Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

VUI MỪNG BÁN TẤT CẢ

Lời Chúa: Mt 13,44-52

Hôm ấy, Ðức Giêsu nói với dân chúng dụ ngôn này: “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy. Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy. Nước Trời lại còn giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. Ðến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Anh em có hiểu tất cả những điều ấy không?”

Họ đáp: “Thưa hiểu.”

Người bảo họ: “Bởi vậy, bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ.”

Suy niệm:

Tất cả bắt đầu từ một sựtình cờ may mắn.
Người nông dân nghèo phải làm thuê cho điền chủ
tình cờ gặp được kho báu chôn trong ruộng.
Người buôn ngọc tình cờ gặp được viên ngọc tuyệt vời,
có giá trị lớn lao mà người bán không hề biết.
Sau đó phản ứng của cả hai rất giống nhau:
ra đi, bán tất cả những gì mình có và mua...
Không thấy có dấu vết của sự nuối tiếc
hay ngần ngại giằng co.
Tất cả diễn ra thật nhanh
và tràn ngập niềm vui thanh thản.
Ai cũng rõ họ hạnh phúc biết chừng nào
khi chiếm được kho báu và viên ngọc.
Cuộc đời họ chuyển sang một giai đoạn mới.

Thái độ của hai người trênđược coi là bình thường.
Ở địa vị ta, ta cũng làm như thế.
Kho báu và viên ngọc là những thứ thấy được,
có giá trị hiển nhiên và hết sức hấp dẫn.
Chúng hứa hẹn một sự giàu sang mà ai cũng thèm thuồng,
nên người ta dễ bán tất cả để mua được chúng.
Bị ảnh hưởng bởi não trạng hưởng thụ vật chất,
chúng ta thường coi kho báu duy nhất ở đời này
là tiền bạc, quyền uy và khoái lạc.
Khi nói Nước Trời là kho báu bền vững,
Ðức Giêsu là viên ngọc quý đích thực,
chúng ta lại thấy đó là cái gì mơ hồ,
xa xôi, ít lôi cuốn, thậm chí không có thật.
Chính vì thế chúng ta thường ngần ngại khi từ bỏ,
dè sẻ, nuối tiếc khi phải hy sinh cho Chúa.

Vậy vấn đề là khả năng thấy, nhờ lòng tin.
Bản thân tôi có thấy Ðức Giêsu là viên ngọc quý,
và Nước Trời là kho báu không?
Chỉ ai thấy được những thực tại vô hình
và ngây ngất trước giá trị của chúng,
người ấy mới hồn nhiên và vui tươi
đánh đổi tất cả kho báu phù phiếm của đời này
để lấy kho báu bất diệt trên trời (x.Mt 6,20).
Có khi tình cờ, qua một biến cố, một người bạn,
qua một cuốn sách, một đoạn Lời Chúa, một kỳ tĩnh tâm,
tôi chợt gặp Ðức Giêsu như viên ngọc ngời sáng,
hấp dẫn, mời gọi tôi bay lên khỏi cái tôi tầm thường:
tôi có dám bán nỗi đam mê ích kỷ của mình
để mua lấy tình bạn với Ngài không?

Nếu ta còn ngần ngại khi phải bán đi tất cả
thì chỉ vì ta chưa thấy.
Nhưng nếu ta cứ can đảm bán đi,
ắt ta sẽ thấy.
Niềm vui chỉ đến với người dám bán tất cả.

Cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu,
giàu sang, danh vọng, khoái lạc
là những điều hấp dẫn chúng con.
Chúng trói buộc chúng con
và không cho chúng con tự do ngước lên cao
để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

Xin giải phóng chúng con
khỏi sự mê hoặc của kho tàng dướiđất,
nhờ cảm nghiệm được phần nào
sự phong phú của kho tàng trên trời.

Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi
bán tất cả những gì chúng con có,
để mua được viên ngọc quý là Nước Trời.

Vàước gì chúng con không bao giờ quay lưng
trước những lời mời gọi của Chúa,
không bao giờ ngoảnh mặt
để tránh cái nhìn yêu thương
Chúa dành cho từng người trong chúng con. Amen.

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2011

CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN NĂM A

LỜI CHÚA: Mt 13, 1-9
"Kìa, có người gieo giống đi gieo lúa".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Ngày ấy, Chúa Giêsu ra khỏi nhà và đi đến ngồi ở ven bờ biển. Dân chúng tụ tập quanh Người đông đảo đến nỗi Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. Và Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. Người nói:
"Này đây, có người gieo giống đi gieo lúa. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim trời bay đến ăn mất. Có hạt rơi xuống trên đá sỏi, chỗ có ít đất, nó liền mọc lên, vì không có nhiều đất. Khi mặt trời mọc lên, bị nắng gắt, và vì không đâm rễ sâu, nên liền khô héo. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc um tùm, nên nó chết nghẹt. Có hạt rơi xuống đất tốt và sinh hoa kết quả, có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi. Ai có tai thì hãy nghe".
Ðó là lời Chúa.

SUY NIỆM

Cách nay khoảng gần một năm, chính xác là vào ngày 14.07, ủy ban đối ngoại thượng viện Hoa Kỳ đã công bố hơn một ngàn trang tài liệu từng được coi là những “bí mật” về cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Việc công bố những bí mật này, không biết có đem lại điều gì tốt lành cho cuộc sống của con người hôm nay cũng như mai sau hay không ! Thực tế, khi những “bí mật” này được công bố, chỉ thấy khơi lại trong cõi lòng nhiều người những mất mát, những đau thương, những buồn phiền, những uất hận…

Cũng là những điều được cho là “bí mật”, nhưng khi được công bố, nó đã không đưa con người đến những điều tồi tệ, không dẫn con người “đi vào cõi thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc”.

