ Ngôn Sứ, và sứ vụ Vương Giả là gì?
6. Đức Giêsu Kitô đã trao cho mỗi Kitô hữu ba sứ vụ kể trên, bản thân bạn đã làm gì để thi hành các sứ vụ đó nơi gia đình và giáo xứ bạn?
7. Bạn tìm hiểu xem Giáo hội đã Phúc-Âm-hóa thế nào mà cả Âu châu biến đổi thành thế giới Kitô giáo?
8. Bạn tìm hiểu xem tại sao thế giới Kitô giáo đã tan rã?
9. Bạn tìm hiểu xem việc Phúc-Âm-hóa các nước Á châu đã gặp phải những khó khăn nào khiến không được phát triển?
10. Bạn thấy từ thế kỷ XVIII đến nay thế giới đã đổi mới như thế nào về khoa học, kỹ thuật, giao thông, truyền thông… về toàn cầu hóa? Còn Giáo hội đã có biến đổi gì?
[Bài này được soạn nhằm giúp các đoàn thể
học hỏi về Tông huấn “Tân Phúc-Âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo” (2012)]
Chúa nhật Truyền Giáo 2013
Linh mục Antôn Nguyễn mạnh Đồng
Nhà Hưu dưỡng Linh mục Cần Thơ
Tài liệu tham khảo:
– Tông huấn “Tân Phúc Âm Hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”, thành Vatican, 2012
– Théo, Le Temps de Jésus, Droguet-Ardant/Fayard, 1989
 
Lm Antôn Nguyễn Mạnh Đồng

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013

Đức Thánh Cha bổ nhiệm Tân Giám mục phụ tá cho giáo phận Hưng Hóa và giáo phận Vinh


Hôm nay, 15-06-2013, Phòng Báo chí Tòa Thánh đã công bố thông tin về việc bổ nhiệm hai tân giám mục phụ tá cho giáo phận Hưng Hóa và giáo phận Vinh như sau:
Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm cha An-phong Nguyễn Hữu Long, thuộc Hội Linh mục Xuân Bích, Giám đốc Đại chủng viện Huế, làm giám mục phụ tá giáo phận Hưng Hóa (Việt Nam), hiệu tòa Gummi di Bizacena.
 
Cha An-phong Nguyễn Hữu Long sinh tại Hà Nội ngày 25-01-1953. Học tại Tiểu chủng viện Thánh Gioan Đà Nẵng từ năm 1965 đến 1972, sau đó học tại Đại chủng viện Hòa Bình từ năm 1972 đến 1978. Từ 1978 đến 1982 thi hành nghĩa vụ dân sự tại tỉnh Quảng Nam. Chịu chức linh mục ngày 29-12-1990 thuộc giáo phận Đà Nẵng và gia nhập Hội Linh mục Xuân Bích.
Sau khi chịu chức linh mục, cha đảm nhận các chức vụ:
1990–1994: phó xứ giáo xứ Tam Kỳ, giáo phận Ðà Nẵng;
1994–1998: học giáo luật tại Học viện Công giáo Paris, Pháp - tốt nghiệp cử nhân giáo luật;
1999–2001: chính xứ giáo xứ Hà Lam, giáo phận Ðà Nẵng;
2001–2003: chính xứ giáo xứ Trà Kiệu, giáo phận Ðà Nẵng;
2003–2011: linh hướng và giáo sư các môn giáo luật, giáo sử và huấn giáo tại Đại chủng viện Huế.
Từ năm 2011: Giám đốc Đại chủng viện Huế.
Đồng thời, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng bổ nhiệm cha Phêrô Nguyễn Văn Viên, Tổng đại diện giáo phận Vinh, làm giám mục phụ tá giáo phận Vinh (Việt Nam), hiệu tòa Megalopoli di Proconsolare.
Cha Phêrô Nguyễn Văn Viên sinh ngày 08-01-1965 tại Hướng Phương, tỉnh Quảng Bình, giáo phận Vinh.
Sau khi học xong tiểu học và trung học, theo học tại Đại học Huế, tốt nghiệp cử nhân kinh tế (1987-1992). Năm 1984 thi hành nghĩa vụ quân sự. Năm 1993 gia nhập Đại chủng viện Vinh Thanh, thụ phong linh mục ngày 03-10-1999 thuộc giáo phận Vinh.
Sau khi thụ phong linh mục, cha đảm nhận các chức vụ:
2000 ­– 2009: học tại Học viện Công giáo ở Sydney, Australia, tốt nghiệp tiến sĩ thần học, đồng thời trong thời gian này cũng làm việc mục vụ cho cộng đoàn Việt Nam tại Sydney.
Từ năm 2009: Phó Giám đốc kiêm giáo sư tín lý tại Đại chủng viện Vinh Thanh.
Từ năm 2010: Tổng đại diện giáo phận Vinh.
 
