Thứ Hai, 3 tháng 5, 2010

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2010

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH NĂM C

2 tháng 5/2010: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH NĂM C
BÀI ĐỌC I: Cv 14, 20b-26 (Hl 21-27) "Các ngài thuật lại những gì Thiên Chúa đã làm với các ngài". Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, Phaolô và Barnaba trở lại Lystra, Icôniô và Antiôkia, củng cố tinh thần các môn đồ, khuyên bảo họ giữ vững đức tin mà rằng: "Chúng ta phải trải qua nhiều nỗi gian truân mới được vào nước Thiên Chúa". Nơi mỗi hội thánh, các ngài đặt những vị niên trưởng, rồi ăn chay cầu nguyện, trao phó họ cho Chúa là Đấng họ tin theo. Sau đó, các ngài sang Pisiđia, đi đến Pamphylia. Sau khi rao giảng lời Chúa tại Perghê, các ngài xuống Attilia, rồi từ đó xuống tàu trở về Antiôkia, nơi mà trước đây các ngài đã được trao phó cho ơn Chúa để làm công việc các ngài mới hoàn thành. Khi đến nơi, các ngài tụ họp giáo đoàn, thuật cho họ nghe những gì Thiên Chúa đã làm với các ngài và đã mở lòng cho nhiều dân ngoại nhận biết đức tin. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 144, 8-9. 10-11. 12-13ab Đáp: Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa, con sẽ chúc tụng danh Chúa đến muôn đời (c. 1). Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa.

2) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài.

3) Để con cái loài người nhận biết quyền năng và vinh quang cao cả nước Chúa. Nước Ngài là nước vĩnh cửu muôn đời, chủ quyền Ngài tồn tại qua muôn thế hệ.


BÀI ĐỌC II: Kh 21, 1-5a "Thiên Chúa sẽ lau khô mọi giọt lệ ở mắt họ". Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan. Tôi là Gioan đã thấy trời mới và đất mới. Vì trời cũ và đất cũ đã qua đi, và biển cũng không còn nữa. Và tôi là Gioan đã thấy thành thánh Giêrusalem mới, tự trời xuống, từ nơi Thiên Chúa: tề chỉnh như tân nương được trang điểm cho tân lang của mình. Và tôi nghe có tiếng lớn tự ngai vàng phán ra: "Đây là Thiên Chúa ở với loài người, và chính Thiên Chúa sẽ ở với họ. Người sẽ lau khô mọi giọt lệ ở mắt họ. Sự chết chóc sẽ không còn nữa, cũng không còn than khóc, không còn kêu la, không còn đau khổ: bởi vì các việc cũ đã qua đi". Và Đấng ngự trên ngai vàng đã phán rằng: "Này đây, Ta đổi mới mọi sự". Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 13, 34 Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con". - Alleluia.


PHÚC ÂM: Ga 13, 31-33a. 34-35

"Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau". Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan. Khi Giuđa ra khỏi phòng tiệc, Chúa Giêsu liền phán: "Bây giờ Con Người được vinh hiển và Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người. Nếu Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người, thì Thiên Chúa lại cho Người được vinh hiển nơi chính mình, và Thiên Chúa sẽ cho Người được vinh hiển. "Các con yêu quý, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa thôi. Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau. Như Thầy đã yêu thương các con, thì các con cũng hãy yêu thương nhau. Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG TÌNH YÊU KITÔ GIÁO BẮT ĐẦU TỪ GIA ĐÌNH
Tình yêu Kitô giáo quá bao la, đến nỗi khiến nhiều ngưới không biết bắt đầu từ đâu, và kết cục sẽ chỉ sống sự mơ hồ của Tình Bác Ái Kitô giáo! Mỗi người Kitô hữu đều thuộc nằm lòng điều kết luận của Mười Điều Răn: Mến Chúa trên hết mọi sự, và yêu người như chính mình. Cả hai quyện lẫn nhau để đưa đến cùng đáp số cho chữ Yêu. Tuy nhiên để có đáp số đúng, thiết tưởng nên bắt đầu cảm nghiệm và sống chữ yêu trọn vẹn trong gia đình trước, vì nơi đó là nôi của tình yêu thiết thực đúng nghĩa nhất của tình yêu Kitô giáo. Để hiểu được tính thiết thực nhất của tình yêu nơi những người thân yêu trong gia đình, cần phân biệt rõ một số cách yêu thường thấy quanh ta trên đời: Như tình yêu ích kỷ, tức yêu để có lợi, chứ không yêu chính con người với cuộc đời; tình yêu lãng mạn, tức yêu để thỏa mãn nhu cầu yêu, tức yêu vì đam mê của mình, đặc tính của tình trai gái; tình yêu tự nhiên, tức yêu hai chiều đổi chác, cả hai đều có lợi, thế thôi! tình yêu một cách chung chung, tức chẳng gắn bó với ai hết, nghĩa là chẳng yêu gì cả; ... Và tình yêu Kitô giáo: Yêu như Chúa yêu. Những người thân yêu trong gia đình trước hết và trên hết cần thấu hiểu ý nghĩa yêu như Chúa yêu, mới có thể đi hết trong sự trung thành của tình yêu thân thiết để phản ảnh tình yêu Kitô giáo. Trong thực tế, thật đau thương khi phải nói lên sự thật bất hạnh này là trong rất nhiều gia đình Kitô giáo, sự bất hòa, ghen ghét và hận thù giữa anh chị em ruột thịt với nhau, và từ đó đưa đến sự ghét bỏ cha mẹ hoặc ghét bỏ con cái đã xảy ra! Tại sai vậy? Thưa bởi vì nền tảng tình yêu Kitô giáo trong gia đình bị đổ bể chỉ vì sự ích kỷ đã tạo nên ghen ghét và thụ động nơi anh chị em ruột thịt và cha mẹ của họ. Sự ghen ghét có thể do tự nhiên vì đặc tính thể xác hoặc tinh thần, hoặc do đặc ân nhận được không đồng đều trong gia đình. Sự thụ động được tạo nên có thể do chỉ ước mong như sự ích kỷ tuyệt đối "buộc người khác" phải nghĩ, phải lo lắng, phải cảm thông, và phải tặng ban cho mình, trong khi ngược lại không làm gì cho ai trong gia đình mình! Nên học yêu như Chúa trong gia đình có thể nói là căn bản để thực hiện luật yêu của Chúa. Chúa yêu vô vụ lợi. Chúa cho đi tất cả. Chúa yêu cả người thân lẫn kẻ thù. Chúa tha thứ tất cả. Chúa nâng đỡ tất cả. Chúa yêu chỉ vì mọi người đều là con của Chúa. Tình yêu của Chúa cho con người rất phổ quát, đồng đều, nhưng cũng rất "cá nhân", nghĩa là Ngài yêu từng người một như người yêu của Ngài. Nếu trong gia đình mỗi thành phần đều ấp ủ nhau trong tình yêu như Chúa yêu, sẽ nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi nhau, đúng như câu hát "đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời". Và một khi thực hiện được tình yêu Kitô giáo trong gia đình, ta mới có thể chia sẻ được tình Chúa trong các môi trường sống giữa xã hội.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

25 tháng 4/2010: CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM C

BÀI ĐỌC I: Cv 13, 14. 43-52 "Đây chúng tôi quay về phía các dân ngoại". Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, Phaolô và Barnaba sang qua Perghê và đến Antiôkia xứ Pisiđia; ngày Sabbat, các ngài vào ngồi trong hội đường. Có nhiều người Do-thái và tòng giáo theo các ngài, được các ngài khuyên bảo bền đỗ trong ơn nghĩa Chúa. Đến ngày Sabbat sau, hầu hết cả thành đều đến nghe lời Thiên Chúa. Các người Do-thái thấy đám đông dân chúng, thì đâm ghen tương, nói lộng ngôn, chống lại các điều Phaolô giảng dạy. Phaolô và Barnaba can đảm nói rằng: "Phải giảng lời Thiên Chúa cho các ngươi trước tiên, nhưng vì các ngươi từ chối lời Thiên Chúa và tự cho mình không xứng đáng sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía các dân ngoại; vả lại Chúa đã truyền lệnh cho chúng tôi rằng: "Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi nên ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất". Nghe vậy các dân ngoại hân hoan ca tụng lời Chúa; những ai được Chúa tiền định hưởng sự sống đời đời, thì tin theo, nên lời Chúa được rao giảng khắp cả vùng. Những người Do-thái xúi giục các phụ nữ khá giả đã tòng giáo và các thân hào trong thành bắt bớ Phaolô và Barnaba, rồi trục xuất hai ngài ra khỏi ranh giới xứ họ. Còn hai ngài, sau khi phủi bụi chân lại cho họ, hai ngài đi đến Icôniô. Còn các môn đồ thì đầy hân hoan và Thánh Thần. Đó là lời Chúa. ĐÁP CA: Tv 99, 2. 3. 5 Đáp: Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi (c. 3c). Hoặc đọc: Alleluia. Xướng: 1) Hãy phụng sự Chúa với niềm vui vẻ; hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá. 2) Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc quyền sở hữu của Người, ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi. 3) Vì Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người còn tới muôn muôn thế hệ.

