Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

PHÚC ÂM: Mt 2, 1-12
"Chúng tôi từ phương Đông đến thờ lạy Đức Vua".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu. Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Đông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Đức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Đấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta". Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người". Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình. Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG MỞ LÒNG RA CHO ĐẤNG CỨU THẾ
Có nhiều điểm quan trọng trong Bài Phúc Âm Lễ Hiển linh giúp ta đi tìm Chúa với ơn gọi qua tiếng lương tâm ngay lành. Lần lượt ta đọc thấy sự kiện các nhà đạo sĩ nhận thấy ngôi sao lạ như dấu chỉ đi tìm vua mới sinh, Đấng sẽ có quyền uy cao cả trên nhân loại; đến sự nham hiểm của vua Hêrôđê qua lớp son đạo đức giả bằng những lời bọc vỏ khiêm tốn đạo hạnh: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cùng đền triều bái Người!" Các đạo sĩ chắc sẽ vô cùng ngạc nhiên khi ngôi sao dừng lại trước máng cỏ nghèo hèn với hình ảnh một hài nhi được sinh trong hang bò lừa, và cha mẹ Ngài lại vô cùng nghèo khó! Nhưng các ông đã xác tín đây chính là vị Vua các ông đã dong duổi khổ cực đi tìm, và các ông đã thờ lạy Ngài bằng kính dâng những lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược. Và sự kiện sau cùng soi thấu lương tâm ngay lành: đó là điềm báo cho các ông hãy tìm lối khác về, vì Hêrôđê đang tìm hãm hại Hài Nhi. Những sự kiện trên xảy ra vào những ngày đầu đời của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế. Dĩ nhiên chúng ta sẽ nghĩ đến bàn tay can thiệp của Thiên Chúa trong việc Đấng Cứu Thế giáng trần, nên không để cho Hêrôđê có thể hãm hại Ngài. Điều đó đúng, vì thuộc chương trình cứu độ Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tuy nhiên, điều chúng ta đọc được qua sự kiện trên chính là học cách xử sự của các nhà đạo sĩ với Hài Nhi Giêsu. Trước hết muốn gặp được Đức Giêsu cần phải có tâm hồn ngay lành và sẵn sàng muốn gặp Chúa. Thứ đến phải can đảm vượt các khó khăn trên đường tìm kiếm Chúa. Và trên đường tìm Chúa, rất cần phải tỉnh thức để có thể lắng nghe tiếng Chúa muốn ta làm gì, bởi quanh ta tràn đầy những nguy hiểm và bóng tối dầy đặc của tội lỗi và Satan. Sau cùng, khi gặp được Chúa, phải mở lòng ra đón lấy Ngài. Ngài có thể hiện thân trong hình trẻ sơ sinh nghèo nàn, trong thân phận những người nghèo khó, cô đơn, đau khổ, vô gia cư, không chút tiếng tăm, hoặc trong những kẻ bị xã hội ruồng bỏ, kết án là tội nhân, rác rưởi; Ngài có thể hiện thân trong những kẻ rất gần ta nhưng thường bị ta quên lãng, làm ngơ hay cư xử thậm tệ. Đức Kitô đã sinh ra trong hoàn cảnh mà người đời khó có thể nhận ra Ngài là Vua trời đất, nhưng từ khi sinh ra cho đến lúc lìa trần trên cây thập tự, Ngài đã tìm hiện thân bằng tình thương trong những loại người bị xã hội kết án ruồng bỏ, nói chung là tội nhân trước mắt họ, nhưng lại trở thành con cái Chúa trước lòng nhân hậu của Đấng Cứu Thế. Hiển Linh chính là ánh sáng tình thương của Đấng Cứu Thế soi chiếu toàn thể nhân loại sau Tin Mừng Giáng Sinh báo tin Đấng Mesia cho dân Do Thái. Hãy đi tìm Chúa với ý ngay lành và mở lòng ra cho Ngài như các đạo sĩ, ta sẽ thấy Ngài và đón nhận được Ngài. Ngài là vua tình thương và đường cứu rỗi duy nhất cho ta đó.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

12 tháng 12/2010: CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM A




PHÚC ÂM: Mt 11, 2-11


"Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi một Đấng nào khác?"


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Gioan ở trong ngục nghe nói về các việc làm của Chúa Kitô. Ông sai môn đệ đến thưa Ngài rằng: "Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác?" Chúa Giêsu bảo họ: "Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó; và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta". Khi những người được sai đến đã đi rồi, Chúa Giêsu liền nói với đám đông về Gioan rằng: "Các ngươi đi xem gì ở hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió ư? Vậy các ngươi đi xem gì? Một người ăn mặc lả lướt ư? Nhưng những người ăn mặc lả lướt thì ở nơi cung điện nhà vua. Vậy các ngươi đi xem gì? Một tiên tri ư? Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn một tiên tri nữa. Vì có lời chép về ông rằng: 'Này Ta sai sứ thần Ta đi trước mặt con, để dọn đường sẵn cho con'. Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả; nhưng người nhỏ nhất trong nước trời còn cao trọng hơn ông".
Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG HOANG ĐỊA CUỘC ĐỜI
Có lúc tình cảm nuối tiếc thời lãng mạn xa xưa ấy lại bừng lên trong lòng ta khi âm thanh của những bài hát trữ tình Rumba, Bolero hay Slow Rock thoáng vọng bên tai! Chúng ta đã đánh mất một quá khứ thơ mộng tuyệt vời. Kẻ lạ ôm lấy quá khư ấy, len lén gặm nhấm trong đêm đen, rồi tặng cho những giá trị kỷ niệm bất hủ ấy cái tên Nhạc Vàng. May mắn cho ta được sống trong tự do để thả hồn bay theo quá khứ đời mình và uống cạn những tình khúc yêu đương thiết tha làm nên cuộc đời. Còn họ thì bị mê hoặc bởi tính phù thủy lãng mạn tự do ấy! Nhưng đó chỉ còn là kỷ niệm với ta, bởi cuộc sống hiện tại đôi khi cũng như những hoang địa trống vắng khô cằn. Ta chẳng vào đó, như lời Đức Kitô, để ngắm nhìn những cây sậy phất phơ trước gió, hay những bóng hình ảo tưởng lả lướt như những cám dỗ cuộc đời. Đời ta đã một phần được làm nên bằng quá khứ; còn hiện tại vẫn đang mải mê với những giá trị lẫn lộn như mê hoặc của tự do. Và để tìm những giá trị đích thực, có lẽ phải đặt cho mình câu hỏi của Đức Kitô: Thực sự các ngươi đi xem gì ở hoang địa? Hoang địa dĩ nhiên là vùng đất khô cằn hoang vu. Mà đã hoang vu thì đồng nghĩa với hoang dã. Nhưng hoang dã lại rất gần với thiên nhiên của Thượng Đế dành cho các tạo vật của Ngài. Đức Kitô mặc hình người đã một lần chọn hoang địa để tĩnh mịch chiến đấu và chiến thắng cám dỗ. Ngài đã trả lời cho những người Do Thái rằng: nếu chọn đến hoang địa thì chỉ nhìn và tìm thấy duy nhất một Đấng cao trọng hơn cả một tiên tri (tức Gioan Tiền Hô). Đấng ấy phủ đầy quyền năng có sức làm cho người mù được thấy, kẻ què được đi, người hủi được sạch, kẻ điếc được nghe và người nghèo khó được nghe giảng Tin Mừng. Nếu đã gọi cuộc đời mình là hoang địa của quá khứ và hiện tại, dĩ nhiên lúc nào cũng vấn vương bởi những khúc tình ca lãng mạn làm nên đời ta, và bị cuốn hút quay cuồng trước sức mạnh của cám dỗ, thì chỉ mỗi bóng hình cao trọng duy nhất có thể ngự trị hồn ta là Đấng làm tác giả của hoang địa hoang vu khô cằn. Ta có thấy được bóng hình Ngài nơi mình đang bị lẫn lộn mê hoặc giữa các giá trị tự do cuộc đời không? Coi chừng những bóng hình lả lướt hay những cây sậy èo ọt phất phơ trước gió, lại là nơi nương tựa cho ta thay vì Đấng là tác giả của bài trường ca sự sống trữ tình bất diệt! Hãy lắng đọng hỏi lại lòng mình: Các ngươi đang xem gì nơi hoang địa cuộc đời?
Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