 
Huy Hoàng

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

Chúa Nhật 4 Mùa Chay - năm C

Chúa Nhật 4 Mùa Chay
Bài Đọc I: Giôsuê 5:9-12 II: 2Cr 5:17-21
4th Sunday of Lent
Reading I: Joshua 5:9-12 II: 2Cor 5:17-21
Gospel
Luke 15:1-3,11-32

1 Now the tax collectors and sinners were all drawing near to hear him.
2 And the Pharisees and the scribes murmured, saying, "This man receives sinners and eats with them."
3 So he told them this parable:
11 And he said, "There was a man who had two sons;
12 and the younger of them said to his father, 'Father, give me the share of property that falls to me.' And he divided his living between them.
13 Not many days later, the younger son gathered all he had and took his journey into a far country, and there he squandered his property in loose living.
14 And when he had spent everything, a great famine arose in that country, and he began to be in want.
15 So he went and joined himself to one of the citizens of that country, who sent him into his fields to feed swine.
16 And he would gladly have fed on the pods that the swine ate; and no one gave him anything.
17 But when he came to himself he said, 'How many of my father's hired servants have bread enough and to spare, but I perish here with hunger!
18 I will arise and go to my father, and I will say to him, "Father, I have sinned against heaven and before you;
19 I am no longer worthy to be called your son; treat me as one of your hired servants.”
20 And he arose and came to his father. But while he was yet at a distance, his father saw him and had compassion, and ran and embraced him and kissed him.
21 And the son said to him, 'Father, I have sinned against heaven and before you; I am no longer worthy to be called your son.'
22 But the father said to his servants, 'Bring quickly the best robe, and put it on him; and put a ring on his hand, and shoes on his feet;
23 and bring the fatted calf and kill it, and let us eat and make merry;
24 for this my son was dead, and is alive again; he was lost, and is found.' And they began to make merry.
25 "Now his elder son was in the field; and as he came and drew near to the house, he heard music and dancing.
26 And he called one of the servants and asked what this meant.
27 And he said to him, 'Your brother has come, and your father has killed the fatted calf, because he has received him safe and sound.'
28 But he was angry and refused to go in. His father came out and entreated him,
29 but he answered his father, 'Lo, these many years I have served you, and I never disobeyed your command; yet you never gave me a kid, that I might make merry with my friends.
30 But when this son of yours came, who has devoured your living with harlots, you killed for him the fatted calf!'
31 And he said to him, 'Son, you are always with me, and all that is mine is yours.
32 It was fitting to make merry and be glad, for this your brother was dead, and is alive; he was lost, and is found.”
Phúc Âm
Luca 15:1-3,11-32