BÀI ĐỌC II: Kh 7, 9. 14b-17 "Chiên Con sẽ thống trị họ, và dẫn họ đến nguồn nước ban sự sống". Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan. Tôi là Gioan, đã xem thấy một đám đông không thể đếm được, họ thuộc mọi nòi giống, dòng họ, dân tộc và tiếng nói, đứng trước ngai vàng và trước Con Chiên; họ mặc áo trắng dài, tay cầm lá vạn tuế. Và một bô lão đã nói với tôi: "Đây là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy nó trắng trong máu Con Chiên. Vì thế, họ ở trước ngai vàng Thiên Chúa, và ngày đêm phụng sự Người trong đền thánh Chúa, Đấng ngự trên ngai vàng đặt ở giữa họ. Họ sẽ không còn đói khát; mặt trời và nóng bức sẽ không làm khổ họ, vì Con Chiên đứng trước ngai vàng sẽ thống trị họ, sẽ dẫn họ đến nguồn nước ban sự sống, và Thiên Chúa sẽ lau hết mọi giọt lệ nơi mắt họ. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 10, 14 Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta". - Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 10, 27-30 "Ta ban cho các chiên Ta được sống đời đời". Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan. Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta. Điều mà Cha Ta ban cho Ta, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Ta. Ta và Cha Ta là một". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG NGHE, BIẾT VÀ THEO CHÚA
Đây là những lời chí tình từ miệng Chúa Giêsu: "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời..." Những chữ quan trọng dành cho chiên của Chúa: Nghe, biết và theo Chúa, để được sống đời đời. Như thế trước hết muốn biết và theo Chúa, chiên của Chúa rất cần nghe được tiếng Ngài. Câu hỏi dành cho chiên là tại sao và làm cách nào để nghe được tiếng Chúa? Ta có thể nói, các thực tại tiếng nói quanh chúng ta, trước hết có thể giúp phân biệt nhiều loại tiếng khác nhau: như tiếng của chính mình, tiếng của tha nhân, tiếng của thế giới vật chất, tiếng của các loại cám dỗ như quyền lực, danh vọng, xác thịt và ma quỷ... và tiếng của những lý thuyết sai lầm! Trong những thực tại tạo nên các thứ tiếng khác nhau ấy, thì thực tại tiếng nói của chính mình ầm ĩ và làm lu mờ tiếng Chúa nhiều nhất; vì thế một trong các điều kiện tối quan trọng trong việc theo Chúa là phải từ bỏ chính mình (bao gồm ý riêng và các hoàn cảnh thực tại cuộc sống). Ta có thể nói, ý riêng mình là cản trở đầu tiên và mạnh mẽ nhất che khuất tiếng Chúa. Các thực tại khác như tha nhân và thế giới vật chất cũng là những tiếng mời gọi đáng kể và rất mạnh mẽ đóng góp vào việc ngăn chặn tiếng Chúa. Dựa vào luật Chúa: Phải thờ phượng Ngài trên hết mõi sự, cho thấy các thực tại trên không nhiều thì ít đã lôi kéo các chiên của Chúa xa dần Ngài, chỉ vì coi trọng tha nhân và vật chất hơn Ngài, hoăc lầm lẫn giữa nhu cầu vật chất và việc thờ phượng yêu mến Chúa. Hơn thế, hằng ngày tiếng thế gian cứ văng vẳng bên tai dưới rất nhiều hình thức, nên chiên khó nhận ra tiếng Chúa, vì tiếng của Ngài ở rất sâu trong đáy tâm hồn và thường lại rất thinh lặng! Ngoài ra, các thực tại sai lầm của những lý thuyết cũng hay đánh lừa lương tâm và sự thiếu nhân thức ngay thẳng của những con chiên Chúa, đã làm cho chúng xa đàn. Từ khi có Giáo Hội Chúa, chúng ta thấy không biết bao con chiên đã đi xa bày! Vì thế, các chiên rất cần tiếp xúc với Lời Chúa và nhờ sự hướng dẫn của Giáo Hội, để nhận ra tiếng nói chân chính của Chúa trong đời sống Đạo. Quả thật nghe được tiếng Chúa hết sức quan trọng, bời vì có lắng nghe, mới có thể nhận biết Chúa; và một khi nhận biết Chúa, mới có thể bước đi theo Ngài. Và biết Chúa và đi theo Ngài sẽ là tất cả con đường của Đạo, đúng hơn là dây tương quan thân tình của tình yêu chiên dành cho Chúa. Ai nghe được tiếng Chúa, biết Chúa và theo Ngài, thì dĩ nhiên sẽ được sống trong đồng cỏ xanh tươi Nước Trời, điều mà Chúa nói là sự sống đời đời. Tất cả con đường của Đạo sẽ dẫn chiên của Chúa tới đó, vì họ thuộc về Ngài, và sẽ chẳng có ai có thể cướp được họ khỏi tay của Ngài như Ngài đã hứa.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Thứ Hai, 5 tháng 4, 2010

Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới

VietCatholic News (26 Oct 2008 11:02)
Sứ điệp sau cùng của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Lời ChúaTrong phiên khoáng đại thứ 21, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới (THĐ) đã thông qua sứ điệp sau cùng. Vị giáo phẩm có nhiệm vụ soạn thảo sứ điệp này là Đức Tổng Giám Mục Gianfranco Ravasi. Bản dự thảo đã được vị Tổng Giám Mục này trình bầy lần đầu ngày 18 tháng Mười và ai cũng đồng ý đây là một trong những bản văn đẹp đẽ nhất nhưng hơi dài (hơn 10 trang). Bởi thế, để sứ điệp dễ được nhiều người đọc hơn, THĐ đã đưa ra đề nghị: công bố một phiên bản ngắn hơn, chừng 2 trang. Do đó mà có Bản “Tóm Lược Sứ Điệp gửi Dân Chúa của THĐ Giám Mục”. Đây không phải là bản văn chính thức, nhưng đã được Văn Phòng Tổng Thư Ký của THĐ phân phối rộng rãi. Cha Trần Đức Anh O.P. đã trình bầy Bản Tóm Lược này trong một bài trước đây của Vietcatholic.net. Vì tầm ích lợi của bản văn chính thức, một bản văn đã được soạn với “một lòng say mê, một thứ pathos” như chính Đức TGM Ravasi cho hay, chúng tôi cho đăng đầy đủ Sứ Điệp gửi Dân Chúa của THĐ Giám Mục, một THĐ được triệu tập chỉ với mục đích duy nhất: mời gọi tín hữu tiếp nhận phương thức tới gần Thánh Kinh của Soren Kierkegaard: "Bạn phải đọc Sách Thánh như người yêu đọc thư người yêu dấu … Sách Thánh đã được viết cho một mình tôi”. Mời bạn đọc cùng đọc trọn Bức Thông Điệp:Thưa anh chị em, “Xin Thiên Chúa Ngôi Cha và Chúa Giêsu Kitô ban bình an, tình yêu và đức tin cho tất cả anh chị em. Xin ơn thánh Chúa ở cùng mọi người biết yêu mến Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, trong cõi sống bất diệt”. Với lời chào kính nhiệt tình và thiết tha ấy, Thánh Phaolô đã kết thúc bức thư ngài gửi cho tín hữu Êphêsô (6:23-24). Cũng với những lời ấy, chúng tôi, Các Nghị Phụ của THĐ, tụ tập tại Rôma tham dự Phiên Họp Thường Lệ Lần Thứ XII của THĐ Giám Mục, dưới sự dìu dắt của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI, xin mở đầu sứ điệp gửi tới chân trời mênh mông gồm tất cả những ai, thuộc nhiều vùng khác nhau trên thế giới, đang bước chân theo Chúa Kitô làm môn đệ và hằng tiếp tục yêu mến Người bằng một tình yêu bền vững. Một lần nữa, trong khi nhắc lại lời mời gọi xưa, chúng tôi xin đề nghị với những người ấy tiếng nói và ánh sáng của Lời Chúa: “Lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30:14). Chính Thiên Chúa nói với mỗi người chúng ta: “Hỡi con người, tất cả những lời Ta phán với ngươi, hãy ghi lòng tạc dạ và nghe cho tỏ” (Ed 3:10). Chúng tôi xin đề nghị với anh chị em một cuộc hành trình thiêng liêng gồm bốn giai đoạn. Cuộc hành trình này sẽ đưa chúng ta khởi từ cõi vĩnh hằng và bản tính vô cùng của Thiên Chúa xuống tới các mái nhà và khu phố đô thị ta. I. Tiếng Chúa: Sự Mạc khải 1. "Rồi Chúa phán với anh em từ giữa đám lửa; anh em nghe thấy tiếng nói nhưng không thấy hình bóng nào, chỉ có tiếng thôi” (Đnl 4:12). Đấy là lời của Môsê đang nhắc lại kinh nghiệm sống của dân Do Thái trong nơi hoang sơ cay đắng của sa mạc Sinai. Chúa không hiển hiện trong một tranh vẽ, một hình tạc hay một bức tượng, nhưng trong tiếng nói bằng lời. Chính tiếng nói ấy đã đi vào hiện trường của buổi đầu sáng thế, khi nó xé tan cõi thinh lặng của hư không: “Lúc khởi đầu… Thiên Chúa phán, ‘Hãy có ánh sáng’ và liền có ánh sáng…Từ khởi đầu đã có Ngôi Lời: Ngôi Lời ở với Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa… Nhờ Người, mọi sự được tạo thành, và nếu không có Người, thì chẳng có sự gì được tạo thành” (St 1:1.3; Ga 1:1.3).Sáng thế không phát sinh từ cuộc đấm đá giữa các thần minh, như huyền thoại xưa của Lưỡng Hà từng dạy, nhưng từ một lời nói đánh bại hư không mà tạo ra mọi sự. Thánh vịnh gia từng ngâm ngợi: “Nhờ lời Chúa, các tầng trời đã được tạo nên, nhờ hơi thở từ miệng Người, muôn tinh tú được tạo thành…Vì Người đã phán, và muôn loài xuất hiện, Người ra lệnh truyền, tất cả được dựng nên” (Tv 33:6, 9). Và Thánh Phaolô lặp lại rằng: Thiên Chúa “làm cho kẻ chết được sống và truyền khiến những gì không có bước vào cõi có” (Rm 4:17). Thế là cuộc mạc khải “có tính vũ trụ”lần đầu đã biến sáng tạo nên như một trang sách mênh mông mở sẵn ra trước mặt toàn thể nhân loại, trong đó, sứ điệp của Đấng Hóa Công có thể đọc thấy như sau: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm. Ngày qua mách bảo cho ngày tới, đêm này kể lại với đêm kia. Chẳng một lời lẽ, chẳng một âm thanh, mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển” (Tv 19:2-5).2. Tuy nhiên, lời Thiên Chúa còn là nguyên ủy cho lịch sử con người. Con người, vì được Thiên Chúa dựng nên “theo hình ảnh của chính Người” (St 1:27) và được mang trong mình dấu ấn của Người, nên có thể bước vào đối thoại với chính Đấng Hóa Công mà cũng có thể quay gót xa lánh và từ khước Người bằng tội lỗi. Như thế, lời Chúa vừa cứu vớt vừa kết án, vào thật sâu trong cấu trúc chằng chịt của lịch sử trong mọi ký sự và biến cố: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật” (Xh 3:7-8). Do đó, Đấng thần thiêng đã hiện diện trong các biến cố của con người và các biến cố này, nhờ hành động của chính Chúa lịch sử, đã được tích nhập vào kế hoạch cứu rỗi lớn hơn dành cho “mọi người cần được cứu rỗi và đạt tới hiểu biết chân lý hoàn toàn” (1 Tm 2:4).3. Thành thử, lời đầy hiệu lực, đầy sáng tạo và cứu vớt của Chúa chính là nguồn gốc của hiện hữu và lịch sử, của sáng tạo và cứu chuộc. Thiên Chúa, khi gặp gỡ con người, đã tuyên bố: “Ta, Đức Chúa, Ta đã phán là Ta làm” (Ed 37:14). Thế là, tiếng Chúa nói đã bước vào lời được viết ra, vào hình thức “Graphé” hay “Graphaí”, Sách Thánh, như Tân Ước thường nhắc lại. Môsê đã từ đỉnh Sinai bước xuống “tay mang hai tấm bia Chứng Ước; những bia ấy có viết cả hai mặt, mặt trước cũng như mặt sau. Những bia ấy là do Thiên Chúa làm ra, chữ là chữ của Thiên Chúa, khắc trên các bia” (Xh 32:15-16). Môsê truyền cho dân Israel phải gìn giữ và viết lại “các bia giới luật” này: “Anh em hãy viết trên các tảng đá mọi lời của Luật này: hãy viết rõ ràng” (Đnl 27:8).Sách Thánh “mang chứng tá” cho lời Chúa dưới hình thức chữ viết. Chúng ký ức hóa biến cố mạc khải đầy sáng tạo và cứu rỗi bằng phương tiện quy điển, lịch sử và văn học. Cho nên, lời Chúa đi trước và đi quá bên kia Thánh Kinh là bộ sách cũng đã “được Thiên Chúa linh hứng” và chứa đựng lời Chúa đầy hiệu lực (xem 2Tm 3:16). Đó chính là lý do tại sao đức tin của ta không phải chỉ tập trung vào một cuốn sách, mà vào lịch sử cứu độ và, như sẽ thấy, vào một ngôi vị, tức Chúa Giêsu Kitô, Lời nhập thể của Thiên Chúa, vừa là người vừa là lịch sử. Chính vì lời Chúa có khả năng bao gồm và vượt quá Sách Thánh, nên sự hiện diện không ngừng của Chúa Thánh Thần, một sự hiện diện “sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 16:13), hết sức cần thiết cho những ai đọc Sách Thánh. Thánh Truyền vĩ đại là đây: là sự hiện diện đầy hiệu quả của “Thánh Thần chân lý” trong Giáo Hội, người bảo quản Sách Thánh, một Sách Thánh được Huấn Quyền của Giáo Hội giải thích một cách chân chính. Thánh Truyền này giúp Giáo Hội hiểu được, giải thích được, thông truyền được và làm chứng được cho Lời Chúa. Khi loan báo kinh tin kính đầu hết của Kitô giáo, Thánh Phaolô cũng đã nhìn nhận nhu cầu phải “thông truyền” điều ngài “đã tiếp nhận” được từ Thánh Truyền (1 Cor 15:3-5).II. Khuôn mặt lời Chúa: Chúa Giêsu Kitô4. Trong nguyên ngữ Hy lạp, ta thấy có ba chữ căn bản sau đây: Lógos sarx eghéneto, "Lời đã thành xác thịt”. Mấy chữ đó không những là đỉnh cao của lời vàng ngọc đầy chất thơ và thần học là tự ngôn của Phúc Âm Thánh Gioan (Ga 1:14), mà còn là trái tim của đức tin của Kitô giáo. Lời trường cửu và thần thánh đã đi vào không gian và thời gian và đã mang lấy khuôn mặt và bản sắc nhân bản, đến độ ta có thể trược tiếp tới gần Người mà yêu cầu, như đám đông Hy lạp đã yêu cầu khi xưa tại Giêrusalem: “Chúng tôi muốn được gặp Đức Giêsu” (Ga 12:20-21). Lời không có mặt là lời thiếu sót, nó không thể hoàn tất cuộc gặp gỡ, như Gióp từng nhắc nhớ, lúc ông sắp kết thúc