28 tháng 11/2010: CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG NĂM A

BÀI ĐỌC I: Is 2, 1-5
"Thiên Chúa quy tụ các dân tộc trong nước Người, để hưởng bình an đời đời".

Trích sách Tiên tri Isaia. Điềm Isaia con trai của Amos đã thấy về Giuđa và Giêru-salem. Điềm sẽ xảy ra trong những ngày sau hết, là núi của nhà Chúa được xây đắp trên đỉnh các núi, và núi ấy sẽ cao hơn các đồi, và các dân nước sẽ đổ về đó. Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: "Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà ?Thiên Chúa? của Giacóp. Người sẽ dạy chúng ta đường lối của Người, và chúng ta sẽ đi theo ý định của Người"; vì luật pháp sẽ ban ra từ Sion, và lời Chúa sẽ phát ra từ Giêrusalem. gười sẽ xét xử các dân ngoại và khiển trách nhiều dân tộc. Họ sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm. Nước này không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa; người ta cũng sẽ không còn thao luyện để chiến đấu nữa. Hỡi nhà Giacóp, hãy đến, và chúng ta hãy bước đi trong ánh sáng của Chúa.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 121, 1-2. 3-4a. 4b-5. 6-7. 8-9 Đáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: "Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa"

(c. 1). Xướng: 1) Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: "Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa". Hỡi Giêrusalem, chân chúng tôi đang đứng nơi cửa thành rồi.

2) Giêrusalem được kiến thiết như thành trì, được cấu tạo kiên cố trong toàn thể. Nơi đây các bộ lạc, các bộ lạc của Chúa tiến lên.

3) Theo luật pháp của Israel, để ngợi khen danh Chúa. Tại đây đã đặt ngai toà thẩm phán, ngai toà của nhà Đavít.

4) Hãy nguyện cầu cho Giêrusalem được thanh bình, nguyện cho những kẻ yêu mến ngươi được an ninh. Nguyện cho trong thành luỹ được bình an, và trong các lâu đài của ngươi yên ổn.

5) Vì anh em và bằng hữu của tôi, tôi nguyện chúc: bình an cho ngươi! Vì nhà Chúa là Thiên Chúa chúng ta, tôi khẩn cầu cho ngươi những điều thiện hảo.


BÀI ĐỌC II: Rm 13, 11-14 "Phần rỗi chúng ta gần đến".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma. Anh em thân mến, biết rằng thời này là lúc chúng ta phải thức dậy. Vì giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị. Nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và chớ lo lắng thoả mãn những dục vọng xác thịt.

Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Tv 84, 8 Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho chúng con. - Alleluia.

PHÚC ÂM: Mt 24, 37-44

"Hãy tỉnh thức để sẵn sàng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu. Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Trong thời ông Noe xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy. Cũng như trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy. Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Và có hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, còn người kia bị bỏ rơi. Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến. "Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG BẤT NGỜ


Những vần thơ "bất ngờ trời vào thu" hay "bất chợt tình yêu đến" được chuyển thành những dòng nhạc trữ tình lãng mạn cũng bất ngờ làm rung động tim ta. Nhưng đó chỉ là những tác động tâm lý biến đổi mang theo ý nghĩa nào đó phù hợp với tâm trạng thi nhân hay khách đa tình, hoặc có khi ẩn giấu bâng khuâng nơi kẻ thất tình! Mà thực, đời người nói chung đều được gói ghém trong hai chữ bất ngờ. Bất ngờ một sự sống hiện hữu trong tôi và bạn, cho dù chẳng bất ngờ tý nào trong sự quan phòng của Thượng Đế. Thế rồi cũng bất ngờ đời tôi và bạn biến đổi không ngừng theo thời gian cho phù hợp với các giai đoạn đời người. Có những bất ngờ đem đến niềm vui, nhưng cũng đầy dẫy những bất ngờ mang lại dấu ấn đau khổ khôn nguôi. Một khi đã đặt cho tên Bất Ngờ, thì chẳng ai có thể đoán nổi nó sẽ ra sao. Bằng suy nghĩ và lý luận, ai cũng biết giai đoạn sau cùng của cuộc đời sẽ tận cùng bằng sự chết; nhưng chẳng tài nào biết được cách nào và khi nào thần chết sẽ đến gõ cửa lòng ta! Thôi thì cứ gọi nó bằng tên Bất Ngờ để quen dần với nó và có thể làm bạn với nó không chừng. Và một khi quen dần với những bất ngờ cuộc đời, tôi cũng như bạn sẽ không cần thắc mắc tại sao trong Phúc âm, Đức Kitô lại thích dùng hai tiếng bất ngờ để cảnh tỉnh hồn ta. Sự bất ngờ của đời người mà Đức Kitô nhắc đến không phải là những tai nạn tiêu diệt hạnh phúc, nhưng là những bằng chứng xác thực giúp họ mở rộng con mắt đức tin và cõi lòng rộng rãi đón nhận sự thật. Con tàu Noê đâu dễ gì hoàn tất trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng ít ra cũng phải cả trăm năm đời người, thế mà thiên hạ chẳng thèm đặt câu hỏi tại sao Noê đã khùng điên tiêu xài cuộc sống vào con tàu xem ra vô nghĩa với họ. Hai người đàn ông cùng làm ruộng và hai người đàn bà cùng xay bột là hình ảnh bình thường của cuộc sống; thế nhưng một trong hai người đàn ông cũng như đàn bà được tiếp nhận, và hai người còn lại bị bỏ rơi, là một sự bất ngờ không ai đoán được. Nếu hiểu theo định luật sự sống, thì là điều đương nhiên, nhưng nếu nhìn trong khía cạnh đạo đức, thì sự bất ngờ ấy chính là sự quan phòng của Thiên Chúa. Một khi sự bất ngờ nằm trong quan phòng của Thiên Chúa, thì nó không còn là bất ngờ nữa, nhưng sẽ biến thành sự thật có thể giải thoát, mà cũng có thể kết án. Bất ngờ trời vào thu là định luật xuay vần vũ trụ; bất chợt tình yêu đến là định luật cuốn hút của tình yêu; còn bất ngờ Con Người đến là chân lý đặt nhân loại trong tình trạng tỉnh thức và bàn cân công lý. Hãy mang lấy tâm trạng thi nhân, để dùng con mắt đức tin xuyên thấu thời gian phá đi những bất ngờ, nhờ đó ta sẽ luôn sống trong trái tim yêu đương của Thiên Chúa.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Sứ điệp của Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010