1 Khi ấy, những người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng;
2 thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng".
3 Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này:
11 "Người kia có hai con trai.
12 Đứa em thưa với cha rằng: 'Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con'. Người cha liền chia gia tài cho các con.
13 Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả của mình, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ phung phí hết tiền của.
14 Khi nó tiêu hết tiền của thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó, và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu.
15 Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo.
16 Nó muốn ăn những đồ cặn bã heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho.
17 Bấy giờ nó hồi tâm lại và tự nhủ: 'Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói.
18 Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha,
19 con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha" '.
20 Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu.
21 Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa'.
22 Nhưng người cha bảo đầy tớ: 'Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu.
23 Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng:
24 vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất, nay lại tìm thấy'. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.
25 "Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa,
26 anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì.
27 Tên đầy tớ nói: 'Đó là em cậu đã trở về, và cha cậu đã giết bê béo, vì thấy cậu ấy về mạnh khỏe'.
28 Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào.
29 Nhưng anh trả lời: 'Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn.
30 Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đàng điếm, nay trở về thì cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó'.
31 Nhưng người cha bảo: 'Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con.
32 Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy'".
Interesting Details
  • This passage has been commonly referred to as "the prodigal son," or "the lost son." It was actually about both sons being lost in life. Both were treated very generously by the father; one took what he had and wasted it all, while the other was not even aware of how much he owned and thus not happy with the way the father treated him.
  • (v.2) This verse demonstrates the tendency of human beings to protect themselves by drawing a line between "righteous people" and "wrong people." However, we often create our own self-righteousness by making others wrong for what they did and rejecting them.
  • (v.11) Two sons: Provides a ground for comparison.
  • (v.12) The father just did, without question, what the younger son had asked of him; he had no judgment of what the son was trying to do.
  • (vv.13-16) A series of wrong actions, one leading to another. While Jews could not eat pork, joining the Gentiles to feed swine and eating their food were probably not the son's choices but rather the consequences of his earlier wrong decision for his own life.
  • (vv.17-18) "When he came to himself" means he was very present to how he had gotten himself to the current situation, thus he could clearly see the relationship with his father, as well as the generosity of this man. He instantly saw a solution.
  • (vv.20-24) The father apparently thought of nothing but the fact that the person off in the distance was his son. He had no judgment about what had happened and just wanted to welcome his son back to the full status of a son, which was symbolized by the robe, ring, and sandals.
  • (vv.28-31) The elder son blamed the father for mistreating him; he did not realize that he had an ownership of the estate and could treat himself any which way he wished.
Chi Tiết Hay
  • Đoạn Tin Mừng này thường được nhắc đến là dụ ngôn 'Người con hoang đàng' hay 'Người con bị lầm lạc'. Thật ra là nói về cả hai người con cùng lầm lạc trong cuộc sống. Cả hai đều được ưu đãi bởi người cha; người em đã lấy hết và phung phí không còn gì, trong khi người anh lại không biết là mình có rất nhiều nên đã không hài lòng với cách cư xử của cha.
  • (c.1) Câu này cho thấy con người có khuynh hướng tự vệ bằng ranh giới giữa 'người đúng' và 'người saí. Chúng ta thường tự cho mình là đúng, bằng cách bắt bẻ, kết tôị người khác qua việc làm của họ để rồi ghét bỏ, xa lánh họ.
  • (c.11) Hai người con: Mục đích để so sánh hai mẫu người khác nhau.
  • (c.12) Người cha làm theo sự yêu cầu của con và không thắc mắc; ông không xét đoán con cách vội vàng.
  • (cc.13-16) Một chuỗi hành động sai quấy, hành động này đưa tới hành động khác. Trong khi đạo Do Thái cấm ăn thịt heo, việc đi chăn heo và ăn đồ ăn của chúng, có lẽ không là sự lựa chọn của người con mà chỉ là hệ quả của việc anh tự quyết định cho cuộc đời của mình trước đây.
  • (cc.17-18) Người con đã thẳng thắn nhìn nhận thực tại của mình. Nhờ đó anh có thể sáng suốt thấy được sự hiện hữu của tình cha con, cũng như tấm lòng quảng đại của cha mình đối với cả những người tôi tớ. Anh chợt thấy một lối thoát.
  • (cc.20-24) Người cha không nghĩ gì ngoài việc biết là con mình từ đàng xa. Ông cũng không phán đoán gì về những gì đã xảy ra và muốn đón nhận lại người con với đầy đủ thế giá qua biểu hiệu của áo choàng, nhẫn, và giầy.
  • (cc.29-31) Người con trưởng trách cha đã đối xử bất công với mình; anh ta không biết rằng mình làm chủ cả cơ nghiệp và có thể tự xử theo ý mình.
One Main Point
Like the father in this parable, God has given each of us so much including the freedom to choose our own life, and He always knows us as His sons and daughters. When we have been on a wrong path and chosen to come back, He has no judgment of what we have done, and is always glad to take us back with love.
Một Điểm Chính
Như người cha trong dụ ngôn này, Thiên Chúa đã ban cho mỗi người chúng ta rất nhiều thứ kể cả tự do dể lưa chọn cuộc đời mình, và Người luôn nhớ chúng ta là con cái. Khi chúng ta lầm đường và biết quay về, Nguòi không phán đoán tội lỗi chúng ta đã phạm mà luôn vui mừng đón nhận chúng ta trong yêu thương.
Reflections
  • Seeing how the lost son found the way out for his own life, when facing an undesired situation how can I be present to my own mistake, so I can clearly see myself in my relationship with God and others? What am I to do, to put my life back to where it belongs so I no longer have to struggle?
  • The father in this parable took his son back as if nothing had been wrong with him. Can I think of many situations in which I made someone wrong for what he or she did and then refused my love for him or her?
  • Like the elder son, I might have judged and blamed others including God, as if they were responsible for how I feel about myself. How do I take ownership of, and become responsible for my life?
Suy Niệm
  • Để ý cách người con hoang đàng tự tìm ra lối thoát cho đời mình, tôi có thể thành thật nhìn nhận thực trạng của minh, để thấy thật rõ chính mình trong mối liên hệ với Thiên Chúa, và với mọi người? Tôi phải làm gì để cuộc đời của mình được đặt đúng chỗ, để tôi không còn thấy khổ sở nữa?
  • Người cha trong dụ ngôn này đã đón nhận nguòi con trở về như không có gì sai quấy nơi con mình. Tôi có thể nhớ lại nhiều trường hợp trong đó tôi đã phán đoán về người khác là sai quấy vì những việc làm của họ, để rồi từ chối không yêu thương họ nữa?
  • Giống như người anh trong dụ ngôn này, có thể tôi đã phán đoán và đổ lôĩ cho người khác và ngay cả Chúa, như thể họ có trách nhiệm đối với những điều tôi không hài lòng. Tôi ý thức ra sao về việc làm chủ và phải tự trách nhiệm cho cuộc dời của mình?

