Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

CHÚA NHẬT THỨ IV THƯỜNG NIÊN NĂM A



30 tháng 1/2011: CHÚA NHẬT THỨ IV THƯỜNG NIÊN NĂM A


BÀI ĐỌC I: Xp 2, 3; 3, 12-13 "Ta sẽ để sống sót lại giữa ngươi, một dân tộc khiêm tốn và nghèo hèn".

Trích sách Tiên tri Xôphônia. Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước, là những kẻ tuân giữ luật Chúa; hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường, nếu các ngươi muốn được che chở trong ngày thịnh nộ của Chúa. Ta sẽ để sống sót lại giữa ngươi một dân tộc khiêm tốn và nghèo hèn, biết tin tưởng vào thánh danh Chúa. Kẻ sống sót của Israel sẽ không làm điều bất công, sẽ không nói dối, miệng chúng sẽ không nói lời phỉnh gạt, vì chúng sẽ được chăn dắt và nằm ngủ không bị quấy rầy. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10.

Đáp: Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,3).

Xướng: 1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù, Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Đức Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua từ đời này sang đời khác.

BÀI ĐỌC II: 1 Cr 1, 26-31 "Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô. Anh em thân mến, anh em hãy xem ơn kêu gọi của anh em: Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng. Nhưng điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ; điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những gì là mạnh mẽ phải hổ ngươi. Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian, những điều bị khinh chê, những điều không không, để phá huỷ những điều hiện hữu, hầu mọi xác thịt không thể vinh vang trước mặt Người. Chính do Người mà anh em ở trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng do Thiên Chúa, đã trở nên sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh hoá và sự cứu rỗi cho chúng ta, ngõ hầu, như đã chép: "Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa". Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Lc 19, 38 Alleluia, alleluia! - Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến, bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. - Alleluia.


PHÚC ÂM: Mt 5, 1-12a "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp. Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG NHỮNG MỆNH LỆNH YÊU THƯƠNG
Trong Phim Ben Hur, đạo diễn cố tạo ra khung cảnh vừa ngoạn mục, vừa phác họa thân phận bất lực của con người trên một ngọn đồi, để làm nổi bật Bài Giảng Trên Núi về Tám Mối Phúc Thật của Chúa Giêsu. Người ta có thể từ đó đọc được ý nghĩa phó thác cậy trông nhiều hơn vào tình thương Chúa, hoặc có khi cũng được an ủi yên vui khi tin thật vào những lời hứa của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, bản chất của Tám Mối Phúc Thật, vì là hiến chương Nước Trời, nên không hề có tính cách tiêu cực, mà thực sự là những mệnh lệnh yêu thương cho cuộc sống nhân loại hướng về Nước Trời. Thực vậy, những lời hứa của Chúa Giêsu như Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp; hoặc tương tự như Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an... không có nghĩa tiêu cực an ủi trong thân phận và hoàn cảnh buộc phải chịu vậy, để được một điều tốt hơn, bởi suy nghĩ cho kỹ, thì một khi đã mang thân phận con người sau tội tổ tông, có ai trong đời mà không buồn đau, nghèo khó, đói khát, yếu đuối, tội lỗi và phải chịu muôn phần cơ cực... Như thế những lời hứa của Chúa Giêsu chẳng những nói lên sự thật đời người trước các hậu quả của tội tổ tông, mà còn là những con đường buộc nhân loại phải đi ngược lại cái thân phận bị ảnh hưởng trong bản năng yếu đuối và tội lỗi của mình, để có thể hưởng được ơn cứu độ của Chúa. Thế nên một khi sống hiền lành, là tức khắc phải từ bỏ các khuynh hướng và hành động gian ác; một khi chịu cảnh buồn đau, thì lập tức thấy rõ hơn thân phận mình, rồi phó thác vào Chúa thì sẽ được Ngài an ủi đỡ nâng; một khi khát khao điều công chính, thì dĩ nhiên phải từ bỏ con đường bất công trong đời, để nép mình theo đường lối chính trực của Chúa; một khi biết xót thương người, là chính lúc phải khắc phục bản tính ích kỷ tiềm tàng sâu kín trong nội tâm ta, mới hiểu được niềm khao khát yêu thương của tha nhân cũng là của mình; một khi muốn tâm hồn trong sạch, phải can đảm lắm trước các cám dỗ tội lỗi và các khuynh hướng xấu xa; một khi biết ăn ở thuận hòa, phải luôn chiến thắng bản tính hiếu thắng và cái tôi không chịu nhường bước trước các mối lợi cho riêng mình; và một khi chấp nhận chịu bách hại vì Chúa, thì cũng chấp nhận cái chết như Chúa Kitô. Tất cả các mối phúc thật do đó trở nên những mệnh lệnh cho đời người Kitô hữu. Những mệnh lệnh này rất lạ lùng, vì mở đầu bằng lời chúc phúc, nên không còn mang tính bắt buộc, mà là những lời mời gọi yêu thương của Chúa Giêsu, để con người có thể đi vào con đường thánh thiện trên hành trình tiến về thiên quốc.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Tin Mừng Chúa Nhật 2 Thường Niên – Năm A