Ngược lại, những bí mật này, khi được công bố, nó đem lại cho con người niềm tin, sự hy vọng, và hơn hết, đó là niềm hạnh phúc có được một sự sống đời đời.

Sẽ có một câu hỏi được đặt ra. Đó là bí mật gì ?

Thưa rằng, hãy trở lại Palestin của hơn hai mươi thế kỷ trước. Trong khung cảnh đầy thơ mộng của Biển Hồ Tiberia, có một người tên là Giêsu, được mọi người quen gọi là Giêsu Nazareth. Tại nơi đây, Đức Giêsu đã công bố một bí mật. Nó không phải là một bí mật thông thường, đại loại như bí mật của các “sao” mà báo chí “lá cải” thường đưa tin. Bí mật mà Đức Giêsu công bố là một bí mật đặc biệt và đã gây chấn động toàn cầu. Đó chính là “Bí Mật Nước Trời”, theo ngôn ngữ Kinh Thánh được quen gọi là “Mầu nhiệm Nước Trời”.

Câu chuyện được kể lại rằng : “Hôm ấy, Đức Giêsu từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ”. Một rừng người vây quanh Ngài. Và cũng như những lần trước. “Ngài dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều”.

Một trong những điều rất quan trọng luôn được Đức Giêsu đề cập đến đó là ân sủng. Phải có ân sủng, phải có “ơn trên” con người mới có thể “hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”(Mt 13, 11).

Không phải hôm nay Đức Giêsu mới nhắc đến “phải có ân sủng, phải có ơn trên”. Vào một đêm nọ, khi Nicôđêmô đến gặp Đức Giêsu để tìm hiểu mầu nhiệm Nước Trời. Đức Giêsu đã nói với ông ta rằng : “Không ai có thể thấy Nước Trời, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”. Vâng, phải có “ơn trên”.

Cũng không phải hôm nay Ngài mới nhắc đến “Nước Trời”. Ngay khi bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã lớn tiếng nói cho mọi người biết rằng, “Nước Trời đã đến gần”. Không chỉ loan báo vu vơ, Đức Giêsu còn khuyến cáo mọi người rằng “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Trời và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

“Nước Trời” không có gì là bí ẩn để mọi người không thể nhận ra. Và mầu nhiệm Nước Trời không phải là “bí mật quốc gia” để mà che dấu cả thế giới.

Qua dụ ngôn “người gieo giống”, Đức Giêsu đã bày tỏ cho mọi người thấy, rằng mầu nhiệm Nước Trời, chẳng phải là điều gì đó xa vời đối với mọi người. Như một người ra đi gieo giống và những hạt giống đó được gieo vào lòng đất. Mầu nhiệm Nước Trời cũng được gieo vào mảnh đất tâm hồn mỗi con người.

Vâng, vấn đề là, tâm hồn con người có mở ra để “nghe Lời và hiểu” về mầu nhiệm Nước Trời, hay tâm lại khép kín và hồn thì chai đá, để rồi “có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy”!!

Đức Giêsu chấm hết dụ ngôn bằng một lời hết sức tế nhị :“Ai có tai thì nghe”. (Mt 13,8).

Một chút tâm tình…

“Ai có tai thì nghe”. Vâng, phụng vụ Lời Chúa hôm nay kêu gọi mọi người “nghe” lại dụ ngôn “người gieo giống”, một hình ảnh rất đời thường. Nhưng trong cái hình ảnh người gieo giống “bình thường” đó, nó lại phảng phất một con người “khác thường”. Con người khác thường đó chính là Đức Giêsu Kitô.

Vâng, Đức Giêsu Kitô, không ai khác, chính là hình ảnh người gieo giống. Ngài đã ra đi gieo những hạt giống “Nước Trời”. Qua Đức Giêsu Kitô, mọi người được nghe Ngài “rao giảng mầu nhiệm Nước Trời”.

Làm sao có thể am hiểu mầu nhiệm Nước Trời khi chưa am hiểu Lời Chúa ! Mà “Lời Chúa” lại chính là những lời “rao giảng Nước Trời” được loan báo bởi chính Đức Giêsu Kitô .

Vì thế, trước hết, phải nhận biết Đức Giêsu Kitô, nghĩa là phải đón nhận Ngài. Và một khi đã đón nhận Đức Giêsu thì sẽ am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô. Am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô sẽ dẫn đến am hiểu mầu nhiệm Nước Trời. Một khi đã am hiểu Nước Trời thì, như lời Đức Giêsu nói : “Ai có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa”.

Cho thêm và dư thừa điều gì ! Phải chăng là “ơn hiểu biết” ?

Thưa đúng vậy. Chính ơn hiểu biết sẽ dẫn đưa đến việc “nghe Lời và hiểu” những lời rao giảng Nước Trời. Và điều tất yếu như lời Đức Giêsu đã giải thích trong dụ ngôn người gieo giống rằng, người đó “tất nhiên sinh hoa kết quả”(Mt 13,23).