Mật nghị Hồng Y bầu Giáo Hoàng sẽ bắt đầu ngày 12-3-2013


VATICAN. Chiều ngày 8-3-2013, Hồng y đoàn đã bỏ phiếu quyết định bắt đầu mật nghị từ ngày thứ ba 12-3-2013 để bầu Giáo Hoàng mới.

Quyết định trên đây được các Hồng y thông qua trong phiên họp toàn thể thứ 9 từ lúc 17 đến 19 giờ chiều thứ sáu vừa qua.

Sáng ngày 12-3, sẽ có thánh lễ xin ơn Chúa Thánh Thần tại Đền thờ Thánh Phêrô để cầu cho việc bầu Giáo Hoàng, ban chiều các Hồng Y sẽ tiến vào Nhà Nguyện Sistina và bắt đầu cuộc bỏ phiếu.

115 Hồng y cử tri sẽ bốc thăm để nhận phòng tại Nhà Trọ Thánh Marta ở nội thành Vatican. Trong thời gian mật nghị, các HY không được tiếp xúc với bên ngoài bằng bất kỳ phương tiện nào, và cũng không được theo dõi tin tức qua báo chí hoặc các phương tiện truyền thông khác.

Ngôi nhà 5 tầng này cũng sẽ được bao phủ bằng hệ thống phá sóng để ngăn chặn việc sử dụng điện thoại di động.

Tất cả các chức sắc và nhân viên phục vụ tại Nhà Trọ thánh Marta, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đều phải tuyên thệ giữ bí mật về những gì liên quan đến việc bầu Giáo Hoàng. Trong số các nhân viên này có 2 bác sĩ, y tá, những người làm bếp và dọn bàn, vệ sinh, những người coi nhà thánh, chuyên viên kỹ thuật. Ngoài ra có vị Tổng thư ký Hồng y đoàn là Đức TGM Lorenzo Baldisseri, cũng là Tổng thư ký Bộ GM, và Đức Ông Guido Marini, Trưởng Ban nghi lễ phụng vụ của ĐGH.

Danh sách những chức sắc và nhân viên trên đây được ĐHY nhiếp chính Tarcisio Bertone và 3 HY Phụ tá phê chuẩn, chiếu theo Tông Hiến “Mục tử toàn thể đoàn chiên Chúa”. Sau khi đọc lời tuyên thệ giữ bí mật về mật nghị bầu Giáo Hoàng, đương sự phải ký tên vào bản tuyên thệ trước mặt ĐHY nhiếp chính và hai chức sắc về nghi lễ của Tòa Thánh.

Cách đây 8 năm, Hồng đoàn đã nhóm 12 phiên họp trước khi bắt đầu mật nghị Hồng Y bầu Giáo Hoàng. Phiên nhóm cuối cùng diễn ra ngày 16-4-2005 và mật nghị bầu cử bắt đầu sáng ngày 18-4-2005 với thánh lễ lúc 10 giờ sáng tại Đền thờ Thánh Phêrô để cầu xin ơn Chúa Thánh Thần. Ban chiều cùng ngày các Hồng y cử tri tề tựu tại Nhà nguyện Paolina trong dinh Tông Tòa và đi rước vào Nhà nguyện Sistina.

Đến chiều ngày 19-4-2005, ĐHY Joseph Ratzinger đắc cử và trở thành vị Giáo Hoàng thứ 265 trong lịch sử Giáo Hội.

G. Trần Đức Anh OP
Nguồn: vietvatican.net

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nhận định về một số tình hình tại Việt Nam hiện nay

Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nhận định: ''Luật đất đai hiện hành, vừa đi ngược tự nhiên, vừa không tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền''.