cuộc hành trình tìm kiếm đầy cảm kích của ông: “Trước đây, con chỉ biết Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến” (G 42:5).Chúa Kitô là “Ngôi Lời ở với Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1:1). “Người là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo” (Cl 1:15); nhưng Người cũng là Đức Giêsu thành Nadarét từng rảo bước khắp đường xá một tỉnh ngoại vi của Đế Quốc Rôma, từng nói ngôn ngữ địa phương, từng biểu lộ các đặc điểm của một dân tộc, tức dân Do Thái, và nền văn hóa của nó. Cho nên, con người có thực là Giêsu Kitô quả là con người bằng xương bằng thịt, mỏng dòn và dễ chết; Người quả là lịch sử và nhân bản, nhưng Người cũng là vinh quang, thần thánh, huyền nhiệm: là Đấng mạc khải Thiên Chúa cho chúng ta, một Thiên Chúa chưa có ai được nhìn thấy (xem Ga 1:18). Con Thiên Chúa tiếp tục là như thế ngay trong xác chết đang táng trong huyệt mộ và phục sinh chính là minh chứng sống động của sự kiện ấy. 5. Truyền thống Kitô giáo thường đặt Lời nhập thể của Thiên Chúa song song với cùng lời ấy đã được viết thành sách. Việc ấy đã xẩy ra trong kinh Tin Kính khi ta tuyên xưng rằng Con Thiên Chúa “bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người”, và Kinh ấy cũng tuyên xưng rằng “Chúa Thánh Thần, đã dùng các tiên tri mà phán dạy”. Công Đồng Vatican II đã tổng hợp được truyền thống xa xưa ấy, một truyền thống theo đó “thân xác Chúa Con chính là Sách Thánh đã được truyền lại cho chúng ta” như Thánh Ambrose từng khẳng định (In Lucam VI, 33) – nhờ thế đã minh nhiên tuyên bố rằng “Vì lời Chúa, khi được phát biểu bằng ngôn ngữ nhân bản, đã trở nên như lời đàm luận của con người, giống hệt như Lời của Chúa Cha vĩnh cửu, khi mang lấy sự yếu đuối của thân xác nhân bản, đã trở nên như con người mọi đàng” (DV 13).Thực thế, Thánh Kinh cũng là “xác thịt”, là “chữ viết”; nó tự phát biểu qua các ngôn ngữ đặc thù, dưới hình thức văn tự và lịch sử, qua các quan niệm dính liền với một nền văn hóa cổ xưa, nó duy trì ký ức đủ mọi biến cố, đôi khi hết sức bi thảm; các trang của nó rất thường hay đẫm máu và bạo lực, trong ấy vang dội đủ cả giọng cười sang sảng lẫn nước mắt chẩy thành dòng, tiếng than xé lòng của người sầu khổ và niềm vui hân hoan của những kẻ đang yêu. Để hiểu điều đó, chiều kích “thân xác” của nó đòi phải có một phân tích lịch sử và văn tự, tiến hành nhờ nhiều phương pháp và phương thức khác nhau của ngành chú giải Thánh Kinh. Mọi độc giả Sách Thánh, dù tầm thường nhất, cũng phải có một kiến thức tương đối nào đó về bản văn thánh, luôn phải nhớ rằng các lời Chúa được gói ghém trong các ngôn từ cụ thể, từng được lên khuôn và thích ứng để toàn thể nhân loại có thể nghe và hiểu được. Đây quả là một cam kết cần thiết. Loại bỏ nó, người ta sẽ rơi vào chủ nghĩa cực đoan, một chủ nghĩa trên thực tế đã bác bỏ việc Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa trong lịch sử, vì đã không nhìn nhận rằng Lời này đã tự phát biểu mình ra trong Thánh Kinh bằng ngôn ngữ loài người, một ngôn ngữ phải được giải mã, nghiên cứu và hiểu rõ. Thái độ như thế đã quên rằng linh hứng của Thiên Chúa không hề xóa bỏ các bản sắc và nhân vật lịch sử nơi các tác giả phàm nhân của nó. Tuy nhiên, Sách Thánh cũng là Lời vĩnh cửu và thần thánh và vì vậy đòi phải có một cái hiểu khác do Chúa Thánh Thần ban. Người sẽ vén mở chiều kích siêu việt của lời Chúa vốn hiện hữu trong ngôn từ con người. 6. Như thế, ở đây, ta thấy sự cần thiết phải có “Truyền Thống sống động của toàn thể Giáo Hội” (DV 12) và đức tin mới hiểu được Thánh Kinh một cách trọn vẹn và thống nhất. Nếu chú tâm vào “chữ” mà thôi, Thánh Kinh sẽ chỉ còn là một tài liệu long trọng của quá khứ, một chứng tá đầy tôn qúy, đạo đức và văn hóa. Nhưng nếu loại bỏ Nhập Thể, nó sẽ rơi tọt xuống một thứ lưỡng nghĩa cực đoan, hay một thứ duy linh mơ hồ hoặc một thứ tâm lý học bình dân. Cho nên, nhận thức có tính chú giải phải được dệt một cách chắc chắn vào truyền thống thiêng liêng và thần học để sự hợp nhất thần nhân nơi Chúa Giêsu Kitô và nơi Thánh Kinh không bị phá vỡ. Trong sự hòa hợp vừa được tái khám phá trên, khuôn mặt Chúa Kitô sẽ toả ánh quang viên mãn và sẽ giúp ta khám phá ra một sự hợp nhất khác, đó là sự hợp nhất sâu sắc và thân thiết của Bộ Sách Thánh. Thực vậy, (Sách Thánh) có tất cả 73 sách, nhưng chúng hợp thành một “Quy Điển” duy nhất, trong cuộc đối thoại duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, trong kế hoạch cứu độ duy nhất. “Ở nhiều thời điểm khác nhau trong quá khứ và bằng nhiều phương cách khác nhau, Thiên Chúa đã nói với tổ tiên ta qua các tiên tri; nhưng đến thời ta, là thời sau cùng, Người đã nói với ta trong Con Một của Người” (Dt 1:1-2). Như thế, một cách phản hồi, Chúa Kitô đã soi sáng cho ta hiểu toàn bộ việc khai triển của lịch sử cứu độ và cho thấy sự gắn bó của nó, ý nghĩa và hướng đi của nó. Người là dấu ấn, là “Anpha và Ômêga” (Kh 1:8) của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và các thụ tạo của Người từng được phân bổ qua thời gian và được chứng nghiệm trong Thánh Kinh. Chính dưới ánh sáng của dấu ấn sau cùng này, lời lẽ của Môsê và của các tiên tri có được “ý nghĩa đầy đủ”. Chính Chúa Giêsu xác nhận điều ấy trong buổi chiều mùa xuân xưa, khi Người thực hiện cuộc hành trình từ Giêrusalem tới thị trấn Emmaus, vừa đi vừa chuyện trò với Cleopas và người bạn của ông, giải thích “cho họ các đoạn Sách Thánh nói về Người” (Lc 24:27). Tâm điểm của Mạc Khải đã chứng tỏ: Lời Chúa quả đã mang lấy một khuôn mặt. Đó chính là lý do tại sao tính chung cục tối hậu của nhận thức Thánh Kinh “không phải là kết quả của một lựa chọn đạo đức hay một lý tưởng cao cả, nhưng là cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người từng mang lại cho cuộc đời một chân trời mới và một hướng đi dứt khoát” (thông điệp “Thiên Chúa Là Tình Yêu”, số 1). III. Nhà của Lời Chúa: Giáo HộiĐức khôn ngoan của Thiên Chúa trong Cựu Ước đã xây nhà tại các đô thị của con người, dùng bẩy trụ cột nâng đỡ nhà ấy thế nào (xem Cn 9:1) thì lời Chúa cũng xây nhà như thế trong Tân Ước. Giáo Hội lấy cộng đồng mẹ Giêrusalem làm mẫu mực cho mình. Giáo Hội được đặt nền trên Phêrô và các tông đồ và ngày nay, qua các giám mục hiệp thông với vị Kế Nhiệm của Phêrô, tiếp tục gìn giữ, công bố và giải thích lời Chúa (xem hiến chế LG 13). Trong Tông Đồ Công Vụ (2:42), Thánh Luca cho thấy kiến trúc của tòa nhà này đặt căn bản trên 4 cột trụ lý tưởng mà ngày nay vẫn còn được rất nhiều hình thức cộng đoàn giáo hội khác nhau làm chứng: “Họ trung thành với giáo huấn của các tông đồ, với tình huynh đệ, với việc bẻ bánh và với lời kinh nguyện”7. Ở đây, trước nhất là giáo huấn của các tông đồ, tức việc giảng giải lời Chúa. Thực vậy, Thánh Tông Đồ Phaolô cho ta hay: “có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Chúa Kitô” (Rm 10:17). Lời người loan báo xuất phát từ Giáo Hội, một lời trình bầy tin mừng sơ truyền (kérygma) hay lời công bố đầu hết và căn bản nhất mà Chúa Giêsu từng công bố lúc bắt đầu sứ vụ công khai của mình: “giờ đã đến và nước Thiên Chúa đã gần kề. Hãy thống hối và tin vào Phúc Âm” (Mc 1:15). Khi công bố cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô, các tông đồ đã loan báo việc khai mở nước Thiên Chúa, nghĩa là việc Thiên Chúa dứt khoát can thiệp vào lịch sử con người: “Chỉ nơi Người mới có ơn cứu độ; vì trong số mọi tên trên thế giới này dành cho con người, đây là tên duy nhất nhờ đó chúng ta được cứu vớt” (Cv 4:12). Kitô hữu làm chứng cho niềm hy vọng ấy “cách hiền hòa, kính trọng và với một lương tâm ngay thẳng”, song phải sẵn sàng liên lụy vào và có lẽ chịu để cho bão táp của xua đẩy và bách hại tràn ngập, vì biết rằng “thà chịu khổ vì làm việc lành, còn hơn là vì làm điều ác” ( 1 Pr 3:16-17).Như thế, giáo lý đã vang lên trong Giáo Hội: giáo lý này nhằm thâm hậu hóa nơi Kitô hữu “việc hiểu biết mầu nhiệm Chúa Kitô dưới ánh sáng lời Chúa, để nhân tính toàn bộ nơi một con người được thấm nhiễm lời ấy” trong Kitô Giáo (Gioan Phaolô II, thông điệp Catechesi tradendae, 20). Nhưng điểm cao của việc