Gợi ý suy niệm về bài Tin Mừng Chúa Nhật 2 Thường Niên – Năm A (song ngữ)
Một vài gợi ý suy niệm song ngữ về bài Tin Mừng Chúa Nhật 2 Thường Niên – Năm A.
2nd Sunday of Ordinary TimeReading I: Isaiah 49:3,5-6 II: 1Cor 1:1-3
Chúa Nhật 2 Thường NiênBài Đọc I: Isaia 49:3,5-6 II: 1Côrintô 1:1-3
Gospel
John 1:29-34
29The next day he saw Jesus coming toward him, and said, "Behold, the Lamb of God, who takes away the sin of the world!
30This is he of whom I said, 'After me comes a man who ranks before me, for he was before me.'
31I myself did not know him; but for this I came baptizing with water, that he might be revealed to Israel."
32And John bore witness, "I saw the Spirit descend as a dove from heaven, and it remained on him.
33I myself did not know him; but he who sent me to baptize with water said to me, 'He on whom you see the Spirit descend and remain, this is he who baptizes with the Holy Spirit.'34And I have seen and have borne witness that this is the Son of God."
Phúc Âm
Gioan 1:29-34
29 Hôm sau, ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, liền nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.
30 Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng : Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.
31 Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Israel, tôi đến làm phép rửa trong nước."
32 Ông Gioan còn làm chứng: "Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người.
33 Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần."34 Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn.
Interesting Details · The title "Lamb of God" are mentioned only in John's gospel as John the Baptist proclaims when he sees Jesus appoaching (Jn 1:29 and
Jn 1:36). This title may refer to: - the pascal lamb whose blood saved the people of Israel in the Passover (Ex 12), - the victorious apocalyptic lamb who would destroy evils in the world (Rv 5-7), - Jesus is crucified on the afternoon before Passover, this is the time when the pascal lamb are slain, or - the suffering servant of the Lord who is led to slaughter like a lamb and bears our sins (Is 53). Jesus is presented as a lamb, not only to bear our sins but also to take away our sins. · The Spirit descends and "remains" upon Jesus. The Spirit staying with Jesus emphasizes the permanent relationship between the Father and the Son, and between the Son and the Christian. Jesus is the permanent bearer of the Spirit.
Chi Tiết Hay· Trong các sách Phúc Âm, chỉ có Phúc Âm thánh Gioan nói tới chức hiệu "Chiên Thiên Chúa" hai lần (Jn 1:29 và
Jn 1:36), đó là lời Gioan Tẩy Giả khẳng định khi ông nhìn thấy Chúa Giêsu. Chức hiệu này có thể ám chỉ những hình ảnh sau đây: - Chiên tế lễ mà người Do Thái đã dùng máu chiên trong lễ Vượt Qua để được cứu thoát (Ex 12). - Chiên chiến thắng tội lỗi trần gian trong sách Khải Huyền (Rv 5-7). - Báo hiệu Chúa Giêsu sẽ bị đóng đinh trên thập giá vào chiều trước lễ Vượt Qua là lúc các thầy tư tế giết chiên làm lễ tế. - Người tôi trung đau khổ của Thiên Chúa bị hành xử như một con chiên để chịu tội cho chúng ta (Is 53). Chúa Giêsu đưọc diễn tả như một con chiên, không những để chịu tội mà còn xóa bỏ tội cho chúng ta. · Thần Khí ngự xuống và "ở" cùng Người. Thần Khí ở cùng Chúa Giêsu nhấn mạnh sự liên hệ vĩnh cữu giữa Chúa Cha và Chúa Con, giữa Chúa Con và Kitô hữu. Chúa Giêsu là Đấng luôn tràn đầy Thánh Thần.
One Main Point LAMB OF GOD, WHO TAKES AWAY THE SINS OF THE WORLDJohn the Baptist presumably did not know Jesus, but he is the first to bear witness and to proclaim that Jesus is the Lamb of God, who has the power to take away the sins of the world. John testifies as he himself sees and describes the Spirit's descending and remaining upon Jesus.
Một Điểm Chính CHIÊN THIÊN CHÚA, ĐẤNG XÓA TỘI TRẦN GIAN Gioan Tẩy Giả hầu như không biết Chúa Giêsu là ai, nhưng ông là người đầu tiên đã làm chứng và tuyên xưng Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng có uy quyền xóa tội trần gian. Gioan đã minh chứng qua những điều ông thấy và diễn tả là Thần Khí ngự xuống và ở cùng Chúa Giêsu.
Reflections1. The people who went to John the Baptist on the bank of the Jordan River might have different attitudes: a great number came to be baptized, some by curiosity or just to be with friends, others to question and to criticize.By my activities in the church or in my community group, who am I in the crowd on the bank of the Jordan River? 2. Pausing the baptism, humbling himself, directing the attention of people to the person being in sight, John the Baptist courageously steps over his "ego" and acts under the light of the Holy Spirit; he turns himself as an instrument for the Holy Spirit. What are the motives in my actions?3. John the Baptist chooses the most shallow spot in the Jordan River, where people from nations can travel or do business, for his mission. Therefore, the crowd includes not only Israelites, but also people from other countries, other cultures and economics. Is my mission limited only within my own, my family's, or my group's salvation?
Suy Niệm1. Những người tới với thánh Gioan Tẩy Giả bên bờ sông Jordan, một số lớn xin đưọc thanh tẩy, một số có mặt vì sự tò mò hiếu kỳ hay do bạn bè lôi kéo, còn một số nhỏ đi theo để tra hỏi bắt bẻ. Khi tôi tham gia những hoạt động trong xứ đạo, trong gia đình Đồng Hành, tôi thuộc lớp người nào bên bờ sông Jordan?2. Gián đoạn nghi thức rửa tội, tự đặt mình thấp bé và dồn sự chú ý của dân chúng về một nhân vật khác, Gioan Tẩy Giả đã táo bạo vượt qua cái tôi của mình và ông đã hành động theo sự hướng dẫn của Thánh Linh. Ông biến chính mình thành dụng cụ của Thánh Linh. Động lực nào thúc đẩy tôi trong các hành động? 3. Gioan Tẩy Giả chọn một nơi cạn nước nhất, chỗ dân muôn xứ có thể qua lại buôn bán du lịch. Vì thế chung quanh thánh nhân hôm nay, không phải chỉ có những người Do Thái, nhưng có thể có nhiều màu da khác nhau, nhiều văn hóa khác nhau, nhiều trình độ trí thức, giầu nghèo. Có phải sự nhiệt thành tông đồ của tôi chỉ để cho một mình tôi, một mình gia đình tôi hay một mình nhóm của tôi?