Việt Nam (HÐGM VN 15/05/2012) - Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nhận định về một số tình hình tại Việt Nam hiện nay:

Chủ trương đổi mới đã giúp Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy chung của nhân loại và đưa đất nước từ một nền kinh tế nghèo nàn đến một trong những nước có tăng trưởng kinh tế cao nhất châu Á. Tiến trình hội nhập được cụ thể hóa qua việc Việt Nam trở nên thành viên của khối ASEAN, tham gia APEC, gia nhập WTO. Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia, tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế và thu hút đầu tư của nhiều tập đoàn nước ngoài. Xã hội ngày càng trở nên năng động, sáng tạo và nhìn chung có vẻ giàu có hơn. Nhưng tình hình gần đây cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang mất định hướng, thiếu tính bền vững và nhân bản, vì đổi mới kinh tế không song hành đổi mới chính trị, cũng như tăng trưởng kinh tế không nối kết với phát triển xã hội và phát triển con người toàn diện.

Thư chung hậu Ðại hội Dân Chúa năm 2010 mời gọi tất cả các thành viên của Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam cố gắng nhận diện và phân định "hiện trạng xã hội Việt Nam dưới ánh sáng đức tin". Chính trong viễn tượng đó, Ủy ban Công lý và Hòa bình thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam muốn bày tỏ một vài thao thức, suy nghĩ và nhận định về tình hình Ðất nước, vừa với tư cách công dân, vừa với tư cách Kitô hữu.

1. Nền kinh tế Việt Nam

Sau gần hai thập niên đã tăng trưởng kinh tế cao, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp nhất, nhưng tình trạng mấy năm gần đây cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang bộc lộ những nguy cơ nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân và tương lai của đất nước. Biểu hiện rõ nhất là quản lý kinh tế yếu kém, các tập đoàn Nhà nước thua lỗ nặng, doanh nghiệp phá sản càng nhiều ngân hàng lãi càng lớn, lạm phát tăng cao, chênh lệch giàu nghèo nới rộng, chất lượng cuộc sống của đại đa số dân chúng giảm sút, nhiều người rơi trở lại tình trạng nghèo trước đây. Phải chăng mô hình kinh tế hiện tại đang làm giàu cho nhóm đặc lợi hơn là cho toàn dân?

Ðịnh hướng kinh tế lấy quốc doanh làm chủ đạo đã tạo ra độc quyền và lạm quyền, làm méo mó sự vận hành cần có của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước đóng góp ít vào tăng trưởng kinh tế nhưng lại nhận nhiều đặc quyền đặc lợi, gây bất công và kìm hãm sự phát triển của khối tư nhân. Nợ nước ngoài và thâm thủng mậu dịch đã và đang gia tăng khiến nền kinh tế bị suy yếu và lệ thuộc. Lạm phát gia tăng cũng làm tăng đói nghèo, gây khó khăn hơn cho cuộc sống của người dân và cả các doanh nghiệp. Ðình công tiếp tục tăng cao chứng tỏ quyền lợi của công nhân chưa được bảo vệ thỏa đáng. Một số chủ trương không hợp lòng dân mà vẫn được Nhà nước tiến hành như vụ khai thác bô-xit Tây Nguyên hoặc dự án xây nhà máy điện hạt nhân ở tỉnh Ninh Thuận.

2. Luật đất đai

Luật đất đai hiện hành, vừa đi ngược tự nhiên, vừa không tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Ðó là nguyên nhân của khoảng 80% các khiếu kiện trong nước. Các vụ khiếu kiện này đã đi từ khiếu nại cá nhân đến khiếu kiện tập thể; từ khiếu kiện bằng đơn từ đến tập họp phản đối và nay là dùng vũ khí chống lại việc thu hồi đất.

Luật đất đai qui định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng do Nhà nước quản lý đã làm cho hàng triệu người cảm thấy mất đất và chẳng có quyền tự do hành xử trên "mảnh đất ông bà tổ tiên". Trên thực tế, sở hữu toàn dân không phải là phương thức quản lý đất đai tốt nhất, còn việc Nhà nước làm chủ sở hữu đã phát sinh đặc quyền, đặc lợi của chính quyền các cấp trong việc quy hoạch và thu hồi đất cho các dự án, tước mất quyền căn bản của người dân.

Vấn đề gây bức xúc nhiều nhất trong việc thu hồi đất là giá đền bù. Muốn giải quyết tranh chấp về giá đền bù giữa người bị thu hồi đất và cơ quan chức năng hoặc các nhà đầu tư, thì phải làm sao để người bị thu hồi đất được đền bù ngang giá với tài sản của họ bị trưng dụng và cuộc sống của họ phải tốt đẹp ngang hay hơn trước khi bị trưng dụng. Vì giá đất tăng gấp bội sau khi quy hoạch, nên người bị thu hồi đất cần được chia phần sự chênh lệch giá cả này bằng nhiều cách khác nhau. Ðiều cần thiết là nên cấp tốc sửa đổi Luật đất đai để người dân được quyền sở hữu đất và hạn chế tối đa quyền thu hồi đất của các cấp chính quyền.