”Quả” đó là quả gì !? Thưa chính là, như lời tông đồ Phaolô đã nói rằng, sẽ “được cùng thừa kế gia nghiệp… cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa ban” (Ep 3,6).

Điều Thiên Chúa hứa ban chính là “Nước Trời” và một cuộc sống đời đời.

Một chút suy tư…

“Ai có tai thì nghe”. Vâng, chúng ta đã “nghe” dụ ngôn người gieo giống” được bao nhiêu lần ? Mới lần đầu ! Mười lần ! Hai mươi lần !

Dù chúng ta đã nghe bao nhiêu lần đi chăng nữa, nhưng nó sẽ chẳng ích lợi gì, nếu chúng ta “nghe mà không hiểu”. Và một khi không hiểu Lời Chúa dạy thì làm sao chúng ta có thể đem ra thực hành !

Phải chăng Lời Chúa khó hiểu ? Hay chúng ta làm bộ không hiểu ? Chúng ta làm bộ không hiểu, không phải vì chúng ta không hiểu, nhưng rất có thể chúng là cố tình không muốn hiểu.

Và một điều quan trọng không kém, đó là, đôi khi chúng ta nghe Lời Chúa, nhưng “không sinh ích gì cho chúng ta” bởi vì tuy đã nghe, nhưng chúng ta, như lời tông đồ Phêrô đã nói : “không lấy đức tin đáp lại lời giảng” (Dt 4,…2).

Câu chuyện dụ ngôn người gieo giống đã được Đức Giêsu giải thích quá rõ ràng. Vâng, đừng nói là khó hiểu, nhưng hãy tự hỏi lòng mình rằng, mảnh-đất-tâm-hồn-của-tôi thuộc loại nào trong bốn loại đất đã được Đức Giêsu nêu trong dụ ngôn người gieo giống !?

Mảnh đất bên vệ đường ư ! Hay là mảnh đất chỉ toàn sỏi đá ! Có phải là mảnh đất đầy gai góc ! Hay mảnh đất tốt chính là mảnh đất tâm hồn của tôi ?

Dĩ nhiên là không ai trong chúng ta lại mong muốn mảnh đất tâm hồn của mình thuộc ba mảnh đất “xấu” nêu bên trên. Thế nhưng, chắc hẳn chúng ta sẽ băn khoăn và tự hỏi rằng : làm thế nào để mảnh đất tâm hồn mình thuộc loại “mảnh đất tốt” !

Đức Giêsu đã trả lời băn khoăn đó cho chúng ta. Chỉ cần thực hiện bốn chữ mà thôi, “nghe Lời và hiểu”. Hãy chú ý ! Chữ “Lời” viết hoa trong Kinh Thánh đồng nghĩa với chữ “Chúa”. Vâng, phải “nghe Chúa và hiểu lời Chúa dạy”.

Một câu chuyện trong sách Samuel được kể lại rằng : “Samuel đang ngủ trong đền thờ Đức Chúa. Nơi có đặt hòm bia Thiên Chúa”(1Sm3,3). Chúa gọi Samuel, thế mà ông ta lại tưởng thầy của mình là Êli gọi. Ba lần Chúa gọi nhưng Samuel vẫn không nhận ra. Chỉ đến khi thầy Êli “hiểu là Đức Chúa gọi” và dạy cho Samuel cách trả lời. Samuel mới “hiểu” và mới có thể nhận ra lời Chúa phán dạy cho mình.

Qua câu chuyện được kể trên, không thể phủ nhận rằng, sự thiếu hiểu biết về lời Chúa chính là rào cản để chúng ta đến với Chúa. Hay nói đúng hơn sự thiếu hiểu biết lời Chúa đã ngăn cản chúng ta nhận ra “mầu nhiệm Nước Trời”.

Một điều chắc rằng, chúng ta sẽ không thể “hiểu lời Chúa dạy” nếu không đọc và học hỏi Lời Chúa hàng ngày. Đừng nghĩ rằng chỉ các linh mục hay các tu sĩ mới phải “đọc Lời Chúa” mỗi ngày.

Hãy nhìn cộng đoàn dân Chúa ở Beroia năm xưa, họ chính là mẫu mưc cho chúng ta hôm nay về việc đọc và học hỏi Lời Chúa.

Tác giả Công Vụ Tông Đồ đã thuật lại việc đó như sau : “Những người Do Thái ở đây cởi mở hơn những người ở Thesalonica : họ đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh để xem có đúng như vậy không” (Cv 17,11).

Nếu chúng ta “đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh”. Vâng, chắc chắn rằng, mảnh đất tâm hồn của chúng ta sẽ là “mảnh đất tốt” và hãy tin rằng, chúng ta sẽ được ơn : ”hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

Cn V PS : Đừng Bối Rối !