Trích nguồn: http://www.kinhthanhvn.org/viewItem.jhtml?itemId=3818

Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

PHÚC ÂM: Mt 2, 1-12
"Chúng tôi từ phương Đông đến thờ lạy Đức Vua".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu. Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Đông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Đức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Đấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta". Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người". Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình. Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG MỞ LÒNG RA CHO ĐẤNG CỨU THẾ
Có nhiều điểm quan trọng trong Bài Phúc Âm Lễ Hiển linh giúp ta đi tìm Chúa với ơn gọi qua tiếng lương tâm ngay lành. Lần lượt ta đọc thấy sự kiện các nhà đạo sĩ nhận thấy ngôi sao lạ như dấu chỉ đi tìm vua mới sinh, Đấng sẽ có quyền uy cao cả trên nhân loại; đến sự nham hiểm của vua Hêrôđê qua lớp son đạo đức giả bằng những lời bọc vỏ khiêm tốn đạo hạnh: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cùng đền triều bái Người!" Các đạo sĩ chắc sẽ vô cùng ngạc nhiên khi ngôi sao dừng lại trước máng cỏ nghèo hèn với hình ảnh một hài nhi được sinh trong hang bò lừa, và cha mẹ Ngài lại vô cùng nghèo khó! Nhưng các ông đã xác tín đây chính là vị Vua các ông đã dong duổi khổ cực đi tìm, và các ông đã thờ lạy Ngài bằng kính dâng những lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược. Và sự kiện sau cùng soi thấu lương tâm ngay lành: đó là điềm báo cho các ông hãy tìm lối khác về, vì Hêrôđê đang tìm hãm hại Hài Nhi. Những sự kiện trên xảy ra vào những ngày đầu đời của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế. Dĩ nhiên chúng ta sẽ nghĩ đến bàn tay can thiệp của Thiên Chúa trong việc Đấng Cứu Thế giáng trần, nên không để cho Hêrôđê có thể hãm hại Ngài. Điều đó đúng, vì thuộc chương trình cứu độ Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tuy nhiên, điều chúng ta đọc được qua sự kiện trên chính là học cách xử sự của các nhà đạo sĩ với Hài Nhi Giêsu. Trước hết muốn gặp được Đức Giêsu cần phải có tâm hồn ngay lành và sẵn sàng muốn gặp Chúa. Thứ đến phải can đảm vượt các khó khăn trên đường tìm kiếm Chúa. Và trên đường tìm Chúa, rất cần phải tỉnh thức để có thể lắng nghe tiếng Chúa muốn ta làm gì, bởi quanh ta tràn đầy những nguy hiểm và bóng tối dầy đặc của tội lỗi và Satan. Sau cùng, khi gặp được Chúa, phải mở lòng ra đón lấy Ngài. Ngài có thể hiện thân trong hình trẻ sơ sinh nghèo nàn, trong thân phận những người nghèo khó, cô đơn, đau khổ, vô gia cư, không chút tiếng tăm, hoặc trong những kẻ bị xã hội ruồng bỏ, kết án là tội nhân, rác rưởi; Ngài có thể hiện thân trong những kẻ rất gần ta nhưng thường bị ta quên lãng, làm ngơ hay cư xử thậm tệ. Đức Kitô đã sinh ra trong hoàn cảnh mà người đời khó có thể nhận ra Ngài là Vua trời đất, nhưng từ khi sinh ra cho đến lúc lìa trần trên cây thập tự, Ngài đã tìm hiện thân bằng tình thương trong những loại người bị xã hội kết án ruồng bỏ, nói chung là tội nhân trước mắt họ, nhưng lại trở thành con cái Chúa trước lòng nhân hậu của Đấng Cứu Thế. Hiển Linh chính là ánh sáng tình thương của Đấng Cứu Thế soi chiếu toàn thể nhân loại sau Tin Mừng Giáng Sinh báo tin Đấng Mesia cho dân Do Thái. Hãy đi tìm Chúa với ý ngay lành và mở lòng ra cho Ngài như các đạo sĩ, ta sẽ thấy Ngài và đón nhận được Ngài. Ngài là vua tình thương và đường cứu rỗi duy nhất cho ta đó.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

12 tháng 12/2010: CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM A




PHÚC ÂM: Mt 11, 2-11


"Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi một Đấng nào khác?"


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Gioan ở trong ngục nghe nói về các việc làm của Chúa Kitô. Ông sai môn đệ đến thưa Ngài rằng: "Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác?" Chúa Giêsu bảo họ: "Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó; và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta". Khi những người được sai đến đã đi rồi, Chúa Giêsu liền nói với đám đông về Gioan rằng: "Các ngươi đi xem gì ở hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió ư? Vậy các ngươi đi xem gì? Một người ăn mặc lả lướt ư? Nhưng những người ăn mặc lả lướt thì ở nơi cung điện nhà vua. Vậy các ngươi đi xem gì? Một tiên tri ư? Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn một tiên tri nữa. Vì có lời chép về ông rằng: 'Này Ta sai sứ thần Ta đi trước mặt con, để dọn đường sẵn cho con'. Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả; nhưng người nhỏ nhất trong nước trời còn cao trọng hơn ông".
Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG HOANG ĐỊA CUỘC ĐỜI
Có lúc tình cảm nuối tiếc thời lãng mạn xa xưa ấy lại bừng lên trong lòng ta khi âm thanh của những bài hát trữ tình Rumba, Bolero hay Slow Rock thoáng vọng bên tai! Chúng ta đã đánh mất một quá khứ thơ mộng tuyệt vời. Kẻ lạ ôm lấy quá khư ấy, len lén gặm nhấm trong đêm đen, rồi tặng cho những giá trị kỷ niệm bất hủ ấy cái tên Nhạc Vàng. May mắn cho ta được sống trong tự do để thả hồn bay theo quá khứ đời mình và uống cạn những tình khúc yêu đương thiết tha làm nên cuộc đời. Còn họ thì bị mê hoặc bởi tính phù thủy lãng mạn tự do ấy! Nhưng đó chỉ còn là kỷ niệm với ta, bởi cuộc sống hiện tại đôi khi cũng như những hoang địa trống vắng khô cằn. Ta chẳng vào đó, như lời Đức Kitô, để ngắm nhìn những cây sậy phất phơ trước gió, hay những bóng hình ảo tưởng lả lướt như những cám dỗ cuộc đời. Đời ta đã một phần được làm nên bằng quá khứ; còn hiện tại vẫn đang mải mê với những giá trị lẫn lộn như mê hoặc của tự do. Và để tìm những giá trị đích thực, có lẽ phải đặt cho mình câu hỏi của Đức Kitô: Thực sự các ngươi đi xem gì ở hoang địa? Hoang địa dĩ nhiên là vùng đất khô cằn hoang vu. Mà đã hoang vu thì đồng nghĩa với hoang dã. Nhưng hoang dã lại rất gần với thiên nhiên của Thượng Đế dành cho các tạo vật của Ngài. Đức Kitô mặc hình người đã một lần chọn hoang địa để tĩnh mịch chiến đấu và chiến thắng cám dỗ. Ngài đã trả lời cho những người Do Thái rằng: nếu chọn đến hoang địa thì chỉ nhìn và tìm thấy duy nhất một Đấng cao trọng hơn cả một tiên tri (tức Gioan Tiền Hô). Đấng ấy phủ đầy quyền năng có sức làm cho người mù được thấy, kẻ què được đi, người hủi được sạch, kẻ điếc được nghe và người nghèo khó được nghe giảng Tin Mừng. Nếu đã gọi cuộc đời mình là hoang địa của quá khứ và hiện tại, dĩ nhiên lúc nào cũng vấn vương bởi những khúc tình ca lãng mạn làm nên đời ta, và bị cuốn hút quay cuồng trước sức mạnh của cám dỗ, thì chỉ mỗi bóng hình cao trọng duy nhất có thể ngự trị hồn ta là Đấng làm tác giả của hoang địa hoang vu khô cằn. Ta có thấy được bóng hình Ngài nơi mình đang bị lẫn lộn mê hoặc giữa các giá trị tự do cuộc đời không? Coi chừng những bóng hình lả lướt hay những cây sậy èo ọt phất phơ trước gió, lại là nơi nương tựa cho ta thay vì Đấng là tác giả của bài trường ca sự sống trữ tình bất diệt! Hãy lắng đọng hỏi lại lòng mình: Các ngươi đang xem gì nơi hoang địa cuộc đời?
Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