SỨ ĐIỆP CỦA ĐẠI HỘI DÂN CHÚA VIỆT NAM 2010
1. Trong Năm Thánh 2010 nhân kỷ niệm 350 năm thiết lập hai địa phận tông tòa đầu tiên và 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã triệu tập Đại hội Dân Chúa, từ ngày 21 đến 25 tháng 11 năm 2010, tại Trung tâm mục vụ Tổng giáo phận Tp. HCM. Hiện diện tại đại hội, có 32 giám mục, 300 đại biểu linh mục, tu sĩ, giáo dân thuộc 26 giáo phận và các dòng tu trên cả nước. Đại hội hân hạnh đón tiếp các vị đại diện đến từ các Giáo hội Canada, Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, Thái Lan, và đại diện các cộng đoàn công giáo Việt Nam hải ngoại. Từ khắp mọi miền đất nước quy tụ về đây như anh chị em dưới một mái nhà, đây chính là thời điểm của ân sủng và kinh nghiệm quý báu Chúa ban cho Hội Thánh tại Việt Nam. Xin dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về hồng ân cao quý này. Đồng thời, ý thức rằng trong suốt thời gian Đại hội, được anh chị em tín hữu công giáo tại Việt Nam cũng như hải ngoại luôn đồng hành trong lời cầu nguyện và qua những ý kiến đóng góp cho Đại hội, xin gửi đến mọi người lời cảm ơn chân thành nhất.
2. Đại hội Dân Chúa được khai mạc trọng thể vào ngày lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, 21-11-2010, tại Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Sàigòn với sự tham dự đông đảo của anh chị em tín hữu. Cử hành lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ để khai mạc Đại hội giúp chúng tôi xác tín hơn vào sứ mạng của Hội Thánh. Chúa Kitô đã thiết lập Nước Thiên Chúa là “vương quốc của sự thật và sự sống, vương quốc thánh thiện và toàn phúc, vương quốc công chính, yêu thương và an bình” [1]. Hội Thánh Chúa Kitô có mặt trong lịch sử nhân loại với sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa trong quyền năng của Thánh Thần. Cũng thế, Hội Thánh Chúa Kitô tại Việt Nam có sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, tiếp nối sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô, góp phần kiến tạo nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên quê hương đất nước này.
3. Sứ mạng đó đòi hỏi Hội Thánh phải đổi mới không ngừng để thực sự là Hội Thánh Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt Nam. Chúng tôi xác tín rằng Hội Thánh tại Việt Nam không phát xuất từ sáng kiến và nỗ lực của con người nhưng hoàn toàn phát xuất từ Thiên Chúa, sống nhờ Ngài và hướng tới Ngài [2]. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, điều quan trọng nhất vẫn là củng cố, canh tân, đào sâu mối hiệp thông của mỗi người tín hữu cũng như của mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh Thể. Cử hành Thánh Thể phải thực sự trở thành tâm điểm trong đời sống Hội Thánh tại Việt Nam. Để được như thế, cử hành Thánh Thể cần được nối dài bằng cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, đào sâu chân lý đức tin. Ước mong rằng trong những năm sắp tới, Hội Thánh tại Việt Nam sẽ đẩy mạnh việc phổ biến và học hỏi Lời Chúa bằng những phương thế khác nhau, để Lời Chúa thực sự trở thành của ăn nuôi dưỡng tâm hồn, kim chỉ nam và ánh sáng soi dẫn mọi quyết định và chọn lựa của các tín hữu.
4. Đại hội cũng xác tín rằng để thực sự là Hội Thánh của Chúa Kitô nhập thể và nhập thế, Hội Thánh tại Việt Nam phải nhập thể vào văn hóa và lịch sử của dân tộc mình. Trong hơn 4 thế kỷ hiện diện tại Việt Nam, Hội Thánh đã góp phần không nhỏ vào đời sống và sự phát triển của đất nước. Chính những người công giáo đầu tiên đã tạo ra chữ quốc ngữ mà mọi người Việt Nam hiện đang sử dụng. Các trường công giáo đã đào tạo biết bao nhân tài cho đất nước. Cũng chính người công giáo đã đem những giá trị nhân văn thấm vào đời sống xã hội như tôn trọng sự sống và phẩm giá con người, sự bình đẳng, tình bác ái, tinh thần phục vụ, hi sinh. Tiếp nối công trình của cha ông, Hội Thánh ngày nay cũng phải dấn thân vào việc xây dựng đất nước về mọi mặt: văn hóa xã hội, cũng như kinh tế chính trị, vì ý thức rằng: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, đối với người Công giáo, không những là một tình cảm tự nhiên phải có, mà còn là một đòi hỏi của Phúc âm” [3]. Khi dấn thân xây dựng xã hội trần thế, Hội thánh “không hề muốn thay thế Chính Quyền, nhưng chỉ mong rằng trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng lẫn nhau, Hội thánh có thể góp phần mình vào đời sống của Đất nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân” [4]. Đó cũng là lời chứng cho mọi người thấy vẻ đẹp đích thực của Tin Mừng như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắn nhủ tất cả chúng ta, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em phải chứng tỏ rằng người công giáo tốt cũng là người công dân tốt” [5].
5. Hội Thánh tại Việt Nam còn phải canh tân chính mình qua nỗ lực xây dựng Hội Thánh như một gia đình, trong đó mọi người hiệp thông với nhau như anh chị em một nhà, bình đẳng với nhau trên nền tảng ơn gọi làm người và làm con Chúa, chia sẻ cùng một sứ mạng và trách nhiệm dù được thể hiện trong những bậc sống và nhiệm vụ khác nhau. Sự hiệp thông này vừa là đòi hỏi vừa là lời chứng cần thiết mà Hội Thánh phải bày tỏ trước mặt mọi người như Chúa Giêsu đã thiết tha cầu nguyện: “Xin cho họ nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong Chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21). Trong những ngày Đại hội, chúng tôi cảm nghiệm được bầu khí hiệp thông huynh đệ này khi mọi thành phần Dân Chúa sống chung với nhau như anh chị em trong một gia đình, cùng lắng nghe tiếng Chúa qua cầu nguyện, chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm và suy tư về Hội Thánh qua các bài thuyết trình, tham luận và hội thảo, với thao thức xây dựng Hội Thánh như lòng Chúa mong muốn. Sự hiện diện của đại diện các Giáo Hội chị em lại mở rộng hơn nữa chân trời hiệp thông