giảng giải là ở bài giảng lễ, một bài giảng mà ngày nay, đối với nhiều Kitô hữu, vẫn còn là giờ phút chính yếu để họ gặp gỡ lời Chúa. Trong hành động này, thừa tác viên nên tự biến mình thành một tiên tri. Thực vậy, với một ngôn từ sáng sủa, thẳng thắn và sắc sảo cũng như có chất lượng, không những vị này phải công bố một cách có thẩm quyền “các công trình kỳ diệu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ” (SC 35), bằng cách trước nhất đọc một cách rõ ràng và sinh động các bản văn thánh đã được đề nghị trong phụng vụ, mà còn phải khai triển các bài đọc đó sao cho có liên hệ với kinh nghiệm sống của người nghe và làm cho tâm hồn họ nở rộ câu hỏi làm thế nào để hồi tâm và dấn thân: “Thưa anh em, chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2:37).Do đó, việc giảng giải, dạy giáo lý và bài giảng lễ giả thiết phải có việc đọc và việc hiểu, việc giải thích và cắt nghĩa, có sự tham dự của cả trí khôn lẫn tâm hồn. Nhờ thế, trong việc giảng giải, ta thực hiện một chuyển động kép. Một chuyển động giúp ta trở về gốc rễ của bản văn thánh, trở về các biến cố, những lời đầu hết của lịch sử cứu độ, để hiểu chúng trong ý nghĩa và trong sứ điệp của chúng. Chuyển động kia giúp ta quay về với hiện tại, về với cái ngày nay đang được những người nghe và đọc này sống, luôn với Chúa Kitô trong trí khôn, Đấng vốn là ánh sáng dẫn đường nhằm kết hợp mọi Sách Thánh. Đó là điều Chúa Giêsu đã làm, như đã nói ở trên, trong cuộc hành trình từ Giêrusalem đi Emmaus với hai môn đệ. Đấy cũng là điều phó tế Philíp đã làm trên đường từ Giêrusalem tới Gaza, khi ông đàm đạo với người viên chức Ethiopia: “Ngài có hiểu điều ngài đang đọc không?... Làm sao tôi hiểu được, nếu không có người hướng dẫn?” (Cv 8:30-31). Và kết quả cuối cùng phải là cuộc gặp gỡ trọn vẹn với Chúa Kitô trong bí tích. Thế là xuất hiện cột trụ thứ hai nâng đỡ Giáo Hội, căn nhà của lời Chúa. 8. Tức việc bẻ bánh. Khung cảnh tại Emmaus (xem Lc 24:13-35) một lần nữa lại hết sức điển hình, và tái diễn những gì vẫn xẩy ra hàng ngày trong các nhà thờ: bài giảng của Chúa Giêsu nói về Môsê và các tiên tri nhường chỗ cho việc bẻ Bánh Thánh Thể tại bàn thánh. Đây là giây phút Thiên Chúa đích thân đàm thoại với dân của Người. Đây là hành vi của giao ước mới được đóng ấn bằng máu Chúa Kitô (xem Lc 22:20). Nó là công trình tối cao của Ngôi Lời, Đấng đã tự hiến làm của ăn trong thân xác hiến sinh của mình, nó là nguồn gốc và đỉnh cao của đời sống và sứ vụ của Giáo Hội. Trình thuật Phúc Âm về Bữa Tiệc Ly, hay việc tưởng niệm lễ hy sinh của Chúa Kitô, khi được công bố trong cử hành Thánh Thể, nhờ sự khẩn cầu của Chúa Thánh Thần, đã trở nên một biến cố và một bí tích. Đó chính là lý do khiến Công Đồng Vatican II tuyên bố trong một đoạn xúc tích rằng: “Giáo Hội luôn tôn kính Sách Thánh giống như tôn kính mình Chúa Kitô vậy, vì đặc biệt trong phụng vụ thánh, Giáo hội không ngừng tiếp nhận và đem lại cho tín hữu bánh sự sống từ bàn tiệc có cả Lời Chúa lẫn mình thánh Chúa Kitô” (DV 21). Cho nên, “phụng vụ lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể liên hệ mật thiết với nhau đến nỗi đã tạo thành một hành vi thờ phượng duy nhất” (SC 56), và điều này phải được đem trở lại với tâm điểm của cuộc sống của Kitô hữu. 9. Cột trụ thứ ba nâng đỡ tòa nhà thiêng liêng của Giáo Hội, nhà của lời Chúa, được tạo thành bởi lời cầu nguyện, dệt bằng “các thánh vịnh và thánh thi cũng như các thánh ca linh hứng” (Cl 3:16) như lời Thánh Phaolô nhắc nhở. Hình thức ưu tuyển dĩ nhiên là Phụng Vụ Các Giờ Kinh, lối cầu nguyện ưu tú của Giáo Hội, vốn nhằm giữ nhịp cho các ngày và mùa của năm Kitô giáo, mang lại thức ăn hàng ngày cho tín hữu đặc biệt nhờ nội dung Thánh Vịnh. Bên cạnh lối thực hành này và việc cử hành lời Chúa của cộng đoàn, truyền thống còn đưa vào lối Đọc Lời Chúa (Lectio divina), một lối vừa đọc vừa cầu nguyện trong Chúa Thánh Thần, một lối đọc có khả năng mở ra cho tín hữu cả một kho tàng lời Chúa, đồng thời tạo ra cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, Lời ban sự sống của Thiên Chúa. Lối đọc này bắt đầu với việc đọc (lectio) bản văn, việc đọc này sẽ gợi lên những câu hỏi giúp nhận ra nội dung thực của đoạn văn: bản văn thánh kinh này tự nó muốn nói gì? Tiếp theo là việc suy gẫm (meditatio) với câu hỏi đại loại như: bản văn thánh kinh này muốn nói gì với ta? Nhờ cách này, ta sẽ tiến tới việc cầu nguyện (oratio), một việc giả thiết trước đó phải có câu hỏi: ta phải thưa Chúa điều gì để đáp lại lời này? Và kết thúc với việc chiêm niệm (contemplatio); trong chiêm niệm, trong khi chiêm ngưỡng Chúa, ta tự hỏi mình: Chúa muốn ta phải hồi hướng trí khôn, tâm hồn và cuộc sống ta sao?Trước mặt người đọc Lời Chúa với thái độ cầu nguyện này, lý tưởng phải xuất hiện hình ảnh Đức Maria, Mẹ Chúa Kitô, đấng “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19; xem 2:51), nghĩa là, như nguyên bản Hy Lạp gợi ý, tìm ra mấu chốt sâu sắc nối kết các biến cố, hành vi và sự việc bề ngoài xem ra hết sức khác biệt kia vào kế hoạch vĩ đại của Chúa. Thái độ của bà Maria, em của bà Martha, cũng có thể là mẫu gương cho tín hữu, khi họ đọc Thánh Kinh, vì bà ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe lời của Người, không để sự việc bên ngoài thu hút hết tâm hồn bà, dành thì giờ cho “phần tốt hơn”, cái phần không bao giờ bị tước mất (xem Lc 10:38-42).10. Sau cùng, ta gặp cột trụ cuối cùng nâng đỡ Giáo Hội, nhà của lời Chúa: đó là koinonía, tình yêu huynh đệ, một tên khác của agápe, nghĩa là đức ái Kitô giáo. Như Chúa Giêsu đã dạy, muốn trở thành anh chị em, ta phải nên như “những người lắng nghe lời Chúa và đem nó ra thực hành” (Lc 8:21). Lắng nghe đích thực chính là vâng lời và hành động. Nó có nghĩa phải làm cho công lý và yêu thương nở rộ ở trên đời. Nó đưa ra một chứng tá giống như lời mời gọi của tiên tri, một lời mời gọi liên tục kết hợp lời Chúa với cuộc sống, đức tin với chính trực, thờ phượng với dấn thân xã hội. Điều đó được Chúa Giêsu phát biểu nhiều lần, khởi đầu với lời cảnh báo trong Bài Giảng Trên Núi: “Không phải kẻ thưa với Ta, ‘Lạy Chúa, Lạy Chúa’ sẽ được vào nước Trời, nhưng là người làm theo ý Cha Ta ở trên trời” (Mt 7:21). Câu này xem ra chỉ là tiếng vang lời trách trong Isaia: “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm” (29:13). Những cảnh cáo như thế cũng liên quan tới các giáo hội khi họ không trung thành với việc lắng nghe lời Chúa với thái độ vâng theo. Bởi thế, việc nghe trên phải hữu hình và có thể đọc thấy trên khuôn mặt và bàn tay tín hữu, như gợi ý của Thánh Grêgôriô Cả khi ngài cho hay ngài đã nhìn thấy lời Chúa trở nên sống động như thế nào nơi Thánh Bênêđíctô và nhiều vĩ nhân khác của Chúa, vốn là các chứng tá hiệp thông với Chúa và với anh chị em. Người công chính và trung tín không những “giải thích” Sách Thánh, mà còn “biểu lộ” Sách Thánh ra trước mặt mọi người như một thực tại sống động và đã được thực hành. Đó là lý do tại sao việc Đọc Lời Chúa này, được coi là vita bonorum (cuả nuôi sống), lại là cách đọc/bài học sống động về lời Chúa. Thánh Gioan Kim Khẩu từng nhận xét rằng các tông đồ từ ngọn núi ở Galilê đi xuống, nơi các ngài được thấy Chúa Phục Sinh, tay không có các bia đá đầy chữ như Môsê ngày xưa: nhưng đời các ngài đã trở thành cuốn phúc âm sống động kể từ giây phút xuống núi ấy. Trong căn nhà lời Chúa, ta còn gặp anh chị em từ các Giáo Hội và cộng đồng giáo hội khác nữa, những người, dù còn chia cách, vẫn đang cùng ta tôn kính và yêu mến lời Chúa, vốn là nguyên lý và là nguồn suối hợp nhất đầu hết và chân thực, dù sự hợp nhất này chưa trọn vẹn. Sợi dây nối kết này phải luôn được tăng cường nhờ các bản dịch chung về Thánh Kinh, nhờ việc phổ biến bản văn, nhờ việc cầu nguyện đại kết bằng Thánh Kinh, nhờ các cuộc đối thoại về chú giải, nhờ việc nghiên cứu và so sánh giữa các lối cắt nghĩa Thánh Kinh khác nhau, nhờ việc trao đổi các giá trị cố hữu trong các truyền thống linh đạo khác nhau và nhờ việc công bố cũng như cùng nhau làm chứng cho lời Chúa trong thế giới tục hóa. (còn một kỳ)
Vũ Văn An

Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2010

Sứ điệp của ĐTC Benêđictô XVI nhân ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 25

Sứ điệp của ĐTC Biển Đức 16 nhân ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 25
sẽ cử hành ngày Chúa nhật Lễ Lá 28-3-2010

”Thưa Thầy nhân lành, con phải là gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (Mc 10,17)

Các bạn thân mến,

Năm nay chúng ta mừng kỷ niệm 25 năm thành lập Ngày Quốc Tế giới trẻ, mà Đấng Đáng Kính Gioan Phaolô 2 đã muốn như một cuộc hẹn hằng năm của các tín hữu trẻ trên toàn thế giới. Đây là một sáng kiến tiên tri đã mang lại nhiều thành quả dồi dào, giúp các thế hệ Kitô trẻ gặp gỡ nhau, lắng nghe Lời Chúa, khám phá vẻ đẹp của Giáo Hội và sống những kinh nghiệm nồng nhiệt về đức tin, làm cho nhiều người đi tới quyết định tận hiến cho Chúa Kitô.

Ngày Quốc Tế giới trẻ thứ 25 năm nay là một giai đoạn tiến về Đại Hội Giới Trẻ thế giới sẽ diễn ra vào tháng 8 năm 2011 tại Madrid, nơi mà tôi hy vọng sẽ có đông đảo các bạn đến sống biến cố hồng phúc này.

Để chuẩn bị cho cuộc cử hành ấy, tôi muốn đề nghị với các bạn một vài suy tư về đề tài năm nay: ”Thưa Thày nhân lành, con phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Mc 10,17), rút từ giai thoại Tin Mừng về cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với chàng thanh niên giàu có; đề tài này đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 bàn đến hồi năm 1985 trong một Lá Thư rất hay, lần đầu tiên được gửi đến giới trẻ.

1. Chúa Giêsu gặp chàng thanh niên

Phúc Âm thánh Marco kể lại: ”Trong khi Chúa Giêsu đi đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: ”Thưa Thầy nhân lành, con phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Chúa Giêsu đáp: ”Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các giới răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy tôn kính cha mẹ”. Anh ta nói: ”Thưa Thầy, tất cả những điều đó, con đã tuân giữ từ thủa nhỏ. Chúa Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: Anh chỉ thiếu một điều, là hãy bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”. Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” (Mc 10,17-22).

Trình thuật này diễn tả sống động sự quan tâm đặc biệt của Chúa Giêsu đối với người trẻ, đối với các bạn, đối với những mong đợi, hy vọng của các bạn và chứng tỏ Chúa nồng nhiệt đích thân gặp các bạn và đối thoại với mỗi người trong các bạn. Thực vậy, Chúa Kitô dừng lại để trả lời câu hỏi của người đối thoại, biểu lộ sự hoàn toàn sẵn sàng đối với chàng thanh niên, và Ngài cảm động vì ước muốn nồng nhiệt của anh mong được nói với” Thầy Nhân Lành”. Qua đoạn Phúc Âm này, vị Tiền Nhiệm của tôi muốn khuyên mỗi người các bạn ”hãy phát triển cuộc đối thoại riêng với Chúa Kitô - một cuộc đối thoại có tầm quan trọng cơ bản và thiết yếu đối với một người trẻ” (Thư gửi giới trẻ, số 2).

2. Chúa Giêsu nhìn anh và đem lòng yêu mến

Trong trình thuật Phúc Âm, thánh Marcô nhấn mạnh điều này ”Chúa Giêsu nhìn anh và đem lòng yêu mến” (Xc Mc 10,21). Trong cái nhìn của Chúa có trọng tâm cuộc gặp gỡ rất đặc biệt và toàn thể kinh nghiệm Kitô giáo. Thực vậy, Kitô giáo trước tiên không phải là một nền luân lý, nhưng là cảm nghiệm Chúa Giêsu Kitô, Đấng đích thân yêu thương chúng ta, dù già hay trẻ, nghèo hay giầu; Ngài cũng yêu chúng ta khi chúng ta quay lưng lại với Ngài.