3. Môi trường xã hội

Xã hội Việt Nam đang bộc lộ nhiều hiện tượng rất đáng quan ngại. Nội bất nhất vẫn là hai tật xấu đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam cảnh báo từ năm 2008, đó là gian dối và bạo lực. Chúng không những phô bày nơi đường phố, trên thương trường và các phương tiện thông tin đại chúng, mà còn xâm nhập vào công sở và học đường. Dư luận đang bức xúc vì hiện tượng lạ lùng là tại một số nơi, cơ quan công quyền lại sử dụng bạo lực phi pháp để giải quyết các khiếu kiện dân sự.

Bên cạnh những tệ nạn đang tác hại xã hội Việt Nam hôm nay, nhiều người âu lo vì khuynh hướng sống hưởng thụ, chụp giựt, coi trọng đồng tiền, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Hiện tượng này chứng tỏ tình trạng thiếu vắng các giá trị đạo đức nền tảng làm chuẩn mực cho đời sống xã hội, vì vậy một số người đã cảnh báo về một xã hội lệch chuẩn hay phi chuẩn.

Tham nhũng đã được coi là đại họa của quốc gia, ngày càng tinh vi và nghiêm trọng hơn, nhưng cho đến nay chưa một vụ án nào xứng tầm được đưa ra xét xử để răn đe, làm giảm sút niềm tin của người dân nơi công quyền.

Các vụ khiếu kiện, chủ yếu liên quan đến đất đai, trong đó có đất tôn giáo, vẫn tiếp diễn phức tạp và ngày càng trầm trọng, gây bất an và căng thẳng xã hội. Vụ việc ở Tiên Lãng, Hải Phòng, và Văn Giang, Hưng Yên, gây xúc động mạnh mẽ trên tất cả những người Việt Nam có tâm huyết, buộc Nhà nước phải nhìn lại cách giải quyết vấn đề, mà cốt yếu là sửa đổi Luật đất đai về mặt hạn điền, thời hạn sử dụng đất và giá đền bù, nếu chưa đi đến chỗ nhìn nhận quyền tư hữu chính đáng của công dân.

Một yêu cầu cấp bách khác là cần thay đổi lề lối làm việc cửa quyền, không minh bạch và thiếu chuyên môn của cán bộ. Biểu hiện rõ rệt nhất ở sự áp đặt của Nhà nước về quan điểm và cách sống trong xã hội, đó là sự phân biệt đối xử trong chính sách công giữa các cá nhân làm việc cho Nhà nước với các doanh nhân và người lao động tự do, giữa người dân thành thị và người nhập cư ngoại tỉnh.

4. Lĩnh vực pháp luật

Hiến pháp và pháp luật của mỗi quốc gia phản ánh tính đặc thù và cá biệt theo truyền thống văn hóa dân tộc mình, nhưng cũng không vì thế mà bất chấp những chuẩn mực pháp lý quốc tế. Việt Nam có một hệ thống pháp luật đồ sộ, nhưng không hiệu quả từ lập pháp đến hành pháp, vì thiếu sự công khai, minh bạch, và nhất là thiếu sự độc lập về tư pháp.

Việc áp dụng luật pháp chưa nghiêm minh và tùy tiện, nhất là ở cấp địa phương, đã dẫn đến những oan sai và đôi khi đẩy người dân đến bước đường cùng. Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định các thủ tục bắt người; vậy mà trong một số trường hợp, vẫn có các công dân bị bắt sai trái với các quy định của bộ luật ấy, cũng như với các tuyên ngôn và công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Việc giam giữ người không qua xét xử được che đậy dưới từ ngữ "đưa vào cơ sở giáo dục" có thời hạn và áp dụng cho những người bày tỏ sự bất đồng chính kiến là một hình thức vi phạm quyền cơ bản của con người. Hình thức "giáo dục" này thực ra là một biện pháp mà thực dân Pháp sử dụng ở nước ta, sau đó được lập lại bằng Nghị quyết 49/NQ-TVQH ngày 20/6/1961 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đã là cơ sở pháp lý cho việc tập trung cải tạo các công chức và quân nhân chính quyền Miền Nam cũ. Sau này có một chuyển biến tốt đẹp về biện pháp này khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ban hành năm 1989 không sử dụng nó nữa. Nhưng với Pháp lệnh năm 1995, nó lại được tái lập dưới cái tên hiện nay và được Pháp lệnh năm 2002 nối tiếp. Hy vọng trong lần ban hành tới về xử lý vi phạm hành chính, kiểu "giáo dục" ấy sẽ được bãi bỏ.