trong Hội Thánh Chúa Kitô. Ước mong bầu khí huynh đệ này được trải rộng và thấm sâu vào đời sống Hội Thánh tại Việt Nam ở mọi cấp độ, trong mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi dòng tu, mỗi giáo phận. Để bày tỏ khuôn mặt Hội Thánh như một gia đình, đại hội kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa hợp tác chặt chẽ với nhau trong tình hiệp nhất yêu thương. Xin anh chị em giáo dân tích cực tham gia vào đời sống và sứ mạng của Hội Thánh bằng những khả năng chuyên môn Chúa ban cho mình. Các gia đình công giáo được mời gọi giữ vững và củng cố ơn gọi hôn nhân Kitô giáo, xây dựng gia đình như Hội Thánh tại gia, cái nôi của sự sống, mái ấm của tình thương và ngôi trường đầu tiên đào tạo con người toàn diện. Đối với các bạn trẻ, xin các bạn nhiệt thành tham gia vào những sinh hoạt của Hội Thánh để đem sức sống và sự tươi trẻ cho đời sống Hội Thánh. Gia đình và giáo xứ phải quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục các đức tính nhân bản cho thiếu nhi, để sau này trở nên những con người hữu ích cho xã hội và Hội Thánh. Ước mong các tu sĩ thực sự trở nên dấu chỉ và chứng nhân sống động của tình yêu vô điều kiện mà Thiên Chúa dành cho con người, nhất là những người bé mọn trong xã hội. Đại hội nhấn mạnh vai trò của các giám mục và linh mục trong Hội Thánh. Công cuộc canh tân Hội Thánh cần được bắt đầu từ hàng linh mục, vì thế ước mong các giám mục và linh mục Việt Nam không chỉ là người quản trị giỏi nhưng trước hết là người của Chúa và là những mục tử nhân lành, biết gắn bó với Chúa Giêsu trong cầu nguyện để có thể phục vụ cộng đoàn theo gương Thầy chí thánh, biết tôn trọng và phát huy vai trò người giáo dân trong tinh thần đối thoại và cộng tác.
6. Để thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trong hoàn cảnh ngày nay, Hội Thánh phải là chất xúc tác của nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên đất nước Việt Nam. Trong hai thập niên vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, có nhiều điều đáng lo ngại cho tiền đồ của dân tộc. Nạn phá thai, ly dị, ma túy, mãi dâm, sự gia tăng cách biệt giầu nghèo, tình trạng bất công, bóc lột, tham nhũng, tàn phá môi sinh… tất cả đang có chiều hướng gia tăng và là những dấu hiệu cụ thể của “nền văn hóa sự chết”. Xác tín rằng Tin Mừng là “men của tự do và tiến bộ, nguồn của tình huynh đệ, của khoan dung và hòa bình” [6], nên hơn ai hết, người công giáo Việt Nam có sứ mạng kiến tạo nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên đất nước này, đồng thời sẵn sàng đối thoại chân thành và cộng tác lành mạnh với mọi người thiện chí, không phân biệt tôn giáo hay chính kiến, nhằm phục vụ sự phát triển toàn diện của mọi người trong xã hội [7], nhất là những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Trong tinh thần đó, chúng tôi đề nghị Chính quyền Việt Nam mở rộng cánh cửa cho các tôn giáo tham gia vào việc giáo dục học đường và y tế cộng đồng, vì ích lợi của người dân và của cả dân tộc.
7. Đối chiếu với sứ mạng cao cả đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu: “Anh em phải là muối cho đời, ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13.14), chúng tôi nhìn nhận mình còn nhiều lỗi lầm thiếu sót, vì thế khiêm tốn xin Chúa và anh chị em trong cũng như ngoài Hội Thánh tha thứ cho. Hội Thánh cũng nhớ đến biết bao khổ đau, bất công, bách hại đã phải chịu trong suốt chiều dài lịch sử của mình, không phải để nuôi dưỡng oán thù nhưng để tha thứ và cầu nguyện cho những người đã bách hại Hội Thánh, theo gương Chúa Kitô là Đấng đã hoàn tất công trình cứu chuộc trong sự khó nghèo và bị bách hại [8]. Các thánh tử đạo Việt Nam vừa là gương mẫu vừa là động lực thúc đẩy Hội Thánh thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trên quê hương đất nước mình. 8. Đại hội Dân Chúa Việt Nam kết thúc nhưng lại mở ra cho những bước chân hi vọng, niềm hi vọng được khơi nguồn và hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Tất cả những ý kiến của Đại hội sẽ được đúc kết thành những đề nghị, là chất liệu chính của văn kiện hậu Đại hội, nhằm đưa ra những định hướng và kế hoạch mục vụ của Hội Thánh Việt Nam trong những năm sắp tới. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến (Kh 22,20). Đây vừa là lời cầu xin vừa diễn tả niềm khao khát và hi vọng của Đại hội. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ La Vang và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin Chúa ngự đến trong tâm hồn mỗi người chúng con và biến đổi chúng con thành môn đệ đích thực của Chúa. Xin Chúa ngự đến trong mỗi gia đình công giáo, để gia đình trở thành cộng đoàn thờ phượng Chúa, hiệp nhất yêu thương nhau và cùng nhau làm chứng cho Tin Mừng Nước Trời. Xin Chúa ngự đến và hiệp nhất tất cả chúng con trong cùng một sứ mạng yêu thương và phục vụ, quyết tâm xây dựng nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương, để dung nhan Chúa bừng sáng trên quê hương Việt Nam chúng con. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến. Làm tại Trung tâm mục vụ Tổng giáo phận Tp. HCM., Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 2010
[1] Kinh Tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua.
[2] Xem Bênêđictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2010. Cũng xem Tài Liệu Làm Việc, số 2.
[3] Thư chung 1980 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.
[4] Bênêđictô XVI, Huấn từ dành cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam dịp Ad Limina 2009.
[5] Như trên.
[6] Bênêđictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2010.
[7] Bênêđictô XVI, Thông điệp Bác Ái trong Chân Lý, số 4-6.
[8] Hiến chế tín lý về Giáo Hội Ánh Sáng Muôn Dân, số 8.
Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010(Nguồn: http://daihoidanchua.net/

Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2010

Chúa Nhật 33 Thường Niên, Năm C

SỬA SOẠN CHO NGÀY SAU HẾT MÀ KHÔNG AI BIẾT
Chúa Nhật 33 Thường Niên, Năm C
Ml 3,19-20; 2 Tx 3,7-12; Lc 21,5-19

Phụng vụ lời Chúa vào cuối năm phụng vụ đặt trước mắt người tín hữu viễn tượng của việc Chúa đến lần thứ hai vào ngày thế mạt. Khi chọn đoạn Thánh Kinh từ sách Malakhi, Giáo Hội muốn nhắc nhở cho người tín hữu về ngày của Chúa, ngày mà mặt trời công chính (Ml 3,20a) sẽ được chiếu sáng trên những kẻ kính sợ Người. Còn bài Phúc Âm đưa ra những hình ảnh về: Chiến tranh, loạn lạc (Lc 21,9), động đất, ôn dịch, đói kém, những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao (c.10), khiến người ta lầm tưởng rằng ngày chung cuộc (c.9), là ngày sau hết đã đến gần.Khi bàn về ngày sau hết, tác giả Thánh Kinh thường nại đến loại ngôn ngữ khải huyền, nghĩa là ngôn ngữ hay mẫu tư tưởng biểu tượng khó hiểu về ngày sau hết. Sách Đanien, một phần sách Êdêkien, sách Khải huyền, phần bàn về ngày cánh chung trong Phúc Âm Mát-thêu, Mác-cô và Luca, gợi lại những tai hoạ với những hình ảnh tàn phá xẩy ra trong vũ trụ như chiến tranh, động đất, bão tố, lụt lội và chết chóc.Những hình ảnh tàn phá mà các tác giả Thánh Kinh dùng để nói về ngày sau hết đã có thể xẩy ra trong quá khứ ở đâu đó trên thế giới rồi, chứ không hẳn được tiên đoán sẽ xẩy ra trong tương lai. Văn chương khải huyền được giả sử viết trước khi tai hoạ sẽ đến để cảnh giác người đọc, nhưng thực ra được viết sau khi tai hoạ xẩy ra. Ngày sau hết cũng được mô tả bằng hình ảnh khải huyền trong sách Malakhi: Ðốt cháy như hoả lò (Ml 3,19) và bằng hình ảnh biểu tượng: Mặt trời công chính (Ml 3,20a). Như vậy những hình ảnh tàn phá trong ngôn ngữ khải huyền, không hẳn nói về những biến cố sẽ xẩy ra trong ngày sau hết. Nói cách khác, ngôn ngữ khải khuyền không nhằm tiên đoán tương lai. Ý nghĩa của ngôn ngữ khải huyền chỉ có dụng ý là để cảnh giác người nghe và người đọc rằng sẽ có ngày sau hết và Thiên Chúa sẽ thống trị. Ngày sau hết là điều sẽ xẩy ra và là điều người tín hữu phải tin. Còn ngày sau hết xẩy ra như thế nào thì không hẳn như được diễn tả trong ngôn ngữ khải huyền. Việc dùng ngôn ngữ khải khuyền chỉ nhằm mục đích là để cảnh tỉnh những tâm hồn lơ là về đời sống nội tâm hoặc những tâm hồn chỉ đam mê sự đời mà thôi (1).Như vậy thì không phải hễ có chiến tranh, động đất và tai hoạ xẩy ra là ngày sau hết sắp đến. Ðền thờ Giêsusalem đã bị phá huỷ. Nhiều người đương thời cũng đã chứng kiến cảnh chiến tranh, động đất, thiên tai, nhưng người ta vẫn sống, thế giới vẫn tồn tại. Vậy thì lời Chúa dùng ngôn ngữ khải huyền trong Phúc Âm hôm nay muốn nhắc nhở cho người tín hữu rằng sẽ có ngày sau hết. Tuy nhiên khi thấy những tai hoạ xẩy đến thì không có nghĩa là ngày sau hết đã gần.Thánh Phaolô đã nhận ra lỗi lầm đó nơi một số tín hữu Thêxalônica. Họ nghĩ rằng ngày sau hết gần đến, nên họ chỉ ăn không ngồi rồi để đợi chờ và còn sống vô kỷ luật nên đã bị thánh Phaolô cảnh giác, bảo họ: Hãy ở yên mà làm việc (2Tx 3,12). Và đó là quan niệm bi quan, chán đời, không thực tế. Trong quá khứ, có nhóm giáo phái Kitô giáo tại Hoa Kỳ tiên đoán ngày tận thế sẽ đến vào khoảng thời gian từ 21-3-1843 đến 21-3-1844 (2). Qua thời gian đó, không có gì xẩy ra, họ lại đề nghị năm khác cho ngày tận thế.Trước khi bước sang thiên niên kỷ thứ ba, người ta cũng nghe những tin giật gân từ những tiên tri giả tung ra và được những cơ sở truyền thông loan tải, cho rằng sẽ có tai hoạ xẩy ra và rồi ngày tận thế sẽ đến vào năm 2000. Có những người nhẹ dạ, tìm đến nhà thờ xin nhiều nước thánh để rảy hầu xua đuổi ma quỉ (1Pr 5,8) và ra tiệm mua nhiều nến để đốt trong những ngày họ cho là đen tối sắp đến (Ge 2,10; Ge 4,15; Mt 24,29; Mk 13,24). Trong Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu bảo: Anh em đừng có theo họ (Lc 21,8). Về vấn đề kỹ thuật, người ta bàn nhiều đến Y2K vào năm 2000 trong máy vi tính. Người ta sợ sang năm 2000 máy vi tính không in ra số tiền lương hay những dữ kiện khác được. Sợ là vì trước đó thay vì ghi bốn số của năm nọ năm kia vào máy vi tính như năm 1999, người ta chỉ ghi hai số cuối cho lẹ là ’99. Sang năm 2000, thi người ta sợ là máy vi tính có thể đọc là năm 1900 hay năm của số không. Do đó máy cũng không in ra được gì, không in ra được tiền lương, không ra được món hàng để đặt mua.Là người Công giáo, ta tin Chúa Cứu Thế sẽ đến vào ngày thế mạt như người tín hữu tuyên xưng sau khi truyền phép Thánh Thể: Chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến. Sự việc Chúa đến lần thứ hai là đối tượng của đức tin của người Công giáo. Trong tất cả những lần đàm thoại về ngày thế mạt (cánh chung), Chúa Giêsu không bao giờ ám chỉ về thời gian khi nào ngày sau hết (tận thế) sẽ đến. Vậy ngày tận thế có thể được hiểu là ngày sau hết của đời sống mỗi người ở trần thế, hoặc là ngày tận cùng của thế giới. Nếu hiểu ngày tận thế là ngày cuối cùng của cuộc sống mỗi ngườì ở trần thế, thì ngày tận thế chính là cái chết của mỗi người, ngày Chúa gọi mỗi người ra khỏi thế gian đến trước toà thẩm phán. Khi nào ngày cuối hết của mỗi người hay khi nào ngày cuối hết của thế giới xẩy ra, và xẩy ra thế nào, không hẳn là điều quan trọng. Ðiều quan trọng là người tín hữu sửa soạn cho ngày đó. Làm thế nào để sửa soạn cho ngày sau hết? Trước hết người ta phải thanh toán nợ nần với Chúa và với tha nhân bằng cách làm hoà với Chúa qua bí tích cáo giải. Nếu có gia tài đáng kể, người ta cần viết di chúc để con cháu khỏi tranh chấp tố tụng lẫn nhau. Dù gia tài nhỏ bé, người ta cũng nên viết di chúc để con cháu biết ý mà tổ chức cho tang lễ của mình. Người cẩn thận còn liệt kê xem ai làm gì trong tang lễ nữa.Trong khi sống giữa thời gian, thời gian sau khi Chúa đến lần thứ nhất trong lịch sử loài người và thời gian trước khi Người sẽ trở lại trong vinh quang để kết thúc lịch sử loài người, người tín hữu không được giả bộ làm ngơ. Nếu trung thực với lòng mình, ta phải nhận thức rằng ta vẫn còn thời giờ cho việc phát triển đời sống nội tâm, và đời sống đức tin, và phát triển mối liên hệ với Chúa. Với đức tin, người tín hữu phải coi những thiên tai như động đất, bão tố, lụt lội, dịch tả .. và những tai hoạ do loài người gây nên như chiến tranh, tai nạn, khủng bố gây đổ nát, thiêu huỷ và chết chóc cho hàng trăm, hàng ngàn người như là những dấu hiệu Chúa muốn nói với ta điều gì đó. Phải chăng Chúa muốn bảo ta phải sửa soạn tâm hồn sẵn sàng để đến trước toà Chúa vì ta không biết ngày giờ nào ta phải đối diện với tử thần, ngày tận thế của đời sống cá nhân mỗi người. Các tác giả Thánh Kinh dùng ngôn ngữ khải huyền nói về chiến tranh, động đất, hoả hoạn, lụt lội .., chết chóc để cảnh giác những tâm hồn lơ là, hay đam mê sự đời. Vậy những người chứng kiến chính những thiên tai như lụt lội, hoả hoạn, động đất, chiến tranh, chết chóc trong thời đại mình đang sống có biết tự đề cao cảnh giác không?Lời cầu nguyện xin đừng quên sửa soạn cho ngày sau hết:Lạy Chúa, Chúa là khởi thuỷ và cùng đích của mọi loài mọi vật.Chúa cầm giữ vận mạng con người trong tay.Xin dạy con biết sửa soạn tâm hồn đến trước toà Chúa.Cũng xin chỉ cho con biết sống mỗi ngày,như là ngày cuối hết của đời con,để con được sống trong bình an và ơn nghĩa với Chúa. Amen.____________________________1. Xem thêm Stuhlmueller, Carrol. ‘Post-exilic Period: Spirit, Apocalyptic in Jerome Biblical Commentary. Prentice – Hall, Inc. Englewood Cliffs, New Jersey 1968. Sections 20,21-24.2. Festinger, Leon, etc. When Prophecy Fails. New York, N.Y. : Harper & Row, 1964. pp. 12-30.
Lm Trần Bình Trọng