Thế giới chúng ta đang sống, có thể nói rằng, quả là một thế giới quá nhiều âu lo và sợ hãi. Âu lo và sợ hãi bởi sự khủng hoảng kinh tế, bởi nạn thất nghiệp tràn lan, bởi đạo đức băng hoại, bởi sự tiềm ẩn của những mối đe dọa chiến tranh và khủng bố, cuối cùng là bởi tội lỗi ngày một gian ác, ngày một gia tăng.
Nhìn vào những thực trạng trên, hỏi rằng, cuộc sống của chúng ta, làm sao ít nhiều không bị ảnh hưởng. ! Hỏi rằng, cuộc sống của chúng ta, làm sao ít nhiều không khỏi bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
…..
Bàng hoàng, lo lắng và bối rối cũng chính là điều mà các môn đệ của Đức Giêsu xưa kia từng đối mặt. Ba năm theo Thầy Giêsu, mỗi khi đối diện với những vấn đề nan giải, các môn đệ cũng không thoát khỏi tâm trạng bàng hoàng, lo lắng và bối rối.
Một trong những những nan đề dẫn đến sự bàng hoàng, lo lắng và bối rối trầm trọng nhất trong ba năm theo Thầy Giêsu chính là những sự kiện đã xảy ra vào buổi chiều của bữa tiệc ly.
…….
Hãy trở về Giêrusalem của hơn hai ngàn năm trước. Chúng ta sẽ thấy điều gì đã xảy ra ! Điều gì đã khiến cho các môn đệ phải bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
Vâng, đó là một buổi chiều của những tin tức xấu, những tin tức buồn.
Một buổi chiều của bàng hoàng. Bàng hoàng vì một kẻ trong nhóm mười hai “sẽ nộp Thầy Giêsu”.
Một buổi chiều của những nỗi “buồn hiu hắt buồn”. Buồn vì có một người sẽ “chối Thầy Giêsu ba lần”.
Một buổi chiều của lo lắng và bối rối. Lo lắng và bối rối vì Thầy Giêsu chỉ “còn ở với (các môn đệ) một ít lâu nữa thôi”.
Hãy thử tưởng tượng, trong ba năm qua, các môn đệ đã bỏ hết mọi sự, nghề nghiệp, cuộc sống gia đình để theo Thầy Giêsu, với tất cả niềm tin và lòng phó thác. Họ đã có một cuộc sống an tâm bên cạnh Ngài. Khi thiếu bánh ăn, Thầy Giêsu hóa bánh ra nhiều. Khi gặp phong ba bão táp, Thầy Giêsu giải cứu họ. Khi cần, Thầy Giêsu dạy dỗ họ…
Thế mà hôm nay, Thầy Giêsu lại nói : “Nơi Thầy đi, các con không thể đến được”…
Chuyện là như thế đấy !
Hỏi sao các môn đệ không bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
Hỏi sao ông Simon Phêrô lại không hỏi ; “Thầy đi đâu ? Sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ?”
Hỏi sao ông Tôma lại không thắc mắc với Thầy của mình rằng : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường” !
Nếu những lần trước, Đức Giêsu đã hóa giải sự lo lắng và bối rối trước những nan đề mà các môn đệ đã phải đối mặt, bằng những phép lạ tỏ tường. Thì hôm nay, chỉ cần đôi lời đàm đạo. Ngài đã xua tan những lo lắng và bối rối của các ông.
Qua những lời đàm đạo, Thầy Giêsu không chỉ hé mở cho các môn đệ thấy nơi các ông sẽ đến, nhưng Ngài còn vẽ ra một “sinh lộ” cho cuộc hành trình các ông sẽ phải đi qua. Một cuộc hành trình đi về “Nhà Cha”. Nơi mà Thầy Giêsu sẽ đi trước để “dọn chỗ” cho các môn đệ của Ngài. Để Thầy Giêsu ở đâu thì các môn đệ của Ngài “cũng ở đó”.
Sau phần đàm đạo giữa Thầy và trò. Có phần chắc, các môn đệ thấu hiểu và tin tưởng vào lời Đức Giêsu đã nói : “Anh em đừng bối rối ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1).
Một chút tâm tình…
Trong cuộc đàm đạo. Ông Philipphe có nói với Đức Giêsu “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”.
Đức Giêsu trả lời: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”. Và rằng “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,9…11)
Vâng, Có thể ví rằng, câu trả lời của Đức Giêsu như một “chiếc cầu treo” nối kết “Trời và Đất”. Nó đã phá vỡ sự ngăn cách giữa con người và Thiên Chúa, Sự ngăn cách mà xưa kia nguyên tổ Adam và Eva đã gây ra.
Tất cả những lời đàm đạo giữa Chúa Giêsu với các môn đệ trong bữa tiệc ly năm xưa, có thể được tóm gọn trong lời Ngài đã khẳng định với Tôma rằng : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”(Ga 14,6).
Không có dấu hiệu cho thấy các môn đệ nghi ngờ lời khẳng định trên của Chúa Giêsu. Bởi nếu các ông nghi ngờ, thì sau này làm gì có chuyện “Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giêrusalem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin” (Cv 6,7).
Một phút suy tư…
Cuộc đời thường được ví như một con đường. “Đường đời”. Và phải chăng, đường đời chúng ta đi cũng không thiếu những âu lo phiền muộn, những lo lắng và bối rối !
Đúng vậy, trong hoàn cảnh riêng tư của cuộc đời, sẽ có lúc chúng ta cũng lo lắng và bối rối trước một nan đề nào đó.
Một cơn cám dỗ bội phản lời thề thủy chung !
Trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính !
Trước sự bắt bớ của bạo quyền !
Chúng ta sẽ làm gì để vượt qua sự sợ hãi, sự lo lắng và bối rối !
Phải chăng là “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Vâng, thông điệp này không chỉ dành riêng cho các môn đệ của Đức Giêsu năm xưa. Nó cũng dành cho chúng ta là những Kitô hữu hôm nay.
Tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy ! Phải chăng chính là hãy tin Đức Giêsu, Ngài chính là “con đường, là sự thật và là sự sống” !?
Các môn đệ đã tin. Vâng, họ đã tin Đức Giêsu chính là con đường đời của họ. Một con đường dẫn đến sự thật và có sự sống đời đời.
Giáo Hội tiên khởi, bất chấp ba trăm năm “hầm trú”, bị bắt bớ, cũng đã tin như thế.
Còn chúng ta ! Chúng ta tin !
Nếu chúng ta tin, chẳng có gì phải lo lắng và bối rối trước cơn cám dỗ bội phản lời thề thủy chung. Hãy mặc lấy tư tưởng ông Giuse, “từ chối, không chịu nghe… chạy trốn và ra ngoài” (St 38, 7…12)
Nếu chúng ta tin ! Trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính ư ! Hãy nhớ rằng “Tất cả mọi sự chỉ là phù vân”.
Sự bắt bớ của bạo quyền ư ! Hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã nói : “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28).
“Anh em đừng bối rối ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Hãy tin. Bởi có tin vào Thiên Chúa “bất cứ điều gì chúng ta nhân danh Ngài mà xin… thì chính Ngài sẽ làm điều đó” cho chúng ta.
Vâng, Lạy Chúa ! Xin Ngài cất đi những lo lắng và bối rối trong cuộc sống của chúng con. Amen.
Petrus.tran.