Căn bệnh trầm kha trong quản lý và điều hành của các cấp chính quyền chỉ được giải quyết khi Việt Nam xây dựng một Nhà nước pháp quyền thực sự và hình thành một xã hội công dân năng động. Bất chấp những khó khăn hiện tại, đây là một xu thế không thể đảo ngược.

5. Biên cương, hải đảo và chủ quyền quốc gia

Vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, Biển Ðông đã một vài lần nổi sóng. Nhưng trong những năm gần đây, sự căng thẳng đã lên đến mức độ nguy hiểm. Nhà cầm quyền Trung Quốc một mặt dùng lời lẽ hoa mỹ, với thông điệp rất êm tai, nhưng mặt khác, các hành động của họ về chủ quyền trên Biển Ðông ngày càng phản ánh rõ rệt chủ trương Ðại Hán.

Trong khi đó, bên Việt Nam, phản ứng của Nhà nước xem ra quá yếu ớt, tạo cớ cho các lực lượng thù nghịch lấn tới. Khó hiểu hơn nữa là việc chính quyền đã mạnh tay đàn áp các tổ chức và các cá nhân yêu nước phản đối hành động xâm lược trắng trợn. Thái độ lập lờ, thiếu nhất quán của các nhà lãnh đạo trong vấn đề phân định lãnh thổ vùng biên giới và bảo vệ chủ quyền ở Biển Ðông đang gây bất bình trong dư luận. Nhiều nhân sĩ và các nhà trí thức tâm huyết đã lên tiếng cảnh báo những nguy cơ về an ninh quốc gia do một số dự án cho nước ngoài khai thác bô-xít và thuê đất, thuê rừng. Mặt khác, các thông tin về lĩnh vực này không đầy đủ, chậm chạp và thiếu công khai. Ðiều trước mắt đã xảy ra là "lao động phổ thông" nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam để thực hiện các dự án trên đang gây bất ổn cho xã hội hiện tại và về lâu dài.

6. Môi trường sinh thái

Theo dự báo của các cơ quan chuyên môn, Việt Nam sẽ là một trong bốn nước phải gánh chịu hậu quả nghiệt ngã nhất của biến đổi khí hậu. Nguyên nhân một phần do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng một phần khác do chúng ta thiếu quan tâm đến môi trường sinh thái và tính bền vững trong phát triển.

Ðiều đáng quan ngại nhất là chúng ta vụng về và vội vàng trong khai thác tài nguyên. Những năm gần đây Nhà nước đã cho nước ngoài đầu tư nhiều dự án có nguy cơ hủy hoại môi trường, thay đổi hệ sinh thái và làm biến đổi khí hậu: khai thác bô-xit tại Tây nguyên, cho thuê rất nhiều khu rừng đầu nguồn thuộc 18 tỉnh từ Bắc chí Nam, rất nhiều tỉnh đã khoanh biển và bờ biển cho các công ty ngoại quốc thuê để xây khách sạn, lập bãi tắm hoặc các dự án khác, mà không quan tâm đến môi trường sinh thái.

7. Vai trò của Trí thức

Gần 1,000 năm trước, cùng với việc thành lập Quốc Tử Giám, tổ tiên chúng ta đã nhận thức sâu sắc rằng: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì nước yếu mà thấp hèn" (Bia Văn Miếu). Ðiều này vẫn luôn đúng và càng đúng hơn cho kỹ nguyên chất xám, thời đại của nền kinh tế tri thức hôm nay.

Bỏ ra ngoài hiện tượng gia tăng đột biến số lượng các tiến sĩ mà chất lượng còn đáng nghi ngại, Việt Nam còn khá nhiều hiền tài đích thực, những trí thức thực tài và có tâm huyết với nước, với dân. Chỉ tiếc rằng vai trò của họ chưa được coi trọng, có khi còn bị gạt ra bên lề hoặc bị kỳ thị, mà nguyên nhân, trong nhiều trường hợp, chỉ là do sự khác biệt về quan điểm đánh giá hiện thực xã hội hoặc về tầm nhìn tương lai của Dân tộc. Phải chăng cơ chế Nhà nước bất cập và chưa đủ mở rộng để thu hút người tài, cũng như chưa cải tổ cho phù hợp với đòi hỏi của xã hội tân tiến? Bao giờ vai trò của xã hội dân sự được nhìn nhận và thực sự có cơ hội tích cực góp phần xây dựng đất nước?