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

7 tháng 11/2010: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN NĂM C

BÀI ÐỌC I: 2 Mcb 7, 1-2. 9-14
"Vua vũ trụ sẽ làm cho chúng tôi được sống lại trong cuộc sống đời đời". Trích sách Macabê quyển thứ hai. Trong những ngày ấy, có bảy anh em bị bắt làm một với mẹ mình, và bị vua cho đánh bằng roi da và roi gân bò, bắt ép ăn thịt heo mà lề luật đã cấm. Nhưng người anh cả của chúng tâu vua rằng: "Bệ hạ còn hỏi han và muốn dò xét chúng tôi làm chi? Chúng tôi sẵn sàng chịu chết hơn là phạm đến lề luật Thiên Chúa đã truyền cho tổ phụ chúng tôi". Khi sắp thở hơi cuối cùng, người con thứ hai tâu vua rằng: "Hỡi vua độc ác kia, vua chỉ cất mất mạng sống chúng tôi ở đời này, nhưng Vua vũ trụ sẽ làm cho chúng tôi, là những kẻ đã chết vì lề luật của Người, được sống lại trong cuộc sống đời đời". Sau khi người con thứ hai chết, thì đến người con thứ ba chịu cực hình, tên lý hình bảo cậu le lưỡi, cậu liền le lưỡi, dõng dạc giang hai tay ra và nói một cách tin tưởng rằng: "Tôi được Trời ban cho các phần thân thể này, nhưng giờ đây vì lề luật của Thiên Chúa, tôi khinh chê chúng, bởi tôi trông cậy rằng Người sẽ ban lại cho tôi các phần thân thể ấy". Nhà vua và những kẻ tuỳ tùng của ông lấy làm bỡ ngỡ thấy lòng mạnh bạo của cậu trẻ coi các cực hình như không. Người con thứ ba chết rồi, thì người ta bắt người con thứ tư chịu cùng một cực hình. Lúc sắp chết, cậu nói rằng: "Thà chịu chết do tay người đời mà trông cậy Thiên Chúa sẽ cho sống lại thì hơn: Phần vua, vua sẽ không được sống lại để sống đời đời đâu".

Ðó là lời Chúa.

ÐÁP CA: Tv 16, 1. 5-6. 8b và 15 Ðáp: Lạy Chúa, khi thức giấc, con no thỏa nhìn chân dung Chúa (c. 15b).

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin nghe điều chính nghĩa của con, xin để ý đến lời con kêu cứu, lắng tai nghe tiếng con thốt ra tự cặp môi chân thành.

2) Bước con đi bám chặt đường lối của Ngài, chân con đã không hề xiêu té. Con kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời con, lạy Chúa, xin lắng tai về bên con, xin nghe rõ tiếng con.

3) Xin che chở con trong bóng cánh của Ngài. Phần con, nhờ công chính, sẽ được thấy thiên nhan, khi thức giấc, con no thỏa nhìn chân dung Chúa.


BÀI ÐỌC II: 2 Tx 2, 15 - 3, 5

"Chúa làm cho lòng anh em bền vững trong mọi việc làm và lời nói tốt lành". Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica. Anh em thân mến, nguyện xin Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và Thiên Chúa là Cha chúng ta, Ðấng đã thương yêu chúng ta và dùng ân sủng của Người mà ban cho chúng ta sự an ủi đời đời và lòng cậy trông tốt lành, xin Người khuyên bảo và làm cho lòng anh em bền vững trong mọi việc làm và lời nói tốt lành. Anh em thân mến, ngoài ra, xin anh em hãy cầu nguyện cho chúng tôi, để lời Thiên Chúa chóng lan tràn và được vinh hiển như việc đã thể hiện nơi anh em, và để chúng tôi thoát khỏi tay những kẻ lầm lạc và xấu xa: vì không phải hết mọi người đều có lòng tin. Nhưng Thiên Chúa là Ðấng trung thành, Người sẽ làm cho anh em được kiên vững và gìn giữ anh em khỏi sự dữ. Chúng tôi tin tưởng anh em trong Chúa: những điều chúng tôi truyền dạy, anh em hiện đang thi hành và sẽ còn thi hành. Nguyện xin Chúa hướng lòng anh em đến tình yêu Thiên Chúa và lòng kiên nhẫn của Ðức Kitô.

Ðó là lời Chúa.

ALLELUIA: Lc 21, 36 Alleluia, alleluia! - Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người. - Alleluia.


PHÚC ÂM: Lc 20, 27-38

"Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống". Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, Môsê đã viết cho chúng tôi: Nếu ai có một người anh cưới vợ, rồi chết đi mà không có con, thì người em phải cưới người vợ goá đó, để cho anh mình có kẻ nối giòng. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ rồi chết mà không có con. Người kế tiếp cưới vợ goá đó, rồi cũng chết không con. Người thứ ba cũng cưới người vợ goá đó. Và tất cả bảy người đều cưới như vậy và đều chết mà không để lại người con nào; sau cùng người thiếu phụ đó cũng chết. Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai trong các người ấy? vì tất cả bảy người đều lấy người ấy làm vợ". Chúa Giêsu trả lời họ rằng: "Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa".