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011

GIÁO LÝ MÙA CHAY


Tuesday, 08 March 2011 17:30 LĐCGVN-HK

1/ Mùa Chay là gì? Mùa Chay kéo dài bao nhiêu ngày, bắt đầu và kết thúc vào ngày nào? Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô. Mùa Chay kéo dài 40 ngày, bắt đầu từ thứ Tư Lễ Tro và kết thúc thứ Bảy Tuần Thánh.

2/ Kinh Thánh cho ta biết con số 40 ám chỉ những biến cố lớn nào? Con số 40 (ám chỉ) gợi nhớ 40 năm dân Do Thái Vượt Qua trong sa mạc tiến về Đất Hứa (Ds 14,33; 32,13), lụt Hồng Thủy kéo dài 40 đêm ngày (St 7) và cuộc chay tịnh 40 đêm ngày của Chúa Kitô trong rừng vắng trước khi rao giảng ơn cứu độ (Mt 4,2; Lc 4,1-2). Các Giáo Phụ cũng coi thời gian giữ chay tương tự thời gian bốn mươi ngày ông Mô-sê ở trên núi Xi-nai (Xh 34,28), hoặc bốn mươi ngày ông Ê-li-a chạy trốn ở núi Kho-rép (1V 19,8)...

3/ Mùa Chay có mấy đặc tính? Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô, và nhất là nhớ lại hoặc dọn mình lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Mùa Chay còn là mùa chuẩn bị các tín hữu cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua bằng sự nhiệt thành nghe Lời Chúa và chuyên chăm cầu nguyện mỗi ngày.