Khi bình luận về cảnh tượng này, ĐGH Gioan Phaolô 2 ngỏ lời với các bạn trẻ và thêm rằng: ”Cha cầu chúc các con cảm nghiệm được một cái nhìn như thế! Cha cầu chúc các con cảm nghiệm chân lý này: Chúa Kitô đang thương mến nhìn các con!” (Thư gửi giới trẻ, số 7). Một tình thương được biểu lộ trên Thập Giá một cách đầy đủ và trọn vẹn như thế, khiến thánh Phaolô kinh ngạc viết lên: ”Người đã thương yêu và nạp mình vì tôi” (Gl 2,20). Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 còn viết: ”Ý thức rằng Chúa Cha vẫn luôn yêu thương chúng ta trong Con của Ngài, và Chúa Kitô yêu thương mỗi người và mãi mãi, điều ấy trở thành một điểm vững chắc nâng đỡ toàn thể cuộc sống nhân trần của chúng ta” (Thư gửi giới trẻ, số 7), và giúp chúng ta vượt thắng mọi thử thách: sự khám phá tội lỗi chúng ta, đau khổ, nản chí.

Trong tình thương ấy có nguồn mạch toàn thể đời sống Kitô giáo và lý do nền tảng của công cuộc rao giảng Tin Mừng: nếu chúng ta thực sự đã gặp Chúa Giêsu, chúng ta không thể không làm chứng về Ngài cho những người chưa được gặp cái nhìn của Ngài!

3. Khám phá dự phóng đời sống

Nơi người trẻ trong Phúc Âm, chúng ta có thể nhận thấy một hoàn cảnh rất giống tình trạng mỗi người trong các bạn. Cả các bạn cũng có nhiều phẩm tính, nghị lực, ước mơ, hy vọng: đó là những nguồn tài nguyên các bạn có dồi dào! Chính tuổi trẻ của các bạn cũng là một sự phong phú lớn lao không những cho các bạn, nhưng còn cho cả người khác nữa, cho Giáo Hội và thế giới.

Chàng thanh niên giàu có hỏi Chúa Giêsu: ”Con phải làm gì?”. Giai đoạn hiện nay trong cuộc sống của các bạn là thời kỳ khám phá những hồng ân mà Thiên Chúa rộng ban cho các con và khám phá những trách nhiệm của các bạn. Cũng vậy, đây là giai đoạn thực hiện những chọn lựa cơ bản để xây dựng dự phóng cuộc sống của các bạn. Vì thế, đây là lúc các bạn hỏi mình về ý nghĩa đích thực của cuộc sống và tự hỏi: ”Tôi có thỏa mãn về cuộc sống của tôi hay không? Có thiếu cái gì nữa không?”

Như chàng thanh niên trong Phúc Âm, có lẽ các bạn cũng sống trong những hoàn cảnh bấp bênh, xáo trộn hoặc đau khổ, khiến các bạn khao khát một cuộc sống không tầm thường và các bạn tự hỏi: một cuộc sống thành đạt hệ tại điều gì? Tôi phải làm gì? Dự phóng cuộc sống của tôi có thể như thế nào? ”Tôi phải làm gì để cuộc sống của tôi có giá trị và ý nghĩa trọn vẹn?” (Ibid. số 3).

Các bạn đường sợ đương đầu với những câu hỏi như thế! Chúng không đè nặng các bạn, nhưng biểu lộ những khát vọng cao cả, hiện diện trong tâm hồn các bạn. Vì thế, hãy lắng nghe chúng. Những câu hỏi ấy đang chờ đợi những câu trả lời không hời hợt, nhưng có khả năng thỏa mãn những mong đợi đích thực của các bạn về sự sống và hạnh phúc.

Để khám phá dự án cuộc sống có thể làm cho các bạn thực sự hạnh phúc, các bạn hãy lắng nghe Chúa, Đấng có một dự phóng yêu thương cho mỗi người các bạn. Với lòng tín thác, các bạn hãy hỏi Chúa: ”Lạy Chúa, đâu là dự phóng Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Cha dành cho cuộc đời của con? Đâu là ý Chúa? Con muốn chu toàn ý Chúa”. Các bạn hãy tin chắc Chúa sẽ trả lời cho các bạn. Các bạn đừng sợ câu trả lời của Chúa! ”Thiên Chúa lớn hơn trái tim của chúng ta và thấu suốt mọi sự” (1 Ga 3,20)

4. Hãy đến và theo Thầy!

Chúa Giêsu mời gọi chàng thanh niên giàu có hãy đi xa hơn việc thỏa mãn những khát vọng và dự phóng bản thân của anh và nói: ”Hãy đến và theo Thầy!” Ơn gọi Kitô giáo phát sinh từ một đề nghị yêu thương của Chúa và chỉ có thể được thực hiện nhờ một câu trả lời yêu thương: ”Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của Ngài hiến toàn thân, không tính toán và so đo theo phàm nhân, nhưng với lòng tín thác không chút dè dặt nơi Thiên Chúa. Các thánh đón nhận lời mời gọi yêu sách ấy và ngoan ngoãn bước theo Chúa Kitô chịu đóng đinh và sống lại. Sự trọn lành của các vị, theo tiêu chuẩn đức tin, đôi khi thực là khó hiểu theo cái nhìn của con người. Sự trọn lành ấy hệ tại không đặt mình ở vị thế trung tâm nữa, nhưng quyết định đi ngược dòng sống theo Tin Mừng” (Biển Đức 16, bài giảng nhân lễ phong thánh, Oss. Rom., 12-13.10.2009, tr.6).

Hỡi các bạn quí mến, noi gương bao nhiêu môn đệ của Chúa Kitô, các bạn cũng hãy hân hoan đón nhận lời mời gọi theo Chúa, sống nồng nhiệt và phong phú trong thế giới này. Thực vậy, qua bí tích rửa tội, Chúa gọi mỗi người trong các bạn bước theo Ngài bằng những hành động cụ thể, yêu mến Ngài hơn mọi sự và phụng sự Ngài nơi các anh chị em mình. Rất tiếc là chàng thanh niên giàu có không đón nhận lời mời của Chúa Giêsu và ra đi trong buồn sầu. Anh ta không tìm được can đảm rời bỏ những của cải vật chất để tìm được điều thiện hảo lớn hơn do Chúa Giêsu đề nghị.

Sự buồn rầu của chàng thanh niên giàu có trong Phúc Âm là điều nảy sinh trong tâm hồn của mỗi người khi họ không có can đảm theo Chúa Kitô, thực hiện những chọn lựa đúng đắn. Nhưng không bao giờ quá trễ để trả lời Chúa.

Chúa Giêsu không bao giờ ngừng hướng cái nhìn yêu thương và mời gọi trở thành môn đệ của Ngài, nhưng Ngài đề nghị với một số người một sự chọn lựa quyết liệt hơn. Trong Năm Linh Mục này, tôi muốn khuyên các người trẻ và thiếu niên hãy chăm chú nếu Chúa mời gọi họ đón nhận một hồng ân trọng đại hơn, trong đời sống linh mục thừa tác, và sẵn sàng quảng đại, hăng hái đón nhận dấu hiệu yêu thương đặc biệt ấy, cùng với một linh mục, với vị linh hướng, bắt đầu hành trình phân định cần thiết. Rồi, hỡi các bạn trẻ nam nữ quí mến, các bạn đừng sự nếu Chúa gọi các bạn vào đời sống tu trì, đời đan tu, thừa sai hoặc thánh hiến đặc biệt: Ngài biết ban niềm vui sâu xa cho những người can đảm đáp lại!

Ngoài ra, tôi cũng mời tất cả những người cảm thấy ơn gọi sống đời hôn nhân hãy đón nhận ơn gọi ấy trong đức tin, dấn thân đặt những nền tảng vững chắc để sống một tình yêu lớn lao, chung thủy và cởi mở đón nhận sự sống, là sự phong phú và ân phúc cho xã hội và cho Giáo Hội.

5. Hướng về đời sống vĩnh cửu

”Con phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. Câu hỏi này của chàng thanh niên trong Phúc Âm có vẻ xa vời đối với những bận tâm của nhiều người trẻ ngày nay, vì như Vị Tiền Nhiệm của tôi đã nhận xét, ”chúng ta chẳng phải là thế hệ mà thế giới và sự tiến bộ trần thế chiếm trọn chân trời cuộc sống sao?” (Thư gửi giới trẻ, số 5). Nhưng câu hỏi về ”sự sống đời đời” xuất hiện đặc biệt trong những lúc đau thương của cuộc sống, khi chúng ta bị mất người thân cận hoặc khi chúng ta sống kinh nghiệm thất bại.