28 tháng 11/2010: CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG NĂM A

BÀI ĐỌC I: Is 2, 1-5
"Thiên Chúa quy tụ các dân tộc trong nước Người, để hưởng bình an đời đời".

Trích sách Tiên tri Isaia. Điềm Isaia con trai của Amos đã thấy về Giuđa và Giêru-salem. Điềm sẽ xảy ra trong những ngày sau hết, là núi của nhà Chúa được xây đắp trên đỉnh các núi, và núi ấy sẽ cao hơn các đồi, và các dân nước sẽ đổ về đó. Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: "Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà ?Thiên Chúa? của Giacóp. Người sẽ dạy chúng ta đường lối của Người, và chúng ta sẽ đi theo ý định của Người"; vì luật pháp sẽ ban ra từ Sion, và lời Chúa sẽ phát ra từ Giêrusalem. gười sẽ xét xử các dân ngoại và khiển trách nhiều dân tộc. Họ sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm. Nước này không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa; người ta cũng sẽ không còn thao luyện để chiến đấu nữa. Hỡi nhà Giacóp, hãy đến, và chúng ta hãy bước đi trong ánh sáng của Chúa.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 121, 1-2. 3-4a. 4b-5. 6-7. 8-9 Đáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: "Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa"

(c. 1). Xướng: 1) Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: "Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa". Hỡi Giêrusalem, chân chúng tôi đang đứng nơi cửa thành rồi.

2) Giêrusalem được kiến thiết như thành trì, được cấu tạo kiên cố trong toàn thể. Nơi đây các bộ lạc, các bộ lạc của Chúa tiến lên.

3) Theo luật pháp của Israel, để ngợi khen danh Chúa. Tại đây đã đặt ngai toà thẩm phán, ngai toà của nhà Đavít.

4) Hãy nguyện cầu cho Giêrusalem được thanh bình, nguyện cho những kẻ yêu mến ngươi được an ninh. Nguyện cho trong thành luỹ được bình an, và trong các lâu đài của ngươi yên ổn.

5) Vì anh em và bằng hữu của tôi, tôi nguyện chúc: bình an cho ngươi! Vì nhà Chúa là Thiên Chúa chúng ta, tôi khẩn cầu cho ngươi những điều thiện hảo.


BÀI ĐỌC II: Rm 13, 11-14 "Phần rỗi chúng ta gần đến".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma. Anh em thân mến, biết rằng thời này là lúc chúng ta phải thức dậy. Vì giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị. Nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và chớ lo lắng thoả mãn những dục vọng xác thịt.

Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Tv 84, 8 Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho chúng con. - Alleluia.

PHÚC ÂM: Mt 24, 37-44

"Hãy tỉnh thức để sẵn sàng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu. Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Trong thời ông Noe xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy. Cũng như trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy. Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Và có hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, còn người kia bị bỏ rơi. Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến. "Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG BẤT NGỜ