4/ Mùa Chay mang ý nghĩa gì? Mùa Chay là thời kỳ sám hối, cầu nguyện: Hội Thánh kêu gọi mọi người quay về với Chúa, thanh tẩy tâm hồn, từ bỏ các tật xấu, hy sinh hãm mình và làm việc bác ái. Mùa Chay cũng là thời gian huấn luyện đức tin của các Kitô hữu cho thêm vững mạnh, và sâu xa hơn khi nhớ lại Bí tích Rửa Tội đã lãnh nhận. Mùa Chay còn là mùa chuẩn bị cho anh chị em dự tòng đón nhận sự sống thiêng liêng nhờ việc sống tinh thần của Bí tích Rửa Tội. 5/ Chủ đề Sứ điệp Mùa Chay năm 2011 của Đức Thánh Cha là gì? Sứ điệp năm nay có chủ đề “Cùng với Chúa Kitô anh chị em đã được chôn táng trong phép Rửa Tội, và anh chị em cũng được sống lại với Người” (Xc Cl 2,12). 6/ Trong sứ điệp Mùa Chay năm 2011, Đức Thánh Cha chỉ ra đâu là điểm giúp hướng dẫn hành trình Mùa Chay? “Để nghiêm túc bắt đầu hành trình tiến về Lễ Phục Sinh và chuẩn bị cử hành sự sống lại của Chúa - là lễ vui mừng và trọng đại nhất trong toàn năm phụng vụ - thử hỏi có gì thích hợp hơn là để cho Lời Chúa dẫn dắt?” 7/ Bốn phương thế Hội Thánh quen dùng trong Mùa Chay là gì? Bốn phương thế Hội Thánh quen dùng trong Mùa Chay là: sám hối, ăn chay hãm mình, cầu nguyện và làm các việc bác ái. 8/ Sám hối là gì? Sám hối là can đảm và khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm mình đã phạm. 9/ Việc chay tịnh giúp con người ra sao? Qua việc chay tịnh, con người nhìn nhận mình lệ thuộc Thiên Chúa, vì chính lúc không sử dụng lương thực Chúa ban, con người mới cảm nghiệm được tính cách bấp bênh của sức lực mình. Hơn nữa, ăn chay là muốn bày tỏ cùng Thiên Chúa rằng: Nếu không có Người, chúng ta không thể làm gì được; và qua việc thực lòng nhìn nhận tính cách hư vô của mình, con người khẩn cầu Chúa tha thứ. 10/ Theo luật Hội Thánh, đến tuổi nào thì buộc phải giữ chay và kiêng thịt? Theo luật Hội Thánh, mọi người từ tuổi thành niên (tức là 18 tuổi trọn; GL 97) cho đến khi bắt đầu 60 tuổi thì buộc phải giữ chay (GL 1252 ). Còn luật kiêng thịt buộc những người từ 14 tuổi trọn trở lên. 11/ Giáo Hội buộc ta phải giữ chay và kiêng thịt vào những ngày nào? Giáo Hội buộc ta phải giữ chay và kiêng thịt vào hai ngày thứ Tư Lễ Tro và ngày thứ Sáu Tuần Thánh (x. GL 1251). Việc chay tịnh của Hội Thánh vào hai ngày này nói lên ý muốn đền tội và từ bỏ tội lỗi và đó cũng là một sự chuẩn bị để mừng lễ Phục Sinh. 12/ Phụng vụ ngày thứ Tư Lễ Tro gợi lên cho tín hữu những gì? Phụng vụ ngày thứ Tư Lễ Tro gợi lên cho tín hữu ý thức về thân phận thụ tạo tội lỗi của mình. Khi nhận tro rắc lên đầu, tín hữu được nhắc nhớ: “hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. 13/ Tại sao Chúa nhật thứ VI Mùa Chay được gọi là Chúa nhật Lễ Lá? Chúa nhật bắt đầu Tuần Thánh gọi là Chúa nhật Lễ Lá, vì có cuộc kiệu lá để kỷ niệm việc Chúa Giêsu long trọng tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem để hoàn tất Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người. Tục lệ này khởi đầu tại Giê-ru-sa-lem vào cuối thế kỷ thứ IV. 14/ Nghi thức làm phép lá và rước lá nhắc nhở chúng ta điều gì? Nghi thức làm phép lá và rước lá nêu cao vương quyền của Đức Kitô, đồng thời để giúp chúng ta sống lại cảnh tượng Chúa Kitô khải hoàn tiến vào Giê-ru-sa-lem. Người muốn tỏ uy quyền và vinh quang của Người để chúng ta bền vững, tin tưởng và trung thành với Người. 15/ Tuần Thánh là gì? Tuần Thánh là tuần lễ chủ yếu của năm Phụng vụ, bắt đầu từ Chúa nhật Lễ Lá đến Chúa nhật Phục Sinh. 16/ Trong tuần Thánh, Giáo Hội cử hành những cuộc tưởng niệm nào? Trong Tuần Thánh, Giáo Hội cử hành cách đặc biệt hơn các biến cố trong những ngày cuối cùng của Chúa Giêsu, tức là cuộc khổ nạn, cái chết và sự Phục Sinh của Người. Trong tuần lễ này, Tam Nhật Vượt Qua là những ngày quan trọng nhất. 17/ Hằng năm, người Do Thái mừng lễ Vượt Qua để làm gì? Hằng năm người Do Thái mừng lễ Vượt Qua để tưởng nhớ lại biến cố Vượt Qua Biển Đỏ mà ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa đã yêu thương giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, và nhắc nhở họ phải sống xứng đáng là dân riêng của Chúa. 18/ Hội Thánh cử hành Tam Nhật Vượt Qua với mục đích nào? Hội Thánh cử hành Tam Nhật Vượt Qua để cho ta thấy trước và sống trước những thực tại của ngày cánh chung, ngày mà Chúa Kitô sẽ tập hợp tất cả chúng ta lại trong Nước của Cha Người. Mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giêsu đã khơi mào và bảo đảm cho ta được hưởng ngày hồng phúc ấy. Hơn nữa, Hội Thánh dùng Tam Nhật Vượt Qua để đón nhận những con cái mới được sinh ra trong ân sủng, để giao hòa những hối nhân và canh tân đời sống những người đã được thanh tẩy. 19/ Tam Nhật Vượt Qua có ý nghĩa gì đối với Kitô hữu? Tham dự Tam Nhật Vượt Qua, tín hữu được sống với Đức Kitô trong bữa Tiệc Ly, theo Người lên Núi Sọ, bước vào chốn an nghỉ của Người và chiêm ngắm Người Phục Sinh vinh hiển. 20/ Tại sao Tam Nhật Vượt Qua lại là trung tâm điểm của Phụng vụ Kitô giáo? Tam Nhật Vượt Qua là trung tâm điểm của Phụng vụ Kitô giáo, bởi vì tất cả nền Phụng vụ của Hội Thánh đều phát xuất từ mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô: khổ nạn, chịu chết và phục sinh. Ngày Chúa Phục Sinh là ngày lễ Mẹ của mọi ngày Chúa nhật trong năm; Thánh Lễ nào cũng đều tưởng niệm và tái diễn công cuộc Vượt Qua của Đức Kitô. 21/ Trong ngày thứ Năm Tuần Thánh, Hội Thánh cử hành những nghi thức long trọng nào? Thánh Lễ Truyền Dầu được cử hành vào ban sáng do Đức Giám mục Giáo phận chủ tế cùng với Linh mục đoàn để làm phép dầu Bệnh Nhân, dầu Dự Tòng và để thánh hiến Dầu Thánh. Thánh lễ tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu được cử hành ban chiều để nhắc nhớ việc Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể. Thánh lễ này khai mạc Tam Nhật Vượt Qua. 22/ Phụng vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội tưởng niệm những biến cố gì? Trước hết là tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu, việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức Linh mục, cũng như nghi thức rửa chân, biểu tượng tình yêu phục vụ của Đức Kitô. 23/ Khi cử hành nghi thức rửa chân, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta điều gì? Chính vì yêu thương mà Chúa Giêsu đã hạ mình xuống rửa chân cho các môn đệ, như đầy tớ rửa chân cho chủ. Qua nghi thức này, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta phải noi gương Đức Kitô trong tinh thần phục vụ: “Phục vụ vì yêu thương”. 24/ Kinh Thánh cho ta biết tâm trạng của Chúa Giêsu trong vườn Ghết-xê-ma-ni thế nào? Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giêsu cảm thấy sợ sệt, buồn rầu và xao xuyến. Người đã xin Chúa Cha cho khỏi qua giờ đau khổ, khỏi phải uống chén đắng này. Tuy nhiên, dầu sợ hãi, Người cũng sẵn sàng chết, nếu đó là Thánh ý Chúa Cha: “nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha”. 25/ Chén đắng mà Chúa Giêsu xin Chúa Cha cho Ngài khỏi uống ám chỉ điều gì? Chén đắng ở đây ám chỉ những thử thách và những đau khổ mà Đức Giêsu sắp phải chịu. Đó chính là cuộc thương khó của Ngài. 26/ Trọng tâm của việc cử hành chiều ngày thứ Sáu Tuần Thánh là gì? Tại sao? Trọng tâm của việc cử hành chiều thứ Sáu Tuần Thánh là nghi thức suy tôn và kính thờ Thánh Giá, vì nhờ Thánh Giá mà ơn cứu độ được ban cho chúng ta. 27/ Trên Thập Giá, Đức Giêsu đã nói những lời nào? Lời thứ nhất: Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha xin Người tha cho những kẻ làm khổ mình: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34); Lời thứ hai: Đức Giêsu chấp nhận lời xin của tên trộm bị đóng đanh cùng: “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” (Lc, 23, 43); Lời thứ ba: Đức Giêsu trao gửi Thánh Gioan cho Đức Mẹ: “Thưa Bà, đây là Con Bà” (Ga 19,26); Lời thứ bốn: Đức Giêsu trao gửi Đức Mẹ cho Thánh Gioan: “Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,27); Lời thứ năm: Đức Giêsu than thở với Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con!” (Mt 27, 46); Lời thứ sau: Đức Giêsu phó thác linh hồn cho Chúa Cha: “Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn Con trong tay Cha” (Lc 23, 46); Lời thứ bảy: Đức Giêsu kêu khát và sau khi uống chút giấm chua, Đức Giêsu nói: “Thế là mọi sự đã hoàn tất”. Rồi Người tắt thở. (Ga 19, 30). 28/ Khi chết trên Thập Giá, Đức Kitô muốn nói với chúng ta điều gì? Đức Kitô muốn nói rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng: “Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu” (Ga 15, 13). 29/ Tại sao gọi tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu cứu chuộc? Chúng ta gọi tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu cứu chuộc vì qua hy lễ của Đức Kitô, tình yêu Thiên Chúa giải thoát loài người khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. (Rm 5, 8). 30/ Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu chết trên Thập Giá, chúng ta phải có những thái độ nào? Suy tôn: vì Chúa đã chiến thắng sự chết; Cảm phục: vì Chúa đã hy sinh chịu chết; Cảm mến: vì Chúa đã dùng cái chết để tỏ lòng yêu thương ta; Tri ân: vì Chúa đã chịu chết để chuộc tội cho ta; Ngưỡng mộ: vì Chúa muốn chúng ta noi theo Người: “Ai muốn theo Ta, thì hãy bỏ mình và vác thập giá mình mà theo”; Vì thế, chúng ta giục lòng ăn năn tội và quyết tâm sống mỗi ngày đẹp lòng Chúa hơn. 31/ Ngày thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội muốn chúng ta làm gì? Ngày thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng với Mẹ Maria cầu nguyện bên Mồ Chúa, cùng Người suy ngắm các đau khổ, cái chết và việc mai táng của Chúa Giêsu trong niềm hy vọng và tin tưởng. 32/ Trên hình Thánh Giá ở cây nến Phục Sinh, Linh mục ghim năm hạt hợp hương mang ý nghĩa gì? Trên hình Thánh Giá ở cây nến Phục Sinh, năm hạt hợp hương chính là biểu tuợng năm dấu đanh của Chúa Giêsu (dấu đanh trên cổ tay trái, dấu đanh trên cổ tay hữu, dấu đanh trên cổ chân trái, dấu đanh trên cổ chân phải, và dấu đanh bên cạnh sườn của Chúa Giêsu). 33/ Dấu Thánh Giá mang ý nghĩa gì? Thánh Giá là dấu chỉ của sự cứu độ. Khi làm dấu Thánh giá, chúng ta nhận biết mình thuộc về Chúa Kitô và bày tỏ niềm tin vào Chúa Kitô, Đấng đã chết trên Thánh giá để cứu chuộc chúng ta.

Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011

Công bố Sứ điệp Mùa Chay 2011 của Đức Thánh Cha

VietCatholic News (22 Feb 2011 12:41)


VATICAN - ĐTC Biển Đức 16 mời gọi các tín hữu tái khám phá và sống trọn ý nghĩa bí tích Rửa tội, dựa theo hành trình phụng vụ Mùa Chay, và vượt thắng lòng ích kỷ.Trên đây là nội dung Sứ điệp của ĐTC nhân dịp Mùa Chay sắp bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro 9-3 tới đây với chủ đề ”Cùng với Chúa Kitô anh chị em đã được chôn táng trong phép Rửa Tội, và anh chị em cũng được sống lại với Người” (Xc Cl 2,12). Sứ điệp của ĐTC được ĐHY Robert Sarah, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum (Đồng Tâm), và các vị phụ tá, giới thiệu trong cuộc họp báo sáng hôm ngày 22-2-2011, tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh. Hiện diện trên bàn chủ tọa còn có bà Myriam García Abisqueta, Chủ tịch tổ chức bác ái ”Manos Unidas” (Những bàn tay liên kết) tại Tây Ban Nha.Qua Sứ điệp, ĐTC nhắc nhở rằng ”Bí tích Rửa Tội không phải là một nghi thức quá khứ, nhưng là một cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, ảnh hưởng trên toàn thể của sống của người chịu Phép Rửa, mang lại cho họ sự sống thần linh và kêu gọi họ chân thành hoán cải, một cuộc hoán cải được ân thánh khởi sự và nâng đỡ, đưa họ đạt tới tầm mức trưởng thành của Chúa Kitô. Có một mối liên hệ đặc biệt giữa Bí tích Rửa Tội và Mùa Chay như một thời điểm thuận tiện để cảm nghiệm ơn thánh cứu độ”.ĐTC lần lượt trình bày sự trợ giúp của các bài Phúc Âm đọc trong 5 chúa nhật mùa chay, để chúng ta tiến đến một cuộc gặp gỡ đặc biệt nồng nhiệt với Chúa, bằng cách đưa chúng ta tiến qua các giai đoạn trong hành trình khai tâm Kitô giáo: đối với các dự tòng, điều này diễn ra trong viễn tượng nhắm lãnh nhận bí tích tái sinh, và đối với những người đã chịu phép Rửa, để họ đạt tới những bước tiến mới có tính chất quyết định trong hành trình theo Chúa Kitô và hiến thân trọn vẹn hơn cho Chúa”.ĐTC cũng khẳng định rằng: ”Sự dìm mình của chúng ta trong cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô qua bí tích rửa tội, thúc đẩy chúng ta mỗi ngày giải thoát con tim của mình khỏi gánh nặng của những sự vật chất, khỏi mối liên hệ ích kỷ với trần thế này, liên hệ ấy làm cho chúng ta trở nên nghèo nàn và ngăn cản không để chúng ta sẵn sàng và cởi mở đối với Thiên Chúa và tha nhân.. . Qua những việc thực hành truyền thống như ăn chay, làm phúc, cầu nguyện, là những biểu hiệu của sự dấn thân hoán cải, Mùa Chay dạy chúng ta sống tình thương của Chúa Kitô một cách quyết liệt hơn”.”Tóm lại, hành trình Mùa Chay, trong đó chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Mầu Nhiệm Thánh Giá, chính là ”trở nên đồng hình với cái chết của Chúa Kitô” (Pl 3,10), để thực hiện sự hoán cải sâu xa trong đời sống chúng ta, để cho hoạt động của Chúa Thánh Linh tác động, như thánh Phaolô trên đường Damasco; quyết liệt qui hướng cuộc sống chúng ta theo thánh ý Chúa; giải thoát chúng ta khỏi tính ích kỷ, vượt thắng bản năng muốn thống trị người khác và cởi mở đối với tình thương của Chúa Kitô. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để nhìn nhận những yếu đuối của chúng ta, chân thành kiểm điểm cuộc sống để đón nhận ơn thánh canh tân của Bí tích Thống Hối và quyết liệt tiến về cùng Chúa Kitô”.Và ĐTC kết luận rằng: ”Anh chị em thân mến, qua cuộc gặp gỡ bản thân với Đấng Cứu Chuộc chúng ta và qua chay tịnh, làm phúc, cầu nguyện, hành trình hoán cải tiến về Lễ Phục Sinh dẫn đưa chúng ta đến chỗ tái khám phá phép Rửa của chúng ta. Trong Mùa Chay này, chúng ta hãy tái đón nhận Ơn Thánh mà Thiên Chúa ban cho chúng ta trong lúc này, để Ơn Thánh soi sáng và hướng dẫn mọi hành động của chúng ta”.Trong cuộc họp báo, ĐHY Sarah, người Guinea Equatoriale, trình bày một số hoạt động cứu trợ của tổ chức Cor Unum, cơ quan bác ái của ĐTC, đặc biệt trong những tháng gần đây và ĐHY nhấn mạnh rằng: ”tại Haiti, Sahel, Mỹ châu la tinh và Carabí, cũng như tại bất kỳ nơi nào khác trên thế giới cần có một sự cứu giúp cụ thể, Giáo Hội Công Giáo luôn đi hàng đầu trong việc cứu trợ cấp thiết. Bao nhiêu lần, trong những trường hợp thiên tai, chúng ta đã nhe ĐTC kêu gọi sự can thiệp vật chất của cộng đoàn Giáo Hội và quốc tế, không phân biệt tín ngưỡng, chủng tộc hoặc chính kiến!” (SD 22-2-2011)
LM Trần Đức Anh OP