8. Giáo dục và Y tế

Tương lai của Dân tộc tùy thuộc phần lớn vào giáo dục. Không thể phủ nhận rằng nền giáo dục quốc gia đã sản sinh một số nhân tài và góp phần vào việc phát triển Ðất nước. Nhưng nhìn chung, trong mấy thập niên qua, nền giáo dục của chúng ta có quá nhiều bất cập về nội dung, phương pháp dạy và học... Việt Nam đã có nhiều nỗ lực "cải cách giáo dục" nhưng không đi đến những đột phá thực chất. Vì sao? Phải đau đớn mà nói rằng vì chúng ta thiếu hẳn một triết lý giáo dục mang tính nền tảng và chiến lược lâu dài.

Hậu quả thê thảm của thực trạng trên là những gì chúng ta đang nhìn thấy trước mắt: Gia tăng các tệ nạn khủng khiếp trong học đường, tội phạm tuổi học sinh sinh viên ngày càng nhiều, gian dối trong thi cử trở thành bình thường, bằng cấp giả hay nguy hiểm hơn nữa, bằng cấp thật mà kiến thức giả. Kết quả cay đắng là Ðất nước có nguy cơ bị tụt hậu về nhiều phương diện.

Nhờ áp dụng các công nghệ mới, y tế Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được một số thành tựu trong việc khám chữa bệnh và y tế dự phòng. Nhân viên y tế ngày càng được đào tạo bài bản và có chuyên môn cao hơn. Nhưng do hệ quả của nền giáo dục nói trên, cũng như khuynh hướng tập trung vào sức khỏe thể chất và thiếu định hướng y tế toàn diện, nên hệ thống y tế đang bị sa lầy. Bên cạnh tình trạng quá tải trầm trọng tại các bệnh viện Trung ương và việc tăng viện phí ảnh hưởng mạnh tới người nghèo, dư luận nói nhiều đến sự vô cảm, nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của nhân viên y tế...

Nhà nước đã kêu gọi "xã hội hóa" giáo dục và y tế, thiết tưởng nên tạo điều kiện để các tôn giáo trong nước được tham gia trực tiếp vào hai lĩnh vực này.

9. Lĩnh vực tôn giáo

Trong thời gian qua, nhà cầm quyền đã tạo cơ hội thuận tiện cho các sinh hoạt tôn giáo, hầu hết các cơ sở tôn giáo bị tàn phá trong thời chiến tranh đã được trùng tu, nhiều cơ sở mới đã và đang được xây dựng. Tuy nhiên, qui định pháp luật liên quan đến các tôn giáo vẫn còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được nguyện vọng của các tín đồ, cụ thể nhất là về tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Ðiểm mấu chốt là các tôn giáo đã được nhìn nhận, nhưng lại chưa có tư cách pháp nhân, nên không thể thực thi và bảo vệ các quyền hiến định của mình, như các tổ chức xã hội và nghề nghiệp khác.

Hiện nay, Nhà nước dự định ban hành một Nghị định "Quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo", thay thế Nghị định số 22/2005/NÐ - CP ngày 01-03-2005. Thật đáng hoan nghênh nếu văn bản này được soạn thảo trên tinh thần đổi mới, thực sự cầu thị để tạo thuận lợi cho tín đồ các tôn giáo được tụ do hoạt động, góp phần vào việc phục vụ đồng bào và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng một số người đang băn khoăn vì sợ văn bản này lại là một bước thụt lùi, so với Nghị định nêu trên. Câu hỏi nền tảng là bao giờ các công dân có tôn giáo được đối xử bình đẳng với các công dân khác, theo Hiến pháp và Dân luật, mà không cần đến một Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo nữa?

* * *

Những nhận định trên đây phát xuất từ niềm tin Kitô giáo và trách nhiệm công dân với ước nguyện góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng một đất nước phát triển vững bền, dân chủ và nhân ái. Trong vấn đề này, huấn từ của Ðức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, ngày 27-06-2009, với các Giám mục Việt Nam vẫn là định hướng căn bản của Ủy ban Công lý và Hòa bình: "Giáo Hội không hề muốn thay thế Chính quyền, nhưng chỉ mong rằng trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng nhau, Giáo Hội có thể góp phần mình vào đời sống của đất nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân".

Ngày 15 tháng 5 năm 2012,

kỷ niệm 121 năm Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự)

Ủy Ban Công Lý & Hòa Bình / Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam

Trích nguồn : http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/12news/12news0439.htm