Những vần thơ "bất ngờ trời vào thu" hay "bất chợt tình yêu đến" được chuyển thành những dòng nhạc trữ tình lãng mạn cũng bất ngờ làm rung động tim ta. Nhưng đó chỉ là những tác động tâm lý biến đổi mang theo ý nghĩa nào đó phù hợp với tâm trạng thi nhân hay khách đa tình, hoặc có khi ẩn giấu bâng khuâng nơi kẻ thất tình! Mà thực, đời người nói chung đều được gói ghém trong hai chữ bất ngờ. Bất ngờ một sự sống hiện hữu trong tôi và bạn, cho dù chẳng bất ngờ tý nào trong sự quan phòng của Thượng Đế. Thế rồi cũng bất ngờ đời tôi và bạn biến đổi không ngừng theo thời gian cho phù hợp với các giai đoạn đời người. Có những bất ngờ đem đến niềm vui, nhưng cũng đầy dẫy những bất ngờ mang lại dấu ấn đau khổ khôn nguôi. Một khi đã đặt cho tên Bất Ngờ, thì chẳng ai có thể đoán nổi nó sẽ ra sao. Bằng suy nghĩ và lý luận, ai cũng biết giai đoạn sau cùng của cuộc đời sẽ tận cùng bằng sự chết; nhưng chẳng tài nào biết được cách nào và khi nào thần chết sẽ đến gõ cửa lòng ta! Thôi thì cứ gọi nó bằng tên Bất Ngờ để quen dần với nó và có thể làm bạn với nó không chừng. Và một khi quen dần với những bất ngờ cuộc đời, tôi cũng như bạn sẽ không cần thắc mắc tại sao trong Phúc âm, Đức Kitô lại thích dùng hai tiếng bất ngờ để cảnh tỉnh hồn ta. Sự bất ngờ của đời người mà Đức Kitô nhắc đến không phải là những tai nạn tiêu diệt hạnh phúc, nhưng là những bằng chứng xác thực giúp họ mở rộng con mắt đức tin và cõi lòng rộng rãi đón nhận sự thật. Con tàu Noê đâu dễ gì hoàn tất trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng ít ra cũng phải cả trăm năm đời người, thế mà thiên hạ chẳng thèm đặt câu hỏi tại sao Noê đã khùng điên tiêu xài cuộc sống vào con tàu xem ra vô nghĩa với họ. Hai người đàn ông cùng làm ruộng và hai người đàn bà cùng xay bột là hình ảnh bình thường của cuộc sống; thế nhưng một trong hai người đàn ông cũng như đàn bà được tiếp nhận, và hai người còn lại bị bỏ rơi, là một sự bất ngờ không ai đoán được. Nếu hiểu theo định luật sự sống, thì là điều đương nhiên, nhưng nếu nhìn trong khía cạnh đạo đức, thì sự bất ngờ ấy chính là sự quan phòng của Thiên Chúa. Một khi sự bất ngờ nằm trong quan phòng của Thiên Chúa, thì nó không còn là bất ngờ nữa, nhưng sẽ biến thành sự thật có thể giải thoát, mà cũng có thể kết án. Bất ngờ trời vào thu là định luật xuay vần vũ trụ; bất chợt tình yêu đến là định luật cuốn hút của tình yêu; còn bất ngờ Con Người đến là chân lý đặt nhân loại trong tình trạng tỉnh thức và bàn cân công lý. Hãy mang lấy tâm trạng thi nhân, để dùng con mắt đức tin xuyên thấu thời gian phá đi những bất ngờ, nhờ đó ta sẽ luôn sống trong trái tim yêu đương của Thiên Chúa.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Sứ điệp của Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010

SỨ ĐIỆP CỦA ĐẠI HỘI DÂN CHÚA VIỆT NAM 2010
1. Trong Năm Thánh 2010 nhân kỷ niệm 350 năm thiết lập hai địa phận tông tòa đầu tiên và 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã triệu tập Đại hội Dân Chúa, từ ngày 21 đến 25 tháng 11 năm 2010, tại Trung tâm mục vụ Tổng giáo phận Tp. HCM. Hiện diện tại đại hội, có 32 giám mục, 300 đại biểu linh mục, tu sĩ, giáo dân thuộc 26 giáo phận và các dòng tu trên cả nước. Đại hội hân hạnh đón tiếp các vị đại diện đến từ các Giáo hội Canada, Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, Thái Lan, và đại diện các cộng đoàn công giáo Việt Nam hải ngoại. Từ khắp mọi miền đất nước quy tụ về đây như anh chị em dưới một mái nhà, đây chính là thời điểm của ân sủng và kinh nghiệm quý báu Chúa ban cho Hội Thánh tại Việt Nam. Xin dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về hồng ân cao quý này. Đồng thời, ý thức rằng trong suốt thời gian Đại hội, được anh chị em tín hữu công giáo tại Việt Nam cũng như hải ngoại luôn đồng hành trong lời cầu nguyện và qua những ý kiến đóng góp cho Đại hội, xin gửi đến mọi người lời cảm ơn chân thành nhất.
2. Đại hội Dân Chúa được khai mạc trọng thể vào ngày lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, 21-11-2010, tại Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Sàigòn với sự tham dự đông đảo của anh chị em tín hữu. Cử hành lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ để khai mạc Đại hội giúp chúng tôi xác tín hơn vào sứ mạng của Hội Thánh. Chúa Kitô đã thiết lập Nước Thiên Chúa là “vương quốc của sự thật và sự sống, vương quốc thánh thiện và toàn phúc, vương quốc công chính, yêu thương và an bình” [1]. Hội Thánh Chúa Kitô có mặt trong lịch sử nhân loại với sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa trong quyền năng của Thánh Thần. Cũng thế, Hội Thánh Chúa Kitô tại Việt Nam có sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, tiếp nối sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô, góp phần kiến tạo nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên quê hương đất nước này.
3. Sứ mạng đó đòi hỏi Hội Thánh phải đổi mới không ngừng để thực sự là Hội Thánh Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt Nam. Chúng tôi xác tín rằng Hội Thánh tại Việt Nam không phát xuất từ sáng kiến và nỗ lực của con người nhưng hoàn toàn phát xuất từ Thiên Chúa, sống nhờ Ngài và hướng tới Ngài [2]. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, điều quan trọng nhất vẫn là củng cố, canh tân, đào sâu mối hiệp thông của mỗi người tín hữu cũng như của mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh Thể. Cử hành Thánh Thể phải thực sự trở thành tâm điểm trong đời sống Hội Thánh tại Việt Nam. Để được như thế, cử hành Thánh Thể cần được nối dài bằng cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, đào sâu chân lý đức tin. Ước mong rằng trong những năm sắp tới, Hội Thánh tại Việt Nam sẽ đẩy mạnh việc phổ biến và học hỏi Lời Chúa bằng những phương thế khác nhau, để Lời Chúa thực sự trở thành của ăn nuôi dưỡng tâm hồn, kim chỉ nam và ánh sáng soi dẫn mọi quyết định và chọn lựa của các tín hữu.
4. Đại hội cũng xác tín rằng để thực sự là Hội Thánh của Chúa Kitô nhập thể và nhập thế, Hội Thánh tại Việt Nam phải nhập thể vào văn hóa và lịch sử của dân tộc mình. Trong hơn 4 thế kỷ hiện diện tại Việt Nam, Hội Thánh đã góp phần không nhỏ vào đời sống và sự phát triển của đất nước. Chính những người công giáo đầu tiên đã tạo ra chữ quốc ngữ mà mọi người Việt Nam hiện đang sử dụng. Các trường công giáo đã đào tạo biết bao nhân tài cho đất nước. Cũng chính người công giáo đã đem những giá trị nhân văn thấm vào đời sống xã hội như tôn trọng sự sống và phẩm giá con người, sự bình đẳng, tình bác ái, tinh thần phục vụ, hi sinh. Tiếp nối công trình của cha ông, Hội Thánh ngày nay cũng phải dấn thân vào việc xây dựng đất nước về mọi mặt: văn hóa xã hội, cũng như kinh tế chính trị, vì ý thức rằng: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, đối với người Công giáo, không những là một tình cảm tự nhiên phải có, mà còn là một đòi hỏi của Phúc âm” [3]. Khi dấn thân xây dựng xã hội trần thế, Hội thánh “không hề muốn thay thế Chính Quyền, nhưng chỉ mong rằng trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng lẫn nhau, Hội thánh có thể góp phần mình vào đời sống của Đất nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân” [4]. Đó cũng là lời chứng cho mọi người thấy vẻ đẹp đích thực của Tin Mừng như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắn nhủ tất cả chúng ta, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em phải chứng tỏ rằng người công giáo tốt cũng là người công dân tốt” [5].
5. Hội Thánh tại Việt Nam còn phải canh tân chính mình qua nỗ lực xây dựng Hội Thánh như một gia đình, trong đó mọi người hiệp thông với nhau như anh chị em một nhà, bình đẳng với nhau trên nền tảng ơn gọi làm người và làm con Chúa, chia sẻ cùng một sứ mạng và trách nhiệm dù được thể hiện trong những bậc sống và nhiệm vụ khác nhau. Sự hiệp thông này vừa là đòi hỏi vừa là lời chứng cần thiết mà Hội Thánh phải bày tỏ trước mặt mọi người như Chúa Giêsu đã thiết tha cầu nguyện: “Xin cho họ nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong Chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21). Trong những ngày Đại hội, chúng tôi cảm nghiệm được bầu khí hiệp thông huynh đệ này khi mọi thành phần Dân Chúa sống chung với nhau như anh chị em trong một gia đình, cùng lắng nghe tiếng Chúa qua cầu nguyện, chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm và suy tư về Hội Thánh qua các bài thuyết trình, tham luận và hội thảo, với thao thức xây dựng Hội Thánh như lòng Chúa mong muốn. Sự hiện diện của đại diện các Giáo Hội chị em lại mở rộng hơn nữa chân trời hiệp thông trong Hội Thánh Chúa Kitô. Ước mong bầu khí huynh đệ này được trải rộng và thấm sâu vào đời sống Hội Thánh tại Việt Nam ở mọi cấp độ, trong mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi dòng tu, mỗi giáo phận. Để bày tỏ khuôn mặt Hội Thánh như một gia đình, đại hội kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa hợp tác chặt chẽ với nhau trong tình hiệp nhất yêu thương. Xin anh chị em giáo dân tích cực tham gia vào đời sống và sứ mạng của Hội Thánh bằng những khả năng chuyên môn Chúa ban cho mình. Các gia đình công giáo được mời gọi giữ vững và củng cố ơn gọi hôn nhân Kitô giáo, xây dựng gia đình như Hội Thánh tại gia, cái nôi của sự sống, mái ấm của tình thương và ngôi trường đầu tiên đào tạo con người toàn diện. Đối với các bạn trẻ, xin các bạn nhiệt thành tham gia vào những sinh hoạt của Hội Thánh để đem sức sống và sự tươi trẻ cho đời sống Hội Thánh. Gia đình và giáo xứ phải quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục các đức tính nhân bản cho thiếu nhi, để sau này trở nên những con người hữu ích cho xã hội và Hội Thánh. Ước mong các tu sĩ thực sự trở nên dấu chỉ và chứng nhân sống động của tình yêu vô điều kiện mà Thiên Chúa dành cho con người, nhất là những người bé mọn trong xã hội. Đại hội nhấn mạnh vai trò của các giám mục và linh mục trong Hội Thánh. Công cuộc canh tân Hội Thánh cần được bắt đầu từ hàng linh mục, vì thế ước mong các giám mục và linh mục Việt Nam không chỉ là người quản trị giỏi nhưng trước hết là người của Chúa và là những mục tử nhân lành, biết gắn bó với Chúa Giêsu trong cầu nguyện để có thể phục vụ cộng đoàn theo gương Thầy chí thánh, biết tôn trọng và phát huy vai trò người giáo dân trong tinh thần đối thoại và cộng tác.
6. Để thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trong hoàn cảnh ngày nay, Hội Thánh phải là chất xúc tác của nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên đất nước Việt Nam. Trong hai thập niên vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, có nhiều điều đáng lo ngại cho tiền đồ của dân tộc. Nạn phá thai, ly dị, ma túy, mãi dâm, sự gia tăng cách biệt giầu nghèo, tình trạng bất công, bóc lột, tham nhũng, tàn phá môi sinh… tất cả đang có chiều hướng gia tăng và là những dấu hiệu cụ thể của “nền văn hóa sự chết”. Xác tín rằng Tin Mừng là “men của tự do và tiến bộ, nguồn của tình huynh đệ, của khoan dung và hòa bình” [6], nên hơn ai hết, người công giáo Việt Nam có sứ mạng kiến tạo nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên đất nước này, đồng thời sẵn sàng đối thoại chân thành và cộng tác lành mạnh với mọi người thiện chí, không phân biệt tôn giáo hay chính kiến, nhằm phục vụ sự phát triển toàn diện của mọi người trong xã hội [7], nhất là những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Trong tinh thần đó, chúng tôi đề nghị Chính quyền Việt Nam mở rộng cánh cửa cho các tôn giáo tham gia vào việc giáo dục học đường và y tế cộng đồng, vì ích lợi của người dân và của cả dân tộc.
7. Đối chiếu với sứ mạng cao cả đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu: “Anh em phải là muối cho đời, ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13.14), chúng tôi nhìn nhận mình còn nhiều lỗi lầm thiếu sót, vì thế khiêm tốn xin Chúa và anh chị em trong cũng như ngoài Hội Thánh tha thứ cho. Hội Thánh cũng nhớ đến biết bao khổ đau, bất công, bách hại đã phải chịu trong suốt chiều dài lịch sử của mình, không phải để nuôi dưỡng oán thù nhưng để tha thứ và cầu nguyện cho những người đã bách hại Hội Thánh, theo gương Chúa Kitô là Đấng đã hoàn tất công trình cứu chuộc trong sự khó nghèo và bị bách hại [8]. Các thánh tử đạo Việt Nam vừa là gương mẫu vừa là động lực thúc đẩy Hội Thánh thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trên quê hương đất nước mình. 8. Đại hội Dân Chúa Việt Nam kết thúc nhưng lại mở ra cho những bước chân hi vọng, niềm hi vọng được khơi nguồn và hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Tất cả những ý kiến của Đại hội sẽ được đúc kết thành những đề nghị, là chất liệu chính của văn kiện hậu Đại hội, nhằm đưa ra những định hướng và kế hoạch mục vụ của Hội Thánh Việt Nam trong những năm sắp tới. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến (Kh 22,20). Đây vừa là lời cầu xin vừa diễn tả niềm khao khát và hi vọng của Đại hội. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ La Vang và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin Chúa ngự đến trong tâm hồn mỗi người chúng con và biến đổi chúng con thành môn đệ đích thực của Chúa. Xin Chúa ngự đến trong mỗi gia đình công giáo, để gia đình trở thành cộng đoàn thờ phượng Chúa, hiệp nhất yêu thương nhau và cùng nhau làm chứng cho Tin Mừng Nước Trời. Xin Chúa ngự đến và hiệp nhất tất cả chúng con trong cùng một sứ mạng yêu thương và phục vụ, quyết tâm xây dựng nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương, để dung nhan Chúa bừng sáng trên quê hương Việt Nam chúng con. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến. Làm tại Trung tâm mục vụ Tổng giáo phận Tp. HCM., Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 2010
[1] Kinh Tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua.
[2] Xem Bênêđictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2010. Cũng xem Tài Liệu Làm Việc, số 2.
[3] Thư chung 1980 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.
[4] Bênêđictô XVI, Huấn từ dành cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam dịp Ad Limina 2009.
[5] Như trên.
[6] Bênêđictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2010.
[7] Bênêđictô XVI, Thông điệp Bác Ái trong Chân Lý, số 4-6.
[8] Hiến chế tín lý về Giáo Hội Ánh Sáng Muôn Dân, số 8.
Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010(Nguồn: http://daihoidanchua.net/

Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2010

Chúa Nhật 33 Thường Niên, Năm C

SỬA SOẠN CHO NGÀY SAU HẾT MÀ KHÔNG AI BIẾT
Chúa Nhật 33 Thường Niên, Năm C
Ml 3,19-20; 2 Tx 3,7-12; Lc 21,5-19

Phụng vụ lời Chúa vào cuối năm phụng vụ đặt trước mắt người tín hữu viễn tượng của việc Chúa đến lần thứ hai vào ngày thế mạt. Khi chọn đoạn Thánh Kinh từ sách Malakhi, Giáo Hội muốn nhắc nhở cho người tín hữu về ngày của Chúa, ngày mà mặt trời công chính (Ml 3,20a) sẽ được chiếu sáng trên những kẻ kính sợ Người. Còn bài Phúc Âm đưa ra những hình ảnh về: Chiến tranh, loạn lạc (Lc 21,9), động đất, ôn dịch, đói kém, những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao (c.10), khiến người ta lầm tưởng rằng ngày chung cuộc (c.9), là ngày sau hết đã đến gần.Khi bàn về ngày sau hết, tác giả Thánh Kinh thường nại đến loại ngôn ngữ khải huyền, nghĩa là ngôn ngữ hay mẫu tư tưởng biểu tượng khó hiểu về ngày sau hết. Sách Đanien, một phần sách Êdêkien, sách Khải huyền, phần bàn về ngày cánh chung trong Phúc Âm Mát-thêu, Mác-cô và Luca, gợi lại những tai hoạ với những hình ảnh tàn phá xẩy ra trong vũ trụ như chiến tranh, động đất, bão tố, lụt lội và chết chóc.Những hình ảnh tàn phá mà các tác giả Thánh Kinh dùng để nói về ngày sau hết đã có thể xẩy ra trong quá khứ ở đâu đó trên thế giới rồi, chứ không hẳn được tiên đoán sẽ xẩy ra trong tương lai. Văn chương khải huyền được giả sử viết trước khi tai hoạ sẽ đến để cảnh giác người đọc, nhưng thực ra được viết sau khi tai hoạ xẩy ra. Ngày sau hết cũng được mô tả bằng hình ảnh khải huyền trong sách Malakhi: Ðốt cháy như hoả lò (Ml 3,19) và bằng hình ảnh biểu tượng: Mặt trời công chính (Ml 3,20a). Như vậy những hình ảnh tàn phá trong ngôn ngữ khải huyền, không hẳn nói về những biến cố sẽ xẩy ra trong ngày sau hết. Nói cách khác, ngôn ngữ khải khuyền không nhằm tiên đoán tương lai. Ý nghĩa của ngôn ngữ khải huyền chỉ có dụng ý là để cảnh giác người nghe và người đọc rằng sẽ có ngày sau hết và Thiên Chúa sẽ thống trị. Ngày sau hết là điều sẽ xẩy ra và là điều người tín hữu phải tin. Còn ngày sau hết xẩy ra như thế nào thì không hẳn như được diễn tả trong ngôn ngữ khải huyền. Việc dùng ngôn ngữ khải khuyền chỉ nhằm mục đích là để cảnh tỉnh những tâm hồn lơ là về đời sống nội tâm hoặc những tâm hồn chỉ đam mê sự đời mà thôi (1).Như vậy thì không phải hễ có chiến tranh, động đất và tai hoạ xẩy ra là ngày sau hết sắp đến. Ðền thờ Giêsusalem đã bị phá huỷ. Nhiều người đương thời cũng đã chứng kiến cảnh chiến tranh, động đất, thiên tai, nhưng người ta vẫn sống, thế giới vẫn tồn tại. Vậy thì lời Chúa dùng ngôn ngữ khải huyền trong Phúc Âm hôm nay muốn nhắc nhở cho người tín hữu rằng sẽ có ngày sau hết. Tuy nhiên khi thấy những tai hoạ xẩy đến thì không có nghĩa là ngày sau hết đã gần.Thánh Phaolô đã nhận ra lỗi lầm đó nơi một số tín hữu Thêxalônica. Họ nghĩ rằng ngày sau hết gần đến, nên họ chỉ ăn không ngồi rồi để đợi chờ và còn sống vô kỷ luật nên đã bị thánh Phaolô cảnh giác, bảo họ: Hãy ở yên mà làm việc (2Tx 3,12). Và đó là quan niệm bi quan, chán đời, không thực tế. Trong quá khứ, có nhóm giáo phái Kitô giáo tại Hoa Kỳ tiên đoán ngày tận thế sẽ đến vào khoảng thời gian từ 21-3-1843 đến 21-3-1844 (2). Qua thời gian đó, không có gì xẩy ra, họ lại đề nghị năm khác cho ngày tận thế.Trước khi bước sang thiên niên kỷ thứ ba, người ta cũng nghe những tin giật gân từ những tiên tri giả tung ra và được những cơ sở truyền thông loan tải, cho rằng sẽ có tai hoạ xẩy ra và rồi ngày tận thế sẽ đến vào năm 2000. Có những người nhẹ dạ, tìm đến nhà thờ xin nhiều nước thánh để rảy hầu xua đuổi ma quỉ (1Pr 5,8) và ra tiệm mua nhiều nến để đốt trong những ngày họ cho là đen tối sắp đến (Ge 2,10; Ge 4,15; Mt 24,29; Mk 13,24). Trong Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu bảo: Anh em đừng có theo họ (Lc 21,8). Về vấn đề kỹ thuật, người ta bàn nhiều đến Y2K vào năm 2000 trong máy vi tính. Người ta sợ sang năm 2000 máy vi tính không in ra số tiền lương hay những dữ kiện khác được. Sợ là vì trước đó thay vì ghi bốn số của năm nọ năm kia vào máy vi tính như năm 1999, người ta chỉ ghi hai số cuối cho lẹ là ’99. Sang năm 2000, thi người ta sợ là máy vi tính có thể đọc là năm 1900 hay năm của số không. Do đó máy cũng không in ra được gì, không in ra được tiền lương, không ra được món hàng để đặt mua.Là người Công giáo, ta tin Chúa Cứu Thế sẽ đến vào ngày thế mạt như người tín hữu tuyên xưng sau khi truyền phép Thánh Thể: Chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến. Sự việc Chúa đến lần thứ hai là đối tượng của đức tin của người Công giáo. Trong tất cả những lần đàm thoại về ngày thế mạt (cánh chung), Chúa Giêsu không bao giờ ám chỉ về thời gian khi nào ngày sau hết (tận thế) sẽ đến. Vậy ngày tận thế có thể được hiểu là ngày sau hết của đời sống mỗi người ở trần thế, hoặc là ngày tận cùng của thế giới. Nếu hiểu ngày tận thế là ngày cuối cùng của cuộc sống mỗi ngườì ở trần thế, thì ngày tận thế chính là cái chết của mỗi người, ngày Chúa gọi mỗi người ra khỏi thế gian đến trước toà thẩm phán. Khi nào ngày cuối hết của mỗi người hay khi nào ngày cuối hết của thế giới xẩy ra, và xẩy ra thế nào, không hẳn là điều quan trọng. Ðiều quan trọng là người tín hữu sửa soạn cho ngày đó. Làm thế nào để sửa soạn cho ngày sau hết? Trước hết người ta phải thanh toán nợ nần với Chúa và với tha nhân bằng cách làm hoà với Chúa qua bí tích cáo giải. Nếu có gia tài đáng kể, người ta cần viết di chúc để con cháu khỏi tranh chấp tố tụng lẫn nhau. Dù gia tài nhỏ bé, người ta cũng nên viết di chúc để con cháu biết ý mà tổ chức cho tang lễ của mình. Người cẩn thận còn liệt kê xem ai làm gì trong tang lễ nữa.Trong khi sống giữa thời gian, thời gian sau khi Chúa đến lần thứ nhất trong lịch sử loài người và thời gian trước khi Người sẽ trở lại trong vinh quang để kết thúc lịch sử loài người, người tín hữu không được giả bộ làm ngơ. Nếu trung thực với lòng mình, ta phải nhận thức rằng ta vẫn còn thời giờ cho việc phát triển đời sống nội tâm, và đời sống đức tin, và phát triển mối liên hệ với Chúa. Với đức tin, người tín hữu phải coi những thiên tai như động đất, bão tố, lụt lội, dịch tả .. và những tai hoạ do loài người gây nên như chiến tranh, tai nạn, khủng bố gây đổ nát, thiêu huỷ và chết chóc cho hàng trăm, hàng ngàn người như là những dấu hiệu Chúa muốn nói với ta điều gì đó. Phải chăng Chúa muốn bảo ta phải sửa soạn tâm hồn sẵn sàng để đến trước toà Chúa vì ta không biết ngày giờ nào ta phải đối diện với tử thần, ngày tận thế của đời sống cá nhân mỗi người. Các tác giả Thánh Kinh dùng ngôn ngữ khải huyền nói về chiến tranh, động đất, hoả hoạn, lụt lội .., chết chóc để cảnh giác những tâm hồn lơ là, hay đam mê sự đời. Vậy những người chứng kiến chính những thiên tai như lụt lội, hoả hoạn, động đất, chiến tranh, chết chóc trong thời đại mình đang sống có biết tự đề cao cảnh giác không?Lời cầu nguyện xin đừng quên sửa soạn cho ngày sau hết:Lạy Chúa, Chúa là khởi thuỷ và cùng đích của mọi loài mọi vật.Chúa cầm giữ vận mạng con người trong tay.Xin dạy con biết sửa soạn tâm hồn đến trước toà Chúa.Cũng xin chỉ cho con biết sống mỗi ngày,như là ngày cuối hết của đời con,để con được sống trong bình an và ơn nghĩa với Chúa. Amen.____________________________1. Xem thêm Stuhlmueller, Carrol. ‘Post-exilic Period: Spirit, Apocalyptic in Jerome Biblical Commentary. Prentice – Hall, Inc. Englewood Cliffs, New Jersey 1968. Sections 20,21-24.2. Festinger, Leon, etc. When Prophecy Fails. New York, N.Y. : Harper & Row, 1964. pp. 12-30.
Lm Trần Bình Trọng