Nhưng ”sự sống đời đời” mà chàng thanh niên giàu có nói đến là gì? Chúa Giêsu giải thích điều này khi Ngài nói với các môn đệ và quả quyết: ”Thầy sẽ gặp lại các con và tâm hồn các con sẽ vui mừng và không ai có thể tước đoạt niềm vui của các con” (Ga 16,,22). Đó là những lời cho thấy một đề nghị phấn khởi về hạnh phúc vô tận, về niềm vui được tràn đầy tình thương của Chúa mãi mãi.

Việc tự hỏi về tương lai chung kết đang chờ đợi mỗi người chúng ta mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống, vì nó hướng dẫn dự phóng cuộc sống về những chân trời không bị giới hạn và phù du, nhưng bao la và sâu xa, làm cho ta yêu mến thế giới, vốn được Thiên Chúa yêu thương dường nào, hiến thân cho việc phát triển thế giới ấy, nhưng luôn giữ niềm tự do và niềm vui phát sinh từ đức tin và từ đức cậy. Đó là những chân trời giúp chúng ta không tuyệt đối hóa những thực tại trần thế, cảm thấy rằng Thiên Chúa chuẩn bị chúng ta đến một viễn tượng lớn lao hơn, và lập lại như thánh Augustino: ”Chúng ta cùng mong ước quê hương thiên quốc, chúng ta khao khát quê hương thiên quốc, chúng ta cảm thấy mình là lữ khách trên trần thế này” (Chú giải Phúc Âm thánh Gioan, Bài giảng 35, 9). Mắt hướng nhìn về sự sống vĩnh cửu, chân phước Pier Giorgio Frassati, qua đời năm 1925, lúc mới 24 tuổi, đã nói: ”Tôi muốn sống thực chứ không sống vất vưởng!” và trên tấm hình chụp một cuộc leo núi, gửi cho một người bạn, chân phước viết: ”Hướng lên cao”, ám chỉ sự trọn lành Kitô giáo, nhưng cũng ám chỉ đời sống vĩnh cửu.

Các bạn trẻ thân mến, tôi khuyên các bạn đừng quên viễn tượng này trong dự phóng đời sống các bạn: chúng ta được kêu gọi sống vĩnh cửu. Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta để mãi mãi ở với Ngài. Ngài sẽ giúp các bạn mang lại một ý nghĩa trọn vẹn cho những chọn lựa của các bạn và mang lại phẩm chất cho cuộc đời các bạn.

6. Các giới răn, con đường yêu thương đích thực

Chúa Giêsu nhắc nhở chàng thanh niên giàu có về 10 giới răn như những điều kiện cần thiết để ”được sự sống đời đời làm gia nghiệp”. Các giới răn là những điểm tham chiếu thiết yếu để sống trong tình yêu thương, để phân biệt rõ ràng thiện ác và kiến tạo một dự phóng cuộc sống vững chắc và lâu bền. Cả các bạn, Chúa Giêsu cũng hỏi xem các bạn có biết các giới răn không, các bạn có quan tâm huấn luyện lương tâm của mình theo luật Chúa và mang ra thực hành hay không.

Chắc hẳn đây là những câu hỏi đi ngược dòng so với não trạng ngày nay vẫn đề nghị một thứ tự do không bị các giá trị, luật lệ và các qui luật khách quan ràng buộc, và kêu mời phủ nhận mọi giới hạn được đề ra cho những ước muốn trong lúc này. Nhưng loại đề nghị như thế, thay vì dẫn đến tự do đích thực, chỉ dẫn con người đến chỗ trở thành nô lệ cho chính mình, cho các ý muốn nhất thời, cho những thần tượng như quyền hành, tiền bạc, lạc thú vô độ và những cám dỗ của thế giới, làm cho họ không còn khả năng theo ơn gọi yêu thương bẩm sinh nữa.

Thiên Chúa ban cho chúng ta các giới răn vì Ngài muốn giáo dục chúng ta về tự do đích thực, vì Ngài muốn cùng với chúng ta xây dựng một Vương quốc tình thương, công lý và hòa bình. Nghe và mang các giới răn ra thực hành không có nghĩa là trở nên tha hóa, nhưng tìm được con đường tự do và yêu thương đích thực, vì các giới răn không giới hạn hạnh phúc, nhưng chỉ dẫn cách tìm được hạnh phúc. Đầu cuộc nói chuyện với chàng thanh niên giàu có, Chúa Giêsu đã nhắc nhở rằng luật do Thiên Chúa ban là tốt lành, vì Thiên Chúa là Đấng Tốt Lành.

7. Chúng tôi cần các bạn

Ngày nay ai sống thân phận người trẻ thì thường phải đương đầu với nhiều vấn đề phát sinh từ nạn thất nghiệp, thiếu những tham chiếu lý tưởng chắc chắn và viễn tượng cụ thể cho tương lai. Đôi khi người ta có cảm tưởng bất lực đứng trước những khủng hoảng và sự trôi dạt ngày nay. Tuy có khó khăn, nhưng các bạn đừng nạn chí và đừng từ bỏ những ước mơ của mình! Trái lại hãy vun trồng trong tâm hồn những ước muốn cao thượng về tình huynh đệ, công lý và hòa bình. Tương lai nằm trong tay người nào biết tìm kiếm và thấy được những lý do mạnh mẽ để sống và hy vọng. Nếu các bạn muốn, thì tương lai nằm trong tay các bạn, vì những năng khiếu và sự phong phú mà Chúa giữ trong tâm hồn mỗi người trong các bạn, được uốn nắn nhờ cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, có thể mang lại hy vọng đích thực cho thế giới! Chính niềm tin vào tình thương của Chúa làm cho các bạn mạnh mẽ và quảng đại, mang lại cho các bạn can đảm thanh thản tiến bước trên đời đời và đảm nhận trách nhiệm gia đình và nghề nghiệp. Hãy dấn thân xây dựng tương lai của các bạn qua những hành trình nghiêm túc của sự huấn luyện bản thân và học hànhk để phục vụ công ích một cách khéo léo và quảng đại.

Trong Thông điệp mới đây về sự phát triển nhân bản toàn diện, Caritas in veritate (Bác ái trong chân lý), tôi đã liệt kê một số thách đố hiện nay, rất cấp thiết và quan trọng đối với cuộc sống của thế giới này: đó là sự sử dụng các tài nguyên trái đât và tôn trọng môi sinh, sự phân chia đúng đắn các của cải và sự kiểm soát các cơ cấu tài chánh, tình liên đới với những nước nghèo trong khuôn khổ gia đình nhân loại, cuộc chiến chống nghèo đói trên thế giới, thăng tiến phẩm giá lao công của con người, phục vụ nền văn hóa sự sống, kiến tạo hòa bình giữa các dân tộc, đối thoại liên tôn, sử dụng đúng đắn các phương tiện truyền thông xã hội.

Đó là những thách đố mà các bạn được kêu gọi trả lời để xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn. Đó là những thách đố đòi một dự phóng cuộc sống có nhiều yêu sách và làm say mê, trong đó cần đặt tất cả những phong phú của các bạn theo kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mỗi người trong các bạn. Đây không phải là thực hiện những cử chỉ anh hùng hoặc ngoại thường, nhưng là hành động bằng cách làm cho những năng khiếu và khả năng của mình được sinh lợi, dấn thân tiến bộ liên tục trong tin yêu.

Trong Năm Linh Mục này, tôi mời gọi các bạn hãy tìm hiểu cuộc đời các thánh, đặc biệt là các thánh linh mục. Các bạn sẽ thấy rằng Thiên Chúa hướng dẫn họ và họ đã tìm được con đường của mình, ngày này qua ngày khác, trong niềm tin, cậy, mến. Chúa Kitô kêu gọi mỗi người các bạn dấn thân với Ngài và đảm nhận những trách nhiệm của mình để kiến tạo nền văn minh tình thương. Nếu các bạn sống theo Lời Chúa, thì cả con đường của các bạn cũng sẽ chiếu sáng rạng ngời và dẫn các bạn đến những mục tiêu cao cả, mang lại vui mừng và ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống.

Xin Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội, tháp tùng các bạn qua sự che chở của Mẹ. Tôi hứa nhớ đến cạc bạn trong kinh nguyện và thân ái chúc lành cho các bạn.

Vatican ngày 22 tháng 2 năm 2010

+ Biển Đức XVI, Giáo Hoàng
(LM. Trần Đức Anh, OP, chuyển ý)