Ðó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG TỰ DO VĨNH CỬU
Người ta thi vị hoá sự chết và gọi chết là đi xuống ngàn đời, một sự xa cách thăm thăm ngàn trùng với sự sống. Quả thực chết luôn đối nghịch với sống, bởi người chết luôn im lặng bí mật, chỉ người sống mới ồn ào tranh cãi, nói năng. Và thực tế là không ai muốn chết cả, vì chết là ngõ cụt của mọi ước mơ, hy vọng và hạnh phúc đang nắm bắt trong tầm tay của sự hiện hữu. Đối với phái Sađốc trong Phúc âm hôm nay, vấn đề không phải là chết, nhưng là không tin có sự phục sinh của sự chết nơi con người. Họ có thể được gán cho danh xưng hệ phái hiện sinh luôn day dứt và thao thức với sự sống hiện tại, để từ đó tỏa ra nỗi khát vọng hưởng thụ vội vã mảnh đời mau qua trong những chụp bắt hoặc nắm bắt hữu hình. Nhưng đó lại là ngõ cụt của sự hiện hữu. Ngược lại, Đức Kitô xác định minh nhiên về sự sống, nhất là sự sống lại trường tồn của đời người, chẳng những bằng niềm tin vào Ngài, mà còn bằng thực tế phục sinh nơi thân xác của Ngài sau khi đã yên giấc trong mộ ba ngày. Riêng trong bài Phúc âm hôm nay, Ngài mở ra cho con người sự bừng sáng của sự hiện hữu trường tồn: Khi sống lại, người ta không còn cưới vợ gả chồng, nhưng sẽ sống như các thiên thần trong Nước Thiên Chúa. Ở cuộc sống hiện tại, người ta không muốn mất đi sự sống được gắn liền với các "khâu" cuộc đời mà họ đã xây dựng. Thực ra, nó chỉ là những gì quá nhỏ bé nếu đem so với thế giới bao la như mênh mông vô tận. Những người Sađốc nêu vấn nạn không tin vào sự sống lại với Chúa Giêsu, ngoài cái "trick" sau này cô sẽ là vợ ai trong bảy anh em cô đã lấy làm chồng ở đời này, quả thực còn tố cáo nỗi khát vọng hưởng thụ của con người chỉ có trong tầm tay hôm này. Như thế, ta có thể nói, sự giới hạn của sự sống trong thân xác chính là cản trở mở ra thế giới bao la siêu việt và vĩnh cửu. Nên sự chết từ đó sẽ không còn là việc đi xuống ngàn đời hoặc im lặng thăm thẳm ngàn trùng, nhưng sẽ là sự giải thoát sống động và chân thật cái giới hạn tù đày của thân xác đời này. Việc sống như các thiên thần của con người sau sự phục sinh của họ mà Chúa Giêsu mạc khải chính là sự vô biên của sự sống bất tận. Người ta sẽ không còn bị lệ thuộc bởi vật chất "tro bụi" trong thân xác nữa, nhưng sẽ tự do trong suốt vượt mọi biên giới của sự sống hiện tại. Chúa Kitô phục sinh là hiện thân của sự tự do này. Bởi thế, khi ngắm nhìn người chết, ta sẽ thấy nỗi bình yên vô tận và quyền năng của tinh thần bất tử đang bao bọc chính ta. Người ta có thể gọi đó là tự do vĩnh cửu, vì nó luôn sống động, di chuyển và biến hóa trong sự phục sinh với Đức Kitô, và nhất là hòa tan trong sự sống thật của Thiên Chúa, để có thể luôn sống trong trạng thái "như các thiên thần".

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

Chúa Nhật XXX Thường Niên C

Được Nên Công Chính

Lc 18:9-14: 9 Với những kẻ tự tín rằng mình là công chính và khinh miệt người khác, Ngài nói ví dụ này: 10 "Hai người lên Ðền thờ cầu nguyện, một người là Biệt phái, và người kia là một người thu thuế. 11 Người Biệt phái đứng sững mà cầu nguyện nơi mình thế này: "Lạy Thiên Chúa, tôi đội ơn Người, vì tôi không phải như những người khác, gian tham, bất lương, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia. 12 Mỗi tuần tôi ăn chay hai lần, tôi nộp thuế thập phân về hết mọi vật tôi mua". 13 Còn người thu thuế đứng lẻn đàng xa, không dám ngước mắt lên trời, nhưng đấm ngực mà rằng: "Lạy Thiên Chúa, Xin khấng thương tôi là đứa tội lỗi!" 14 Ta bảo các ngươi: Người này xuống về nhà thì đã được giải án tuyên công, khác với người kia! Vì phàm kẻ nào nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, còn kẻ hạ mình xuống sẽ được nhắc lên".

Trong văn mạch chung bàn về việc lại đến của Con Người, dụ ngôn người Pharisêô và người thu thuế không bàn đến sự kiên trì cầu nguyện như đoạn trước nữa (18:1-8), mặc dù có nói đến sự cầu nguyện của người thu thuế (18:13), mà thái độ nội tâm phải có để có thể đến với Thiên Chúa khi Nước của Người đến. Điều nầy liên kết đoạn nầy với đoạn kế tiếp, nói đến việc Chúa Giêsu muốn các trẻ nhỏ đến gần Người (18:15-17). Đoạn nầy được phân chia như sau: - Dẫn vào dụ ngôn và mục đích (c. 9); - Câu chuyện của người Pharisêô và thu thuế (c. 10-13); - Kết luận (c. 14). Chủ đề chính của đoạn là bàn về sự công chính (c. 9.11.14). Chữ “dikaios” “dikaioō” đóng khung đoạn nầy. Dụ ngôn trình bày hình ảnh của người Pharisêô tự cho mình không thuộc hạng những người bất chính, và người thu thuế nhìn nhận mình là người tội lỗi. Tuy nhiên, cuối cùng Chúa Giêsu cho thấy ai sẽ được Người tuyên bố là công chính.

Dẫn vào dụ ngôn và mục đích (c. 9)

Chúa Giêsu tiếp tục kể dụ ngôn, và lý do của dụ ngôn được nêu ra ngay từ đầu (x. 18:1; 19:11) là “nhắm vào”, pros, (x. 20:19) những người “tự tin là mình công chính và khinh miệt những người còn lại”. Đối tượng của dụ ngôn, được xác định và hạn chế, ám chỉ những người Pharisêô (x. 16:14-15). Một đàng họ lấy sự công chính như là nền tảng cho họ để tin vào chính mình; “hoti” dịch là “bởi vì”, sự công chính được xem như là sự kiện. Sự “công chính” nầy sẽ được hiểu như thế nào, và sẽ được kể ra trong lời của người Pharisêô (18:11-12). Động từ peithō, từ gốc có nghĩa là “buộc vào”. Động từ nầy, có epi theo sau, có nghĩa là “lệ thuộc”. Những người được nói đây lệ thuộc hay buộc mình vào chính bản thân họ, dựa trên sự công chính của họ. Khác với người thu thuế, dựa vào Thiên Chúa. Đàng khác, họ “khinh miệt những người còn lại” (c. 9b). Động từ “exoutheneō”, có nghĩa rất mạnh là “khinh miệt”, là xem người khác không ra chi, chế nhạo họ (x. 23:11) và loại bỏ họ (x. Cv 4;11). “Loipos”, những người còn lại. Như thế, dựa trên sự công chính, những người nầy đặt mình tách ra khỏi “những người còn lại”, và khinh miệt họ.

Dụ ngôn người Pharisêô và người thu thuế

Các câu 10-13 trình bày câu chuyện, ngắn gọn, đối xứng mà không cân bằng. Sau ghi nhận sự kiện chung là cả hai người lên đền thờ cầu nguyện (c. 10), Luca dành hai câu trình bày thái độ và những gì người Pharisêô nói về chính mình (cc. 11-12); trong khi về người thu thuế chỉ trong một câu (c. 13). Trái lại, trong câu kết luận, Luca chú tâm nhiều hơn trên người thu thuế (c. 14). Mục đích lên đền thờ là để cầu nguyện (x. 1:10; 2:37; Cv 3:1). Hành trình ngược lại là về nhà (c. 14a). Đền thờ là nơi dành cho mọi người đến để cầu nguyện và thờ phượng Thiên Chúa (2:27); nên không có phân biệt nào cả giữa hai người “một người là… người kia là”; họ chỉ khác nhau ở cuối dụ ngôn (c. 14). Tuy nhiên, đền thờ là nơi có tính xã hội, người Pharisêô cũng muốn tỏ vai trò và quyền hành của họ (x. 20:1); ở đây sự công chính của họ.

Người Pharisêô (cc. 11-12)

Về mỗi người, Luca trình bày tư thế khi cầu nguyện, thái độ và nội dung lời cầu nguyện của họ. Người Pharisêô đứng, histēmi. Động từ nầy chắn hẳn ám chỉ tư thế đứng thẳng, hướng về người đang đối thoại (x. 19:8). Đứng cầu nguyện là tư thế thường thấy giữa người do thái (1 Sam 1:26; 1 V 8:14, 22; Mt 6:5; Mc 11:25). Vì người thu thuế “đứng đàng xa” trong đền thờ, có nghĩa là người Pharisêô đứng phía trước. Khi cầu nguyện, ông kể lể rất dài (động từ ở thể quá khứ chưa hoàn thành). Ở đây có một khó khăn về bản văn: nếu pros heauton (c. 11a) đi theo động từ “đứng”, nó nghĩa là người Pharisêô “đứng riêng”, so sánh với người thu thuế đứng “đàng xa”. Nếu pros heauton đi theo động từ “cầu nguyện”, có nghĩa là người Pharisêô “tự nói với chính mình”. Tuy nhiên, điểm chung trong cả hai trường hợp là người Pharisêô tách mình ra khỏi người khác và cả Thiên Chúa nữa.

Người Pharisêô nói về đời sống đạo đức của mình. Ho Theos, ở thể nominative được hiểu như vocative “Lạy Chúa!”. Ông tạ ơn về những điều đang diễn ra trong đời sống của ông (động từ “tạ ơn” ở thì hiện tại). Dẫn vào danh sách đầu tiên (c. 11b), ông đặt mình tách khỏi số “những người còn lại”, loipoi (cc. 9.11). Ông không “giống như” họ, hay không “như” người thu thuế. “Những người còn lại” nầy như thể đều bị xem là trộm cắp, bất chính, ngoại tình; người thu thuế là thí dụ điển hình cho những người như thế. Sự phân biệt của ông phản ánh suy nghĩ của người thời đó về những người nầy (5:29-30; 7:34; 15:1). Trong danh sách thứ hai (c. 12), ông liệt kê những việc đạo đức cá nhân đang làm để chứng minh ông “không giống như” những người khác. Cả hai động từ “ăn chay” và “đóng góp” đều ở thì hiện tại. Ông đưa ra hai việc tiêu biểu mà người Pharisêô thường làm và hãnh diện về những việc đó: ăn chay (x. 5:33; Mt 9:14); đóng góp cho đền thờ (11:42; Mt 23:23). Sabbaton, ở đây hiểu là một “tuần lễ”, chứ không phải là ngày sabbát, khó có thể hiểu là ăn chay hai lần trong một ngày sabbát. Những điều người Pharisêô kể ra đây thuộc về luật buộc chung. Người nầy hãnh diện vì ông chu toàn tất cả và xem đó như công nghiệp của ông.

Người thu thuế (c. 13)

Tư thế, thái độ và lời cầu nguyện của người nầy khác hẳn với người Pharisêô. “Đứng đàng xa” không chỉ xác định khoảng cách không gian, mà còn cho thấy nơi của người đang đứng đó không phải là chỗ chính và quan trọng. Người phú hộ trong âm phủ (16:23), Phêrô ngoài dinh thượng tế (22:54), những người biết Chúa và các phụ nữ xa nơi Chúa chịu treo trên thánh giá (23:49). Như thế, vị trí “đằng xa” của người thu thuế chắc chắn không phải là ở phần chính trong đền thờ như vị trí người Pharisêô đang đứng. Ông “không muốn ngay cả ngước mắt lên trời”. Luca dùng từ phủ định “ouk…oude” để nhấn mạnh ước muốn của ông. “Ngước mắt lên trời” là để nhìn thấy phúc lành (6:22); ơn cứu độ (16:23; 21:28) và vinh quang của Thiên Chúa (Cv 1:9). Người thu thuế từ chối cách quyết liệt điều nầy vì biết mình không xứng đáng chút nào trước mặt Thiên Chúa. Hành vi “đấm ngực” là dấu hiệu tang chế (x. 8:52), hay thống hối (23:48). Giống như người Pharisêô, người thu thuế kêu cùng Thiên Chúa: “Lạy Chúa! ”, nhưng nội dung khác hẳn “Xin tỏ lòng khoan nhân với tôi, một người tội lỗi”. Động từ “hilaskomai” có nghĩa là “nguôi giận” “giao hòa với ai”. Khi ở thể thụ động, động từ có nghĩa là “tỏ ra quảng đại”, “tỏ lòng thương xót”. Thiên Chúa thường là chủ ngữ của hành động nầy. Người thu thuế xin Thiên Chúa tỏ lòng khoan nhân đối với ông và tha thứ cho ông là người tội lỗi. Tiếng kêu cầu nầy vọng lại lời cầu xin của các hối nhân trong các Thánh vịnh (24:11; 79:9). Như thế, người thu thuế vừa nhận biết Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ, vừa nhận biết mình tội lỗi, nên ông đã có thái độ và hành động xứng hợp; đồng thời đã tìm kiếm lòng thương xót chữa lành và giao hoà từ nơi Người.

Kết luận (c. 14) mở đầu với lời “Tôi nói với các ông” (7:26.28; 11:8; 12:5, …) để nhấn mạnh uy quyền trong dạy dỗ và phán quyết của Chúa Giêsu. Người thu thuế bây giờ được đặt lên trước. Ông được Chúa Giêsu tuyên bố là “được nên ông chính”, trong khi người Pharisêô xem là người tiêu biểu cho hạng người bất chính (c. 11). Còn người Pharisêô tự xem mình là người “công chính” (c.1), không được kể là công chính trước mặt Thiên Chúa; họ có thể được xem là công chính trước mặt con người (x. 16:15). Phần thứ hai của câu kết luận (c. 14b), lập lại câu kết của trình thuật 14:8-11. Áp dụng của nó có khác đi. Luca xem người Pharisêô đã nâng mình lên trước mặt Thiên Chúa, khi ông kể ra những điều ông đã tuân giữ theo lề luật. Ông xem đó là sự công chính của riêng ông, và không cần gì đến Thiên Chúa cả! Trong khi người thu thuế được xem là người hạ mình trước mặt Thiên Chúa, vì ông đã thống hối và cầu xin Thiên Chúa làm cho ông nên công chính.

Điều Thiên Chúa cần nơi con người là lòng thống hối để được Người làm cho nên công chính. Việc tuân giữ lề luật không làm cho con người nên công chính khi không nhận biết Đấng Công Chính và nhận sự thánh hoá từ nơi Người. Không dừng lại ở lề luật và cho mình là công chính vì đã tuân giữ chúng.

Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến