Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

17 tháng 10/2010: CHÚA NHẬT 29 THƯƠNG NIÊN NĂM C

CHÚA NHẬT 29 THƯƠNG NIÊN NĂM C
BÀI ÐỌC I: Xh 17, 8-13
"Khi ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng trận".
Trích sách Xuất Hành. Trong những ngày ấy, người Amalec đến giao chiến với Israel tại Raphiđim, Ông Môsê nói với ông Giosuê rằng: "Ngươi hãy tuyển lựa các chiến sĩ ra chiến đấu với người Amalec: ngày mai tôi sẽ cầm gậy Thiên Chúa trong tay lên đứng trên đỉnh núi". Ông Giosuê thực hiện như lời ông Môsê đã dạy, và ra chiến đấu với người Amalec. Còn ông Môsê, Aaron và Hur thì đi lên đỉnh núi. Khi ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng trận, còn khi ông hạ tay xuống một chút, thì người Amalec thắng thế. Bấy giờ tay ông Môsê mỏi mệt, người ta liền khiêng tảng đá kê cho ông ngồi, còn ông Aaron và ông Hur thì nâng đỡ hai tay ông. Bởi đó hai tay ông không còn mỏi mệt cho đến khi mặt trời lặn. Ông Giosuê dùng lưỡi gươm đánh đuổi người Amalec và quân dân nó.
Ðó là lời Chúa.
ÐÁP CA: Tv 120, 1-2. 3-4. 5-6. 7-8
Ðáp: Ơn phù trợ chúng tôi ở nơi danh Chúa, là Ðấng tạo thành trời đất (c. 2).
Xướng: 1) Tôi ngước mắt nhìn lên đỉnh núi cao, ơn phù trợ cho tôi sẽ từ đâu ban tới? Ơn phù trợ chúng tôi ở nơi danh Chúa, là Ðấng tạo thành trời đất.
2) Người chẳng để cho chân ngươi xiêu té; Ðấng bảo vệ ngươi, Người chẳng có ngủ say. Kìa Ðấng bảo vệ Israel, Người không thiếp giấc, không ngủ say.
3) Chúa sẽ bảo vệ thân ngươi, Chúa là Ðấng che chở ngươi ở bên tay hữu. Mặt trời sẽ không hại ngươi lúc ban ngày, và mặt trăng cũng chẳng hại ngươi về ban đêm.
4) Chúa sẽ gìn giữ ngươi khỏi mọi điều tai biến; Người sẽ bảo vệ linh hồn ngươi. Chúa sẽ bảo vệ ngươi khi đi và khi tới, ngay tự bây giờ và cho đến muôn đời.

BÀI ÐỌC II: 2 Tm 3, 14 - 4, 2
"Người của Thiên Chúa được hoàn hảo, để sẵn sàng thực hiện mọi việc lành".
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu. Con thân mến, con hãy bền vững trong các điều con đã học hỏi và xác tín, vì con biết con đã học cùng ai, vì từ bé, con đã học biết Sách Thánh, và chính Sách Thánh đã dạy con sự khôn ngoan để con được cứu rỗi nhờ tin vào Ðức Giêsu Kitô. Tất cả Kinh Thánh đã được Chúa linh hứng, đều hữu ích để giảng dạy, biện bác, sửa dạy và giáo dục trong đàng công chính, ngõ hầu người của Thiên Chúa được hoàn hảo để sẵn sàng thực hiện mọi việc lành. Cha khuyến cáo con trước tôn nhan Thiên Chúa và Ðức Kitô, Ðấng sẽ thẩm phán kẻ sống và kẻ chết, nhân danh cuộc xuất hiện của chính Người và vương quốc của Người: Con hãy rao giảng lời Phúc Âm, hãy xúc tiến việc đó, dầu thời thế thuận lợi hay không thuận lợi; hãy thuyết phục, hãy khiển trách, hãy khuyên lơn với tất cả lòng kiên nhẫn và quan tâm giáo huấn.
Ðó là lời Chúa.
ALLELUIA: Ga 14, 23 Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". - Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 18, 1-8
"Thiên Chúa sẽ minh xử cho những kẻ người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng, mà rằng: "Trong thành kia, có một vị thẩm phán không kính sợ Thiên Chúa, cũng không kiêng nể người ta. Trong thành đó lại có một bà goá đến thưa ông ấy rằng: 'Xin ông minh oan cho tôi khỏi tay kẻ thù'. Trong một thời gian lâu dài, ông không chịu, nhưng sau đó ông nghĩ rằng: 'Mặc dầu ta không kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng kính nể người ta, nhưng vì bà goá này cứ quấy rầy ta mãi, nên ta sẽ xử cho bà ấy, kẻo bà ấy đến mãi làm ta nhức óc'". Rồi Chúa phán: "Các con hãy nghe lời vị thẩm phán bất lương nói đó. Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn, hằng kêu cứu với Người đêm ngày, mà khoan giãn với họ mãi sao? Thầy bảo các con, Chúa sẽ kíp giải oan cho họ. Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?"
Ðó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG KIÊN NHẪN CẦU NGUYỆN
Chắc hẳn không ai dám nghĩ đến và muốn câu sau cùng của Bài Phúc âm hôm nay sẽ thành sự thật: Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng? Nếu thế thì tất cả hạnh phúc đời này và đời sau sẽ tùy thuộc vào đức tin và việc thực hành đức tin của ta hôm nay. Một trong những việc thực hành ấy là sự kiên nhẫn cầu nguyện như Chúa Giêsu đã dạy về thái độ của bà góa quấy rầy vị thẩm phán bất lương. Ông này vì sợ nhức óc do những lời kêu ca của bà, nên đành phải minh oan cho bà! Ở đây có hai điều hữu ích trong việc thực hành đức tin, đó là sự kiên nhẫn cầu nguyện và việc nhận ra thời giờ cũng như cách thức Chúa nhận những lời cầu xin ấy. Về sự kiên nhẫn cầu nguyện diễn tả lòng tin nơi Chúa có thể coi như việc thờ phượng tung hô và tin tưởng liên lỉ vào quyền năng của Ngài. Những lời cầu hay ca ngợi của ta với Chúa có thể rất nhàm chán như những lời quấy rầy của bà góa với vị thẩm phán, nhưng sự kiên nhẫn ấy lại là việc tin tưởng tuyệt đối của ta nơi Chúa, bởi ngoài Ngài ra, chẳng ai có thể ban cho ta ơn cứu độ đời đời và hạnh phúc từng ngày hôm nay. Như Chúa Giêsu dạy, ta hãy kiên nhẫn quấy rầy Chúa, thế nào Ngài cũng cho điều ta cần. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn chính là nhận ra thì giờ và cách thức Chúa ban ơn lành cho ta. Thì giờ có thể coi như những điểm hẹn, những thời điểm trong cuộc đời; còn cách thức có thể xem như những gì tốt nhất cho cuộc sống. Những điểm hẹn hay thời điểm trong cuộc sống thì bàng bạc trải dài suốt cả đời ta. Chúng có thể là tích cực và tiêu cực, nghĩa là cả tốt lẫn rủi ro, bởi vì như thánh Phaolô nói tất cả đều tốt cho kẻ có lòng mến Chúa. Cuộc minh oan của vị thẩm phán cho bà góa chưa hẳn đã hoàn toàn may mắn, nên cần phải đợi chờ! Còn cách thức Chúa ban ơn lành lại quá xa vời với ý nghĩ nhân loại. Những gì ta nghĩ là cần là tốt cho mình, thì có khi Chúa lại không muốn như vậy. Nếu thế, Con Một Giêsu của Ngài đã không ngại chọn chết trên thập giá thay vì cách khác nhẹ nhàng hơn để cứu độ nhân loại. Về điểm này, ta phải nhận rằng mình bị giới hạn trong thân phận nhân loại, nên không thể hiểu được rõ ràng ý Chúa cho cuộc đời mình, chỉ biết rằng ý Chúa chắc chắn sẽ tốt hơn cho ta. Như Chúa Giêsu dạy, ta hãy kiên nhẫn cầu nguyện và tin tưởng vào Chúa, thế nào cũng được ơn cứu độ, điều mà ai cũng rất cần cho phút sau cùng của cuộc sống mình (Lc 21:19). Lm. Raphael Xuân Nguyên

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2010

22 tháng 8/2010: CHÚA NHẬT 21 THƯƠNG NIÊN NĂM C

ĐỌC I: Is 66, 18-21
"Chúng dẫn tất cả anh em các ngươi từ mọi dân tộc đến".

Trích sách Tiên tri Isaia. Đây Chúa phán: "Ta đã biết các việc làm và tư tưởng của chúng; Ta đến quy tụ mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ: chúng sẽ đến và nhìn thấy vinh quang của Ta. Ta sẽ đặt nơi chúng một dấu lạ, Ta sẽ sai một số trong những người được giải thoát đến các dân ngoài biển, bên Phi châu và Lyđia, là những dân thiện xạ, đến Ý-đại-lợi và Hy-lạp, đến những hòn đảo xa xăm, đến với những kẻ chưa nghe nói về Ta, và chưa thấy vinh quang của Ta. Chúng sẽ rao giảng cho các dân biết vinh quang của Ta, sẽ dẫn tất cả anh em các ngươi từ mọi dân tộc đến như của lễ dâng cho Chúa, họ cỡi ngựa, đi xe, đi võng, cỡi la, cỡi lạc đà, đến núi thánh của Ta là Giêrusalem, khác nào con cái Israel mang của lễ trong chén tinh sạch vào nhà Chúa, Chúa phán như thế. Trong những dân đó, Ta sẽ chọn các tư tế, các thầy Lêvi: Chúa phán như vậy". Vì chưng lời Chúa rằng: Cũng như Ta tạo thành trời mới, đất mới đứng vững trước mặt Ta thế nào, thì dòng dõi ngươi và danh tánh các ngươi sẽ vững bền như vậy".

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 116, 1. 2 Đáp:

Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15). Xướng: 1) Toàn thể chư dân, hãy khen ngợi Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người. 2) Vì tình thương Chúa dành cho chúng tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời.


BÀI ĐỌC II: Dt 12, 5-7, 11-13 "Chúa sửa dạy ai là kẻ Người yêu mến". Trích thư gửi tín hữu Do-thái. Anh em thân mến, anh em đã quên lời yên ủi tôi nói với anh em, như nói với những người con rằng: "Hỡi con, con chớ khinh thường việc Chúa sửa dạy, và đừng nản chí khi Người quở trách con; vì Chúa sửa dạy ai là kẻ Người yêu mến, và đánh đòn kẻ mà Người chọn làm con". Trong khi được sửa dạy, anh em hãy bền chí. Thiên Chúa xử sự với anh em như con cái: vì có người con nào mà cha không sửa phạt. Ngày nay, hẳn ai cũng coi việc sửa dạy là nỗi buồn khổ, hơn là nguồn vui, nhưng sau này, nó sẽ mang lại hoa quả bình an công chính cho những ai được sửa dạy. Vì thế, anh em hãy nâng đỡ những bàn tay bủn rủn và những đầu gối rụng rời. Đường anh em đi, anh em hãy bạt cho thẳng, để người què khỏi bị trẹo chân, nhưng được an lành.

Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 14, 23 Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.


PHÚC ÂM: Lc 13, 22-30

"Người ta sẽ từ đông chí tây đến dự tiệc trong nước Chúa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, Chúa Giêsu rảo qua các đô thị và làng mạc, vừa giảng dạy vừa đi về Giêrusalem. Có kẻ hỏi Người rằng: "Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?" Nhưng Người phán cùng họ rằng: "Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi biết: nhiều người sẽ tìm vào mà không vào được. Khi chủ nhà đã vào và đóng cửa lại, thì lúc đó các ngươi đứng ngoài mới gõ cửa mà rằng: 'Thưa ngài, xin mở cửa cho chúng tôi'. Chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: 'Ta không biết các ngươi từ đâu tới'. Bấy giờ các ngươi mới nói rằng: 'Chúng tôi đã ăn uống trước mặt ngài và ngài đã giảng dạy giữa các công trường chúng tôi'. Nhưng chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: 'Ta không biết các ngươi tự đâu mà tới, hỡi những kẻ làm điều gian ác, hãy lui ra khỏi mặt ta'. Khi các ngươi sẽ thấy Abraham, Isaac, Giacóp và tất cả các tiên tri ở trong nước Thiên Chúa, còn các ngươi bị loại ra ngoài, nơi đó các ngươi sẽ khóc lóc nghiến răng. Và người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong nước Thiên Chúa. Phải, có những người sau hết sẽ trở nên trước hết và những người trước hết sẽ nên sau hết". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG QUA CỬA HẸP
Có một vài hình ảnh cửa hẹp mà Chúa Giêsu hay nhắc đến, đó là cửa Đền Thờ Giêrusalem, nơi Ngài thường đi vào để tham dự các nghi thức thánh và giảng dạy. Cửa vào có một lối từ cuối dành cho mọi người mà thôi; hoặc cửa khác Chúa Giêsu nhắc nhiều hơn, đó là cửa chuồng chiên. Cửa này hẹp và chỉ có một lối cho cả đàn chiên vào; người chăn chiên thì gác tại cửa; hay một loại cửa khác nữa rất hạn chế và đòi hỏi người vào đúng giờ, đó là cửa phòng cưới. Mấy cô thiếu nữ khờ ngủ quên đã không được vào tiệc cưới với chàng rể ban đêm hơi giống với hình ảnh cửa hẹp của bài Phúc âm hôm nay. Trong thực tế của Nước Trời, cửa không làm bằng vật chất, nhưng là Lề Luật và các phương tiện nên thánh, đúng hơn là các phương tiện dẫn vào Nước Trời. Nước Trời đây phải hiểu theo nghĩa trong Phúc Âm mà Chúa Giêsu nói qua các dụ ngôn; do đó, Nước Trời vừa mang tính hữu hình, vừa tồn tại vĩnh cửu, và vì thế, nó vẫn tiếp tục cho đến ngày tận thế trong ý nghĩa loan báo Tin Mừng về Nước Trời. Người ta sẽ nhận ra ngay tính cách hẹp và rộng của Nước Trời nếu hiểu rõ ràng và chính xác ý nghĩa các Lề Luật, các phương tiện nên thánh và các giáo huấn của Chúa Giêsu. Điều quan trọng khác mà Chúa Giêsu nhắc trong Phúc âm hôm nay, đó là câu nói hơi có tính thất vọng: Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi biết: nhiều người sẽ tìm vào mà không vào được! Nếu đọc kỹ Phúc âm trước đó về hình ảnh những người đam mê của cải vật chất, sẽ hiểu tại sao các môn đệ lại hỏi Chúa: Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ? Và câu trả lời mang tính thất vọng kia sẽ trở thành thực tế, bởi vì tính cách hẹp của cửa không hệ tại cửa hẹp, mà hệ tại tấm lòng hay ý muốn của con người. Họ muốn vào mà không vào được, vì lòng họ còn đầy đam mê và những ý muốn bất chính, hoặc tâm hồn họ không hướng về Nước Trời, mà chỉ hướng về trần thế với đủ thứ cám dỗ đưa đến sa đọa và diệt vong. Họ tự đóng cửa Nước Trời chứ không phải Chúa, bởi họ khinh thường Lề Luật và các phương tiện nên thánh cũng như các giáo huấn mà Chúa đã truyền dạy! Có thể nói cuộc đời người Kitô hữu theo Chúa luôn là hành trình đi vào cửa hẹp của Nước Trời. Bước đến Nhà Thờ các ngày Chúa Nhật hay tham dự các Bí Tích... gợi họ những quyết tâm không ngừng trong việc chọn Chúa và Nước Trời. Khi chọn Chúa thì cửa Nước Trời sẽ mở; nhưng khi xa Chúa thì họ sẽ tự động đóng cửa ấy lại! Quả thực Chúa cần ta để Ngài ban ơn cứu độ; ngược lại ta rất cần Ngài để lãnh ơn cứu độ đó. Lm. Raphael Xuân Nguyên
Nghe Giảng

NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH
Hỵ Nguyễn Văn Thuận 24 -

HỌC 1.

Thành quả của lòng khiêm tốn học hỏi. * Muốn tiến kịp, tiến nhanh, tiến vững trên đường hy vọng, con phải học (ĐHV 557). * Học để biết. Học để canh tân. Học để phục vụ. Học để yêu mến (ĐHV 560). * Không thông thạo, con dễ tự phụ và tuyên bố táo bạo. Trường hợp con có địa vị, con càng dễ ảo tưởng con thông thạo hơn nữa. Đại họa cho con và cho nhiều người vì sự bất lực ngạo nghễ của con (ĐHV 576). * Tài không đủ, phải có đức. Tài của con người kiêu căng, khó chịu, chỉ để xử dụng với máy móc và chất hóa học, chứ không để yêu thương thuyết phục người khác (ĐHV 577). Khi được bổ nhiệm làm Hồng Y Tổng Giám mục thành Milanô, Đức Cha Ratti (sau này là Giáo hoàng Piô XI) rất lấy làm băn khoăn, lo lắng; bởi vì tuy là một người rất thông minh thánh thiện, nhưng chuyên môn của ngài là ngành ngoại giao và đặc biệt là ngành thư viện (ngài đã quản thủ thư viện Vatican trong nhiều năm); các công việc mục vụ của giáo xứ, giáo phận đối với ngài thật là vấn đề rất mới! Bởi thế, khi mới về nhận giáo phận, trong suốt sáu tháng đầu, ngài đã khiêm tốn mời ông chủ tịch Công giáo Tiến hành ngày ngày đến Toà Giám mục dạy vẽ cho ngài về phong trào đó: tinh thần, cơ cấu, tổ chức, chi tiết của mỗi ngành cũng như những thành công và thất bại của phong trào trong thời gian trước. Thế rồi, chỉ 6 tháng sau "thầy dạy" của ngài "hết chữ", đành phải công nhận "học trò" đã bao quát, tổng hợp được mọi vấn đề, chiều sâu cũng như chiều rộng. Bây giờ Đức Hồng Y Ratti mới bắt đầu ngồi lại cùng các chiến sĩ hăng say trong giáo phận để vạch chương trình và ra sức thực hiện những quyết định độc đáo do ngài đề xướng. Công việc mục vụ được tiến hành cách mau lẹ, thành công, đem lại phấn khởi và niềm tin tưởng cho mọi người. Mấy năm sau, ngài được bầu làm Giáo Hoàng dưới danh hiệu là Piô XI. Trong suốt 17 năm trên ngôi Giáo Hoàng, ngài đã mạnh mẽ xúc tiến khắp nơi vấn đề Công giáo Tiến hành. Dưới sự hướng dẫn sáng suốt của ngài, một đà tiến mới mẻ đã đưa những tâm hồn trai trẻ nồng nhiệt lao mình vào các hoạt động tông đồ ngay giữa lòng trần thế, tại những môi trường kỳ diệu đang mở ra trước mắt họ giữa thập niên 1930-1940. Ai ai cũng cảm nghiệm một nguồn sinh lực tươi vui mới mẻ đang ào ạt thổi vào, làm rung chuyển cả Thân mình Hội Thánh, đến nỗi mọi người đều đồng thanh kính tặng ngài danh hiệu: "Giáo Hoàng của Công giáo Tiến hành ". Đứng trước sự kiện ấy, nhiều người lầm tưởng Đức Piô XI đã có một chuỗi đời dày đặc kinh nghiệm về Công giáo Tiến hành; có ngờ đâu thành quả ấy chính là con đẻ của một lòng khiêm tốn kiên trì học hỏi và của sự can đảm thực hiện đúng lúc, không quản ngại những khó khăn, gian khổ... 2. Trên ngôi Giáo Hoàng vẫn còn học hỏi. * Làm việc! Học và hành không lìa nhau. Con sẽ gần thực tế hơn, con sẽ thấy: nói dễ, làm khó; con sẽ bớt phê bình, con sẽ gia tăng xét mình (ĐHV 567). * Con hỏi "Học đến bao giờ?" - Học luôn mãi. Thế giới biến chuyển, tưởng sự hiểu biết của mình vô hạn (ĐHV 580). Đức Piô XII là một vị Giáo Hoàng rất thánh thiện, đạo đức đồng thời cũng là một bậc trí thức vĩ đại. Ngài vừa học vừa hành suốt đời. Hằng đêm, ngọn đèn cuối cùng của thành phố Roma bao giờ cũng là đèn phòng của Đức Piô XII. Nó chỉ lịm tắt khi đồng hồ thong thả gõ một tiếng. Đức Piô XII học trong sách vở, qua các chuyên gia, bác học cũng như từ những kinh nghiệm phong phú đã đang của cuộc sống. Nếu đọc lại các diễn văn của ngài, ta sẽ thấy ngài đề cập đến rất nhiều vấn đề một cách hết sức sâu sắc: từ những vấn đề tôn giáo, thần học, Thánh Kinh, đến các đề tài chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, xã hội, gia đình, nghề nghiệp, chiến tranh, hòa bình... Ai cũng biết 4 giờ chiều là lúc ngài đi bách bộ trong vườn Vatican và đọc lại bài diễn văn của những ngày sau. Đức Piô XII còn có biệt tài về ngoại ngữ. Những năm cuối cùng của cuộc đời, lúc ngài đã ngoài 80 tuổi, ngài vẫn còn học thêm nhiều ngoại ngữ. Trong các buổi triều yết, giáo dân rất lấy làm sung sướng ngạc nhiên mỗi lần nghe ngài nói thêm một ngoại ngữ mới. Các diễn văn của ngài là những tài liệu rất quý giá đã được Công đồng Vatican II tham khảo trích dẫn rất rộng rãi. Ngài thường nói: "Cám ơn Chúa đã cho cha sống đến ngày hôm nay, trong một thế giới biến chuyển nhanh chóng với nhiều đau thương phức tạp, vì nhờ đó, cha có dịp học hỏi mãi và dấn thân phục vụ nhiều hơn". 3. Phép lạ không chấm dứt nỗ lực. * Ai có mười nén phải làm lợi mười nén. Ai có năm nén phải làm lợi năm nén. Ai có một nén cũng phải làm lợi một nén (ĐHV 561). * Trách nhiệm càng cao mà thiếu khả năng nghề nghiệp càng khốc hại. Con muốn phó mạng trong tay một phi công, một bác sĩ không kinh nghiệm không? (ĐHV 564). Đọc truyện thánh Phanxicô Xaviê, ta thấy để đem Tin Mừng cho lương dân, có lúc Chúa ban cho thánh nhân nói thứ tiếng mà mọi người dân bản xứ ai cũng nghe như tiếng nói của mình; và cũng lắm khi "chân ướt chân ráo" đến một xứ lạ, ngài đã phải dùng thông ngôn để giảng đạo.Thế nhưng, chớ quên rằng thánh nhân đã phấn đấu rất nhiều để học thêm ngoại ngữ. Chính ngài đã đưa ra nguyên tắc sau đây cho các nhà truyền giáo thuộc quyền ngài: "Trong một thời gian nhất định, phải cố gắng học thuộc thổ ngữ của vùng mình phụ trách. Nếu ai lười biếng không đạt được yêu cầu, thì mặc dù ở trong tình trạng khan hiếm thừa sai, cũng phải gửi trả người ấy về lại Âu châu!". 4. Thiên tài phải đi đôi với đức hạnh. * Xem nghề nghiệp con là một ơn thiên triệu thực hiện ý Chúa giữa xã hội, con sẽ thánh hóa nghề con. (ĐHV 565). * Hy sinh cho nghề nghiệp, tận tụy với văn hóa, phục vụ khoa học, cao đẹp lắm; nhưng con nhớ đây là phương tiện, không phải là cùng đích (ĐHV 566). Những ai chuyên về điện và vô tuyến điện không thể không biết nhà bác học Marconi (1874-1937). Chính ông đã xây dựng hoàn chỉnh đài phát thanh Vatican và là một người bạn chí thân của Đức Piô XI. Người ta kể lại rằng, chính Marconi là người đầu tiên đã tìm ra "một thứ ánh sáng bí mật, có sức mạnh hủy diệt ghê hồn". Một hôm, ông mang phát minh ấy ra thí nghiệm cho nhà độc tài Phátxít Mussolini xem. Một cuộc tập trận giả có quân đội, vũ khí, chiến xa... được dựng lên. Ông Marconi và Mussolini cùng ngồi trong một chiếc xe ở đàng xa phía trước. Khi đã bố trí sẵn sàng đâu vào đấy, bàn tay Marconi nhẹ bấm vào nút phóng "tia sáng mới lạ" ấy ra thì... ghê rợn thay, toàn thể binh sĩ trong phạm vi luồng sáng chiếu qua đều ngã lăn ra chết, xe tăng, vũ khí lập tức ngưng hoạt động. Mussolini thích chí la lên: "Thành công mỹ mãn!" và yêu cầu nhà bác học Marconi trao ngay tất cả tài liệu về tia sáng ấy cho ông. Mussolini thầm nghĩ: "Với vũ khí này trong tay, từ nay ta sẽ bá chủ Âu châu và cả thế giới!" Ngược lại, Marconi một nhà bác học chân chính, có lương tâm Công giáo, thì lại nghĩ rằng: "Đây là một thành tựu lớn lao của khoa học, nhưng nếu mà sa vào tay những tên độc tài Phátxít thì nó trở thành vũ khí vô cùng khủng khiếp và sẽ đem lại nhiều hậu quả không sao lường được". Mấy ngày sau đó, Mussolini càng thúc giục, Marconi càng nhẩn nha kéo dài thời gian hứa hẹn thêm. Rồi ngày ngày nhà bác học leo lên một chiếc thuyền con lững lờ trôi dọc theo bờ biển... Từ xa người ta sẽ lầm tưởng đó là một khách thanh thản nhàn du; nhưng nhìn kỹ, họ sẽ thấy một khuôn mặt âu sầu đang trầm tư nghĩ ngợi: "Làm sao tôi có thể trao những công trình nghiên cứu khoa học ấy vào tay những tên độc tài Phátxít được!" Thế rồi, Marconi cuối cùng đã đi đến một quyết định can đảm. Không mấy ngày sau, người ta nghe tin ông chết một cách đột ngột, mang theo tất cả mọi bí mật xuống đáy mồ. Tuy màn bí ẩn vẫn bao trùm lên cái chết ấy, nhưng nguyên nhân và thủ phạm gây nên nó, ai cũng đoán ra được dễ dàng! 5. Khoa học phục vụ đức tin. * Giờ học là giờ cầu nguyện. (ĐHV 558). * "Hãy mến Chúa với tất cả quả tim con, với tất cả tâm hồn con, với tất cả sức lực con, với tất cả trí khôn con." Chưa học để phục vụ đúng mức, con chưa mến Chúa. (ĐHV 559). * Học đây không phải là vào lớp hay văn chương khoa học. Học là luyện khả năng của con, nghề nghiệp của con cho tinh vi, hiện đại (ĐHV 562). * Thanh niên, đời con đầy hy vọng, hăng say luyện đức và rèn tài. Bao nhiêu phấn khởi và tươi sáng vì con thao thức vươn lên lý tưởng tông đồ, môi trường của con. (ĐHV 570). * Lên phi cơ, nhìn xe cộ, nhà cửa, người ta, loài vật, như đồ chơi của lũ trẻ; lên nguyệt cầu mới thấy địa cầu nhỏ bé. Người càng học hỏi thông minh, càng khiêm tốn, càng muốn học thêm (ĐHV 571). * Nhiều người công giáo thông minh một khi sinh hoạt giữa xã hội lại giấu diếm tính cách công giáo của mình. Đó là hạng "công giáo sơ-mi", tiện đâu thay đó (ĐHV 574). Đầu thế kỷ XX này, các nhà khoa học, kỹ thuật đã bỏ dưới đáy biển một dây cáp nối liền Âu châu và Mỹ châu. Kể từ đó, để liên lạc, người ta không cần gởi thơ lâu ngày mà chỉ cần điện thoại ngay cho nhau là có thể thông báo tin tức trong vòng một vài phút. "Sẽ khánh thành đường điện thoại này bằng lời gì đây?, đó là câu hỏi mà các nhà khoa học đã đặt ra. Cuối cùng, lương cũng như giáo, tất cả đều nhất trí: Lời nói đầu tiên của Đại Tây Dương sẽ là: "Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người (thiện tâm) Chúa thương". Ngày 21.7.1969, lúc Neil Armstrong, con người đầu tiên đặt chân lên mặt nguyệt cầu, các nhà khoa học đã muốn đặt trên ấy một vài kỷ niệm cho thế hệ mai sau. Họ đã mời các vị Nguyên Thủ quốc gia mỗi người viết một bức thông điệp ngắn để họ ghi khắc vào một chiếc dĩa nhỏ đặc biệt, làm bằng chất silicon mầu xám. Các bức thông điệp đều được chụp và thu nhỏ lại chỉ còn bằng cái chấm nỏ xíu, phải dùng kính hiển vi mới đọc được. Thông điệp của Đức Thánh Cha Phao lô VI khởi đầu với câu nhập đề trong Tin Mừng Thánh Gioan: "Lúc khởi nguyên đã có Lời, và Lời ở nơi Thiên Chúa và Lời là Thiên Chúa... Mọi sự đã nhờ Người mà thành sự, và không Người thì đã không gì thành sự" (Jn 1,1-3). Đoạn tiếp theo là thánh vịnh thứ 8, một thánh vịnh ca tụng vinh quang Thiên Chúa Tạo Hoá: "Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con. Lẫy lừng thay danh Ngài toàn cõi trái đất. Uy phong Ngài vượt quá trời cao. Ngắm trời xanh tay Ngài sáng tạo. Muôn trăng sao Chúa đã an bài. Thì con người là chi mà Chúa còn nhớ đến? Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? So với Thần Linh, Ngài không thể thua là mấy. Ban vinh dự huy hoàng làm mũ triều thiên. Kiệt tác của Ngài, Ngài cho làm bá chủ. Muôn loài muôn sự Ngài đặt cả dưới chân... Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng con. Lẫy lừng thay danh Ngài toàn cõi đất". Tưởng cũng nên biết là khi Đức Thánh Cha theo dõi những bước chân đổ bộ nguyệt cầu của con người đầu tiên, ngài đã ban phép lành Toà Thánh cho phi hành đoàn Apollo XI bằng những lời lẽ như sau: "Danh dự, chào mừng và phép lành cho các con, những người chinh phục nguyệt cầu, ngọn đèn của đêm tối, của giấc mơ... " Khoa học không đối nghịch với đức tin, nếu được xử dụng với thiện chí và tâm hồn ngay thẳng, vì cả khoa học và đức tin đều kiếm tìm các chân lý từ Thiên Chúa là Chân lý tuyệt đối, tuyệt hảo. Một trong những bằng chứng hiển nhiên nhất là khoa học chú giải Thánh Kinh được tiến triển mạnh mẽ trong những thập niên gần đây phần lớn là như những phát minh khám phá của khoa học. Như các nhà khảo cổ đã khai quật nhiều di tích trong phạm vị Thánh địa và đã xác đinh được những điều Thánh Kinh ghi lại về các điểm cũng như các sự kiện xảy ra ngày trước. Đặc biệt nhất là khám phá ra rất nhiều bản sao Thánh Kinh tại các hang động Qumrân bên bờ biển chết từ năm 1947. Cũng nhờ khoa học kỹ thuật, mà các kỹ sư, kiến trúc sư, các nhà khảo cổ và sử học theo lệnh Đức Piô XII, đã đào sâu dưới Đền thờ Thánh Phêrô, ngay tại bàn thờ chính, và đã khám phá cũng như kết luận một cách chính xác sự kiện mộ thánh Phêrô (xác) và thánh Phaolô (đầu) chôn ở đây, theo đúng truyền thống Hội Thánh đã tin nhận suốt 20 thế kỷ qua. Một trong những đóng góp đáng kể của khoa học vào lãnh vực đức tin trong thế kỷ 20 này là việc phát hiện ra mặt thực của dấu vết in trên bức khăn liệm thành Torinô nước Ý. Bức Khăn Liệm này là một thánh tích mà người ta cho rằng đã dùng để liệm xác Chúa Giêsu. Nó có in nhiều vết máu và thân thể lờ mờ của một kẻ bị đóng đinh. Người ta vẫn tôn sùng nó từ bao thế kỷ và đến năm 1898 thì nó đã được khoa học khám phá cách đặc biệt. Năm đó nó được chụp ra ảnh lần đầu tiên. Và khi rửa tấm phim, nhà nhiếp ảnh chính thức đã thấy hiện ra trên tấm phim hình một con người với những đường nét, góc cạnh, màu sắc của một bức ảnh thật. Người ta lúc ấy mới khám phá ra rằng các dấu vết in trên khăn liệm chỉ là mặt trái (âm bản) của một hình người thôi. Và từ đó trở đi, nhờ tấm phim của bức khăn (mà đúng ra phải gọi là một bức hình thật), các nhà khoa học đã có dịp nghiên cứu tấm khăn tường tận và thấy các dấu vết trên nó hoàn toàn phù hợp với những điều mà Thánh Kinh mô tả về Chúa Giêsu và về cuộc khổ nạn của Người. Họ đã dùng khoa nhiếp ảnh, giải phẫu, sinh lý, hoá học mà cho ta thấy khuôn mặt thật của Chúa Giêsu và biết được chi tiết cuộc khổ nạn Phục sinh của Người cách đây 2000 năm vậy. 6. Học để phục vụ các linh hồn. * Muốn cách mạng thế giới, phải có ơn Chúa, nhưng con phải là khí cụ điêu luyện (ĐHV 563). * "Ở nhưng" là cội rễ mọi sự dữ. "Ở nhưng" là sự dữ. Tông đồ không biết "ở nhưng". Không có "tông đồ hưu", chỉ đổi cách làm việc tùy sức (ĐHV 569). * Hội Thánh ở giữa trần gian. Tất cả mọi kiến thức, khoa học đều được xử dụng để bênh vực và trình bày chân lý; càng hiểu biết con càng phục vụ Hội Thánh đắc lực hơn (ĐHV 572). * Con hiểu biết một chân lý khi con tìm học chân lý ấy. Con càng thông hiểu rõ rệt hơn khi con tìm cách bênh vực chân lý ấy (ĐHV 581). Mọi vị thánh đều phấn đấu khai thác triệt để những "nén bạc" mà Chúa ban hầu phụng sự Hội Thánh, phục vụ các linh hồn cách đắc lực và có hiệu quả. Nhiều đấng có khả năng giới hạn đã phải nổ lực học hành hết sức và vất vả như: Thánh Maria J. Vianney. Chúng ta biết ngài được làm linh mục là nhờ "phép chuẩn". Vì tuy học hành kém cỏi, đầu óc mù tịt, nhưng nhờ có lòng đạo đức và sự bền chí mà ngài đã được thụ phong linh mục. Rồi khi làm linh mục, dù Chúa đã ban cho ngài lắm ơn đặc biệt để cứu các linh hồn cho đến nỗi một lần kia, quỷ Satan đã nói với ngài: "Nếu trên thế giới có hai đứa như mày thì bọn tao đành phải thất nghiệp". Nhưng ngài vẫn không ỷ lại vào ơn thánh. Cứ mỗi sáng thứ hai, ngài mang giấy bút lên phòng thánh để dọn bài giảng chúa nhật sắp tới. Ngoài ra, ngài tiếp tục mua sách vở thêm để học hỏi. Ngày nay người ta còn giữ lại được một tủ sách khá lớn của ngài. Thánh Giuse Cupertinô lúc làm chủng sinh cũng phấn đấu học hành "tróc xương, trầy da", nhưng đến kỳ khảo hạch nào cũng... trượt vỏ chuối! Bề trên biết ngài là người đạo đức, thánh thiện nỗ lực, muốn chọn làm linh mục, nên phải bày mưu lập kế cho ngài qua được kỳ thi. Lần nọ, trong lúc khảo hạch, thánh nhân được sắp đứng ở giữa hàng. Đức Giám mục khởi sự khảo hạch các thầy đứng đầu, ai cũng đáp gọn gàng thông suốt khiến ngài rất hài lòng, và như để tiết kiệm thời giờ, ngài bảo: "Thôi, bây giờ khảo hạch mấy thầy ở cuối hàng xem có thuộc thần học không?". Các thầy đứng cuối hàng cũng không kém các thầy đứng trước, ai nấy đều thuộc bài trôi chảy. Đức Giám mục xoa tay tuyên bố: "Vậy là đủ, tha hạch những thầy đứng ở giữa hàng". Curpertinô thoát khỏi một phen hú hồn, thở phào nhẹ nhõm, miệng tíu tít cám ơn bề trên. Sau đó ngài được làm linh mục, rồi làm thánh, và hơn thế nữa, ở Âu châu, người ta đã chọn ngài làm quan thầy cho những hạng... đi thi! Bên cạnh những vị thánh phải học hành vất vả như trên, lại có những vị thánh tài ba xuất chúng, nhưng cũng hy sinh trọn đời để nghiên cứu, học hành và dạy dỗ: Thánh Gioan Boscô rất thông minh, đã miệt mài tận dụng hết mọi khả năng để nghiên cứu, học hành, viết nhiều sách báo cho giới trẻ và soi sáng, hướng dẫn giáo dân tránh khỏi những lạc thuyết thời bấy giờ. Thánh Maximilien Kolbe, một linh mục chuyên nghiên cứu và làm tông đồ bằng cách viết sách vở, làm báo chí. Lúc sang truyền giáo ở Nhật Bản, ngài thành lập nhà in xuất bản tạp chí. Khi bị lao phổi phải về lại Ba Lan, ngài tiếp tục hoạt động tông đồ bằng báo chí sách vở cho đến ngày vào tù và chết đói trong một trại giam Đức quốc xã. Thánh Albertô Cả là một ngôi sao sáng của thế kỷ XIII. Sau khi theo học Đại học Padua, ngài vào Dòng Đa Minh và tỏ ra có khiếu về triết học, thần học. Nên sau đó, ngài lại được gọi sang Cologne (Đức) để tiếp tục tu luyện. Khi đã đỗ đạt, ngài được mời làm giáo sư dạy các Đại học Hildesheim, Fribourg, Rattisbone và Strasbourg. Danh ngài nổi nhất là thời kỳ làm giáo sư tại Đại học Paris. Năm 1260 ngài được bổ nhiệm làm Giám mục thành Rattisbone và chết tại đó vào năm 1280, thọ 87 tuổi, để lại nhiều tác phẩm quý giá và đủ mọi vấn đề nhất là triết học và thần học. Năm 1942, Đức Piô XI đã phong tước vị Tiến sĩ Hội Thánh cho ngài, và tôn ngài làm quan thầy những người chuyên môn về "khoa học tự nhiên". Thánh Thomas Aquinô, người học trò thông minh xuất chúng nhất của thánh Albertô Cả. Nhờ bầu khí và hoàn cảnh gia đình. Thomas Aquinô đã được hấp thụ một nền học vấn chắc chắn ngay từ lúc còn nhỏ. Lớn lên, ngài lại được thụ huấn với thánh Albertô Cả. Nên mới 27 tuổi mà ngài đã là giảng sư Đại học với một kiến thức uyên bác có thể hướng dẫn được giới trí thức thời bấy giờ đang say sưa nền triết lý của ngoại giáo Hy Lạp. Ngài chỉ sống đến 49 tuổi mà để lại một kho tàng phong phú khôn lường về thần học và triết học cho Hội Thánh. Trong đó công trình sáng chói nhất là bộ "Tổng luận thần học" mà muôn thế hệ sau này vẫn còn say mê nghiên cứu học hỏi. Cái độc đáo và ưu việt nhất của ngài là tổng hợp được kiến thức của thời đại, giải đáp được các vấn nạn đương thời và có nhiều trực giác vượt thời gian mà đến nay thần học đang khám phá thấy. Năm 1567, Đức Piô V đã phong ngài làm Tiến sĩ Hội Thánh với biệt hiệu "Tiến sĩ thiên thần". Đến năm 1880, Đức Lêô XIII lại đặt ngài làm quan thầy các trường Công giáo và lấy học thuyết của ngài làm mẫu mực cho triết học và thần học của Hội Thánh. Đức Gioan XXIII cũng nêu gương sáng cho ta trong việc kiên trì học tập, bất kể tuổi tác và hoàn cảnh. Trong Công đồng Vatican II, các nghị phụ đều nhất trí dùng La ngữ làm ngôn ngữ chung, nên Đức Thánh Cha tuy đã 81 tuổi, đầu tóc bạc phơ, vẫn phải luyện lại La ngữ. Trong tập hồi ký, ngài có viết: "Chúa nhật 9.9.1962: tiếp linh mục Ciappi để chuẩn bị diễn văn bằng La ngữ trong các phiên họp mà tôi phải chủ tọa (mỗi ngày 11 giờ)". "Thứ năm 13.9.1962 vẫn bàn chuyện đạo đức với linh mục Ciappi bằng La ngữ; tập nói lại cho quen". Ngoài ra ngài còn học thêm Anh ngữ trong suốt thời gian làm Giáo Hoàng. Còn rất nhiều vị thánh khác mà ta không thể kể hết, cũng như có vô số giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân đã và đang đóng góp rất nhiều vào công cuộc phát triển thuộc đủ mọi địa hạt. Với một bầu nhiệt huyết nóng hổi của Tin Mừng, họ đã ra sức phục vụ nhân loại và Hội Thánh. Một số đã được mời làm chuyên viên trong ủy ban Công lý và Hoà bình trung ương hoặc các hội đồng giáo dân là những cơ quan đã và đang, sẽ được Toà Thánh tham khảo ý kiến về các vấn đề thuộc phạm vi thế tục. Một số khác được mời vào viện Hàn Lâm Khoa Học của Toà Thánh. 7. Phương pháp làm việc trong Hội Thánh. * Hội Thánh cần sự hợp nhất của những bộ óc thông minh để đem tình yêu Chúa đến trong mọi lãnh vực trần thế. Hội Thánh đau khổ và rối loạn vì sự chia rẽ và lộn xộn của những đầu óc thông minh mà tâm hồn tự cao, tự đại. Các thiên thần dữ đã làm như thế (ĐHV 568). * Tự xem mình "chuyên môn tất cả" là phản khoa học và lạc hậu. Thời đại này, muốn phục vụ, phải đem tất cả hiểu biết để hợp tác (ĐHV 578). Hội Thánh có một phương pháp làm việc rất độc đáo: Một đàng Hội Thánh trông cậy hoàn toàn vào ơn Chúa, theo lời Chúa Giêsu đã phán: "Không Thầy chúng con không làm gì được"; đàng khác Hội Thánh dùng hết mọi khả năng, phương tiện của loài người. Nên thường thường, trước khi ban những lời giảng dạy, ra những quyết định, Đức Thánh Cha đều có tham khảo các Đại học Công giáo, các tổ chức bên cạnh Toà Thánh gồm những Giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân thuộc đủ mọi ngành mọi giới như vừa kể trên: Ủy ban Công lý Hoà bình, Hội đồng Giáo dân, Viện Hàn Lâm Khoa học. Ngày 15.9.1965, Đức Thánh Cha Phaolô VI còn lập thêm một tổ chức mới mang tên: "Thượng Hội đồng Giám mục thế giới", gồm có các đại điện các Giám mục của mọi quốc gia, ba năm họp một lần tại Roma, có Văn phòng thường trực, và trước mỗi khóa họp, chương trình nghị sự cũng như các tư liệu đều được gởi đi tất cả các giáo phận. Các Giám mục tiếp nhận các tài liệu ấy, tham khảo rộng rãi các ý kiến của giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận, rồi gởi sang Văn phòng thường trực để kịp thời đúc kết và phổ biến lại trước khi khai mạc hội nghị. Qua tất cả những cơ quan ấy, chúng ta thấy chính Đức Thánh Cha lắng nghe, học hỏi, tham khảo liên lỉ, rồi cầu xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng mới đi đến những quyết định cụ thể. Nếu trên thế giới có một tổ chức nào có một người cầm quyền tối cao và được triệt để vâng lời nhất, thì đó là Hội Thánh Công giáo. Nhưng ngược lại, nếu trên thế giới có một tổ chức nào dân chủ nhất, trong đó ai cũng được góp ý mà chẳng sợ có người theo dõi, trả thù... và mỗi ý kiến đệ trình đều được nghiên cứu, đánh giá một cách chân thành, không phe cánh, không mưu mô thì đó cũng là Hội Thánh Công giáo. 8. Cha đẻ tiếng Việt. * Nếu mỗi ngày con học thuộc một danh từ thôi, nếu mỗi tháng con đọc thêm một cuốn sách thôi, đến nay con đã tiến nhiều. Nếu đến nay con chưa làm, hãy khởi sự ngay từ hôm nay (ĐHV 575) * Văn bằng chứng minh con đã thông minh một giai đoạn nào đó, đặc biệt lúc đi thi. Nếu sự học hỏi của con đứng ngang đó, dù một đống văn bằng cũng không bảo đảm sự thông minh của con (ĐHV 579). Không người Việt Nam chính hiệu nào mà lại không biết đến tên cha Đắc Lộ, một giáo sĩ người Pháp mà danh tính gắn liền mãi mãi với chữ quốc ngữ của dân tộc ta; nhưng thật rất ít người biết trong hoàn cảnh nào ngài đã làm nên một công trình vĩ đại như thế. Ở đây, thiết tưởng ta nên nhắc lại những lời nói đầu tiên ngài ngỏ với dân bản xứ khi tàu vừa cập bến Cửa Bạng ngày 19.3.1627: "Đây là tàu của người Bồ Đào Nha, những người danh tiếng lừng lẫy khắp phương đông... Hiện giờ tàu của họ có chở một thứ hạt trai tuyệt đẹp và quý giá, ai mua thì cả đời được giàu có hạnh phúc muôn thuở. Không nên sợ giá cao, vì chẳng ai nghèo đến nỗi không đủ tiền để mua hạt trai ấy". Tổ tiên chúng ta mới khấp khởi vui mừng xin ngài ít là cho xem qua đôi ba hạt. Ngài trả lời: "Hạt trai ấy mắt xác thịt không thể xem thấy được, chỉ có trí khôn hiểu được mà thôi. Hạt trai ấy chính là lề luật Thiên Chúa, một cái gì quý trọng hơn trân châu và hàng hoá Ấn Độ. Chúng tôi sẵn sàng giảng dạy luật đó cho anh chị em, nên không ngại vượt biển băng ngàn đến đây". Lúc ấy vào thời hai chúa Trịnh Nguyễn, một thời vừa có chiến tranh, vừa có cấm cách bắt đạo Chúa. Sự đi lại vô cùng khó khăn, nhất là đối với một ông tây "da hồng mũi lõ"! Vì thế, thường cha Đắc Lộ phải giảng dạy, làm lễ, cử hành các bí tích ban đêm. Còn ban ngày, ngài di chuyển bằng cáng: hai người gánh một chiếc võng, ngài nằm trong đó, lấy chiếu che lại. Dạo ấy, từ sông Gianh đến Phan Rang, Phan Thiết chỉ có lưa thưa một vài giáo sĩ. Lắm lúc cả địa hạt rộng rãi ấy chỉ có một mình Cha Đắc Lộ tung hoành. Ngài phải lẩn trốn nhiều vùng, phải âm thầm đi đi lại lại để củng cố giáo đoàn Đàng Trong. Mỗi lần ra đến Huế, ngài lại còn lo cho cả giáo dân thuộc địa phận Đàng Ngoài nữa. Các đại diện của giáo dân bên kia sông Gianh vào gặp ngài, chịu các phép bí tích, nhận chỉ thị để rồi trở về củng cố cuộc sống đức tin của các giáo hữu vắng bóng chủ chăn. Khắp Đàng Trong, không chỗ nào mà không in dấu vết chân cha Đắc Lộ. Ba lần ngài bị phát giác phải đuổi về Macao, và mỗi lần như thế, đợi bầu khí hơi hơi lắng dịu ngài lại sắm sửa lễ vật sang dâng cho Chúa Nguyễn, đi theo ghe thuyền nhà buôn trở lại Việt Nam. Không có văn phòng, quạt điện, máy điều hoà, thư viện, thiếu hẳn mọi tiện nghi tối thiểu, thế mà cha Đắc Lộ soạn thảo thành công cuốn "Phép giảng 8 ngày cho những người muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo Thánh Chúa Trời" và cuốn tự điển: "Ba thứ tiếng Việt-Bồ-La" gồm cả văn phạm tiếng Việt, cách dùng chữ La tinh thay chữ Nôm, lối phát âm... Ngài đã mang về ấn loát tại nhà in Vatican vào quãng năm 1651, làm nền tảng cho tiếng Việt ngày nay. Dĩ nhiên ngài đã căn cứ vào công trình của những người tiền phong như cha Buzomi chẳng hạn. Nhưng ngài đã có công lớn trong việc tổng hợp, phân tách từ ngữ xác định văn phạm, phát âm và đưa tất cả đến tình trạng hoàn chỉnh để phục vụ Hội Thánh. Ngài đã thâm tính rằng: ngôn ngữ là khí cụ thiết yếu để đưa Tin Mừng đến cho mọi dân tộc, không phải chỉ trong chốc lát mà còn cho muôn vàn thế hệ mai sau. Chắc chắn phải có một tâm hồn hiếu học, một tinh thần tông đồ nồng cháy mới có thể kiên trì nghiên cứu, bảo quản và hoàn thành một công trình khó khăn như thế, giữa bao thử thách gian nan.

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010

1 tháng 8/2010: CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN NĂM C


BÀI ĐỌC I: Gv 1, 2; 2, 21-23 "Ích gì cho người bởi mọi việc mình làm". Trích sách Giảng Viên. Giảng Viên đã dạy rằng: Hư không trên các sự hư không, hư không trên các sự hư không, và mọi sự đều hư không. Vì kẻ này làm việc vất vả trong sự khôn ngoan, hiểu biết và lo lắng, rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không, thì thật là hư không và tai hại lớn lao. Ích gì cho người bởi mọi việc mình làm mà phải chịu đau khổ cực lòng dưới phàm trần? Suốt ngày của họ đầy sự đau khổ gian truân, và ban đêm lại không được yên lòng, thế thì chẳng phải là hư không sao? Đó là lời Chúa.



ĐÁP CA: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9 Đáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: các ngươi đừng cứng lòng (c. 8 ). Xướng: 1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Đá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người. 2) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Đấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người. 3) Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: "Đừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta".



BÀI ĐỌC II: Cl 3, 1-5, 9-11 "Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự". Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê. Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Đức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Đức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang. Vậy còn sống trên địa cầu, anh em hãy kiềm chế các chi thể anh em, là sự gian dâm, ô uế, dục tình, đam mê xấu xa và hà tiện, tức là sự thờ phượng thần tượng. Anh em chớ nói dối với nhau; anh em hãy lột bỏ người cũ cùng các việc làm của nó, và mặc lấy người mới, con người được đổi mới theo hình ảnh của Đấng đã tạo thành nó: ở đấy không còn là dân ngoại và Do-thái, chịu phép cắt bì hay không chịu phép cắt bì, người man rợ hay người Scytha, nô lệ hay tự do nữa, nhưng mọi sự và trong mọi sự có Đức Kitô. Đó là lời Chúa. ALLELUIA: Mt 4, 4b Alleluia, alleluia! - Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. - Alleluia.



PHÚC ÂM: Lc 12, 13-21 "Những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?" Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, có người trong đám đông thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi". Người bảo kẻ ấy rằng: "Hỡi người kia, ai đã đặt Ta làm quan xét, hoặc làm người chia gia tài cho các ngươi?" Rồi Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy coi chừng, giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu". Người lại nói với họ thí dụ này rằng: "Một người phú hộ kia có ruộng đất sinh nhiều hoa lợi, nên suy tính trong lòng rằng: 'Tôi sẽ làm gì đây, vì tôi còn chỗ đâu mà tích trữ hoa lợi?' Đoạn người ấy nói: 'Tôi sẽ làm thế này, là phá các kho lẫm của tôi mà xây những cái lớn hơn, rồi chất tất cả lúa thóc và của cải tôi vào đó, và tôi sẽ bảo linh hồn tôi rằng: "Hỡi linh hồn, ngươi có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm: ngươi hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi đi". Nhưng Thiên Chúa bảo nó rằng: 'Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?' Vì kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG COI CHỪNG LẦM LẪN!
Thỉnh thoảng cũng có đôi lời tự an ủi phát ra từ những cuộc đời lam lũ vất vả, hay từ những hoàn cảnh tiêu phí hết cả cuộc đời mà vẫn không thấy thỏa mãn giàu có hơn ai, như nhìn quanh mình tất cả đều đi đến tận cùng, đi đến nghĩa trang... tại nơi đây, những kẻ giàu có hơn mình còn cơ hội tô son tô phấn đời họ lần chót bằng những lời ca tụng của gió của mây, trước khi bước vào lòng đất quê hương cát bụi cô đơn lạnh lẽo! Khổ nỗi cuộc đời từ ngàn xưa xem ra vẫn cứ bất công giàu - nghèo, sung sướng - đói khổ, thế lực - trắng tay, danh vọng - cùng đinh... Mỗi cố gắng vươn lên là như thêm một dịp nhận chìm kẻ khác vô hình chung hay cố ý. Nhưng đó là phần ảo tưởng của cuộc đời. Phần thực sự của thân phận con người được kết thúc bằng lời Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay: "Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai? Kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy." (Lc 12:20-21) Lời Chúa chẳng yên ủi người nghèo, và cũng chẳng khích lệ hay lên án người giàu, nhưng cảnh cáo những kẻ Người gọi là ngu ngốc chỉ biết tiêu xài cuộc đời để tích trữ và hưởng thụ vật chất. Lời Chúa Giêsu xem ra làm khó dễ chúng ta quá! Sống trên đời ai lại chẳng muốn được sung sướng giàu có, vì có tiền mua tiên cũng được cơ mà. Hơn nữa Thiên Chúa khi dựng nên con người ngay từ đầu đã muốn cho họ được sống hạnh phúc; và vì lầm lỗi phạm tội, chính Ngài đã sai Con Một của Ngài đến cứu họ đó. Đúng thế, Thiên Chúa muốn tất cả mọi người chẳng những được sống hạnh phúc ở đời này, mà nhất là sẽ hưởng hạnh phúc viên mãn trên quê hương vĩnh cửu với Ngài. Tội tổ tông đã làm cho con người thường lầm lẫn giữa các thực tại giới hạn và vô hạn, nên chẳng lạ gì người phú hộ mà Chúa Giêsu dạy đã trở nên thí dụ điển hình. Ông ta có nhiều của cải vật chất hơn người, và niềm vui duy nhất của ông là ở đó. Ông lầm lẫn giữa đời sống linh hồn và thể xác, và coi vật chất là nhu cầu duy nhất thỏa mãn cho cả hai khi nói: "Hỡi linh hồn, ngươi có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm: ngươi hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi đi!" Xem ra đây là sự lầm lẫn vừa cố ý lại vừa ngu ngốc như Chúa nói, bởi vì vật chất sẽ tiêu tan, và chỉ có linh hồn mới bền vững thôi. Câu kết luận của Chúa Giêsu: "Kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy" sẽ cho chúng ta nhiều suy tư và quyết định chọn lựa. Dù ở hoàn cảnh nào mà không để mình bị lầm lẫn giữa các giá trị hạnh phúc, chắc chắn sẽ nếm được hạnh phúc thật mà Chúa dành cho mỗi người chúng ta hôm nay. Lm. Raphael Xuân Nguyên

Thứ Hai, 3 tháng 5, 2010

Chủ Nhật, 2 tháng 5, 2010

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH NĂM C

2 tháng 5/2010: CHÚA NHẬT V PHỤC SINH NĂM C
BÀI ĐỌC I: Cv 14, 20b-26 (Hl 21-27) "Các ngài thuật lại những gì Thiên Chúa đã làm với các ngài". Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, Phaolô và Barnaba trở lại Lystra, Icôniô và Antiôkia, củng cố tinh thần các môn đồ, khuyên bảo họ giữ vững đức tin mà rằng: "Chúng ta phải trải qua nhiều nỗi gian truân mới được vào nước Thiên Chúa". Nơi mỗi hội thánh, các ngài đặt những vị niên trưởng, rồi ăn chay cầu nguyện, trao phó họ cho Chúa là Đấng họ tin theo. Sau đó, các ngài sang Pisiđia, đi đến Pamphylia. Sau khi rao giảng lời Chúa tại Perghê, các ngài xuống Attilia, rồi từ đó xuống tàu trở về Antiôkia, nơi mà trước đây các ngài đã được trao phó cho ơn Chúa để làm công việc các ngài mới hoàn thành. Khi đến nơi, các ngài tụ họp giáo đoàn, thuật cho họ nghe những gì Thiên Chúa đã làm với các ngài và đã mở lòng cho nhiều dân ngoại nhận biết đức tin. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 144, 8-9. 10-11. 12-13ab Đáp: Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa, con sẽ chúc tụng danh Chúa đến muôn đời (c. 1). Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi loài, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa.

2) Lạy Chúa, mọi công cuộc của Chúa hãy ca ngợi Chúa, và các thánh nhân của Ngài hãy chúc tụng Ngài. Thiên hạ hãy nói lên vinh quang nước Chúa, và hãy đề cao quyền năng của Ngài.

3) Để con cái loài người nhận biết quyền năng và vinh quang cao cả nước Chúa. Nước Ngài là nước vĩnh cửu muôn đời, chủ quyền Ngài tồn tại qua muôn thế hệ.


BÀI ĐỌC II: Kh 21, 1-5a "Thiên Chúa sẽ lau khô mọi giọt lệ ở mắt họ". Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan. Tôi là Gioan đã thấy trời mới và đất mới. Vì trời cũ và đất cũ đã qua đi, và biển cũng không còn nữa. Và tôi là Gioan đã thấy thành thánh Giêrusalem mới, tự trời xuống, từ nơi Thiên Chúa: tề chỉnh như tân nương được trang điểm cho tân lang của mình. Và tôi nghe có tiếng lớn tự ngai vàng phán ra: "Đây là Thiên Chúa ở với loài người, và chính Thiên Chúa sẽ ở với họ. Người sẽ lau khô mọi giọt lệ ở mắt họ. Sự chết chóc sẽ không còn nữa, cũng không còn than khóc, không còn kêu la, không còn đau khổ: bởi vì các việc cũ đã qua đi". Và Đấng ngự trên ngai vàng đã phán rằng: "Này đây, Ta đổi mới mọi sự". Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 13, 34 Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con". - Alleluia.


PHÚC ÂM: Ga 13, 31-33a. 34-35

"Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau". Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan. Khi Giuđa ra khỏi phòng tiệc, Chúa Giêsu liền phán: "Bây giờ Con Người được vinh hiển và Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người. Nếu Thiên Chúa được vinh hiển nơi Người, thì Thiên Chúa lại cho Người được vinh hiển nơi chính mình, và Thiên Chúa sẽ cho Người được vinh hiển. "Các con yêu quý, Thầy chỉ còn ở với các con một ít nữa thôi. Thầy ban cho các con điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau. Như Thầy đã yêu thương các con, thì các con cũng hãy yêu thương nhau. Căn cứ vào điều này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là nếu các con yêu thương nhau". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG TÌNH YÊU KITÔ GIÁO BẮT ĐẦU TỪ GIA ĐÌNH
Tình yêu Kitô giáo quá bao la, đến nỗi khiến nhiều ngưới không biết bắt đầu từ đâu, và kết cục sẽ chỉ sống sự mơ hồ của Tình Bác Ái Kitô giáo! Mỗi người Kitô hữu đều thuộc nằm lòng điều kết luận của Mười Điều Răn: Mến Chúa trên hết mọi sự, và yêu người như chính mình. Cả hai quyện lẫn nhau để đưa đến cùng đáp số cho chữ Yêu. Tuy nhiên để có đáp số đúng, thiết tưởng nên bắt đầu cảm nghiệm và sống chữ yêu trọn vẹn trong gia đình trước, vì nơi đó là nôi của tình yêu thiết thực đúng nghĩa nhất của tình yêu Kitô giáo. Để hiểu được tính thiết thực nhất của tình yêu nơi những người thân yêu trong gia đình, cần phân biệt rõ một số cách yêu thường thấy quanh ta trên đời: Như tình yêu ích kỷ, tức yêu để có lợi, chứ không yêu chính con người với cuộc đời; tình yêu lãng mạn, tức yêu để thỏa mãn nhu cầu yêu, tức yêu vì đam mê của mình, đặc tính của tình trai gái; tình yêu tự nhiên, tức yêu hai chiều đổi chác, cả hai đều có lợi, thế thôi! tình yêu một cách chung chung, tức chẳng gắn bó với ai hết, nghĩa là chẳng yêu gì cả; ... Và tình yêu Kitô giáo: Yêu như Chúa yêu. Những người thân yêu trong gia đình trước hết và trên hết cần thấu hiểu ý nghĩa yêu như Chúa yêu, mới có thể đi hết trong sự trung thành của tình yêu thân thiết để phản ảnh tình yêu Kitô giáo. Trong thực tế, thật đau thương khi phải nói lên sự thật bất hạnh này là trong rất nhiều gia đình Kitô giáo, sự bất hòa, ghen ghét và hận thù giữa anh chị em ruột thịt với nhau, và từ đó đưa đến sự ghét bỏ cha mẹ hoặc ghét bỏ con cái đã xảy ra! Tại sai vậy? Thưa bởi vì nền tảng tình yêu Kitô giáo trong gia đình bị đổ bể chỉ vì sự ích kỷ đã tạo nên ghen ghét và thụ động nơi anh chị em ruột thịt và cha mẹ của họ. Sự ghen ghét có thể do tự nhiên vì đặc tính thể xác hoặc tinh thần, hoặc do đặc ân nhận được không đồng đều trong gia đình. Sự thụ động được tạo nên có thể do chỉ ước mong như sự ích kỷ tuyệt đối "buộc người khác" phải nghĩ, phải lo lắng, phải cảm thông, và phải tặng ban cho mình, trong khi ngược lại không làm gì cho ai trong gia đình mình! Nên học yêu như Chúa trong gia đình có thể nói là căn bản để thực hiện luật yêu của Chúa. Chúa yêu vô vụ lợi. Chúa cho đi tất cả. Chúa yêu cả người thân lẫn kẻ thù. Chúa tha thứ tất cả. Chúa nâng đỡ tất cả. Chúa yêu chỉ vì mọi người đều là con của Chúa. Tình yêu của Chúa cho con người rất phổ quát, đồng đều, nhưng cũng rất "cá nhân", nghĩa là Ngài yêu từng người một như người yêu của Ngài. Nếu trong gia đình mỗi thành phần đều ấp ủ nhau trong tình yêu như Chúa yêu, sẽ nhận ra sự hiện diện của Chúa nơi nhau, đúng như câu hát "đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời". Và một khi thực hiện được tình yêu Kitô giáo trong gia đình, ta mới có thể chia sẻ được tình Chúa trong các môi trường sống giữa xã hội.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

25 tháng 4/2010: CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH NĂM C

BÀI ĐỌC I: Cv 13, 14. 43-52 "Đây chúng tôi quay về phía các dân ngoại". Trích sách Tông đồ Công vụ. Trong những ngày ấy, Phaolô và Barnaba sang qua Perghê và đến Antiôkia xứ Pisiđia; ngày Sabbat, các ngài vào ngồi trong hội đường. Có nhiều người Do-thái và tòng giáo theo các ngài, được các ngài khuyên bảo bền đỗ trong ơn nghĩa Chúa. Đến ngày Sabbat sau, hầu hết cả thành đều đến nghe lời Thiên Chúa. Các người Do-thái thấy đám đông dân chúng, thì đâm ghen tương, nói lộng ngôn, chống lại các điều Phaolô giảng dạy. Phaolô và Barnaba can đảm nói rằng: "Phải giảng lời Thiên Chúa cho các ngươi trước tiên, nhưng vì các ngươi từ chối lời Thiên Chúa và tự cho mình không xứng đáng sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía các dân ngoại; vả lại Chúa đã truyền lệnh cho chúng tôi rằng: "Ta đã đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi nên ơn cứu độ cho đến tận cùng trái đất". Nghe vậy các dân ngoại hân hoan ca tụng lời Chúa; những ai được Chúa tiền định hưởng sự sống đời đời, thì tin theo, nên lời Chúa được rao giảng khắp cả vùng. Những người Do-thái xúi giục các phụ nữ khá giả đã tòng giáo và các thân hào trong thành bắt bớ Phaolô và Barnaba, rồi trục xuất hai ngài ra khỏi ranh giới xứ họ. Còn hai ngài, sau khi phủi bụi chân lại cho họ, hai ngài đi đến Icôniô. Còn các môn đồ thì đầy hân hoan và Thánh Thần. Đó là lời Chúa. ĐÁP CA: Tv 99, 2. 3. 5 Đáp: Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi (c. 3c). Hoặc đọc: Alleluia. Xướng: 1) Hãy phụng sự Chúa với niềm vui vẻ; hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá. 2) Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc quyền sở hữu của Người, ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi. 3) Vì Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người còn tới muôn muôn thế hệ.

BÀI ĐỌC II: Kh 7, 9. 14b-17 "Chiên Con sẽ thống trị họ, và dẫn họ đến nguồn nước ban sự sống". Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan. Tôi là Gioan, đã xem thấy một đám đông không thể đếm được, họ thuộc mọi nòi giống, dòng họ, dân tộc và tiếng nói, đứng trước ngai vàng và trước Con Chiên; họ mặc áo trắng dài, tay cầm lá vạn tuế. Và một bô lão đã nói với tôi: "Đây là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy nó trắng trong máu Con Chiên. Vì thế, họ ở trước ngai vàng Thiên Chúa, và ngày đêm phụng sự Người trong đền thánh Chúa, Đấng ngự trên ngai vàng đặt ở giữa họ. Họ sẽ không còn đói khát; mặt trời và nóng bức sẽ không làm khổ họ, vì Con Chiên đứng trước ngai vàng sẽ thống trị họ, sẽ dẫn họ đến nguồn nước ban sự sống, và Thiên Chúa sẽ lau hết mọi giọt lệ nơi mắt họ. Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 10, 14 Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta, và các chiên Ta biết Ta". - Alleluia.

PHÚC ÂM: Ga 10, 27-30 "Ta ban cho các chiên Ta được sống đời đời". Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan. Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta. Điều mà Cha Ta ban cho Ta, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Ta. Ta và Cha Ta là một". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG NGHE, BIẾT VÀ THEO CHÚA
Đây là những lời chí tình từ miệng Chúa Giêsu: "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời..." Những chữ quan trọng dành cho chiên của Chúa: Nghe, biết và theo Chúa, để được sống đời đời. Như thế trước hết muốn biết và theo Chúa, chiên của Chúa rất cần nghe được tiếng Ngài. Câu hỏi dành cho chiên là tại sao và làm cách nào để nghe được tiếng Chúa? Ta có thể nói, các thực tại tiếng nói quanh chúng ta, trước hết có thể giúp phân biệt nhiều loại tiếng khác nhau: như tiếng của chính mình, tiếng của tha nhân, tiếng của thế giới vật chất, tiếng của các loại cám dỗ như quyền lực, danh vọng, xác thịt và ma quỷ... và tiếng của những lý thuyết sai lầm! Trong những thực tại tạo nên các thứ tiếng khác nhau ấy, thì thực tại tiếng nói của chính mình ầm ĩ và làm lu mờ tiếng Chúa nhiều nhất; vì thế một trong các điều kiện tối quan trọng trong việc theo Chúa là phải từ bỏ chính mình (bao gồm ý riêng và các hoàn cảnh thực tại cuộc sống). Ta có thể nói, ý riêng mình là cản trở đầu tiên và mạnh mẽ nhất che khuất tiếng Chúa. Các thực tại khác như tha nhân và thế giới vật chất cũng là những tiếng mời gọi đáng kể và rất mạnh mẽ đóng góp vào việc ngăn chặn tiếng Chúa. Dựa vào luật Chúa: Phải thờ phượng Ngài trên hết mõi sự, cho thấy các thực tại trên không nhiều thì ít đã lôi kéo các chiên của Chúa xa dần Ngài, chỉ vì coi trọng tha nhân và vật chất hơn Ngài, hoăc lầm lẫn giữa nhu cầu vật chất và việc thờ phượng yêu mến Chúa. Hơn thế, hằng ngày tiếng thế gian cứ văng vẳng bên tai dưới rất nhiều hình thức, nên chiên khó nhận ra tiếng Chúa, vì tiếng của Ngài ở rất sâu trong đáy tâm hồn và thường lại rất thinh lặng! Ngoài ra, các thực tại sai lầm của những lý thuyết cũng hay đánh lừa lương tâm và sự thiếu nhân thức ngay thẳng của những con chiên Chúa, đã làm cho chúng xa đàn. Từ khi có Giáo Hội Chúa, chúng ta thấy không biết bao con chiên đã đi xa bày! Vì thế, các chiên rất cần tiếp xúc với Lời Chúa và nhờ sự hướng dẫn của Giáo Hội, để nhận ra tiếng nói chân chính của Chúa trong đời sống Đạo. Quả thật nghe được tiếng Chúa hết sức quan trọng, bời vì có lắng nghe, mới có thể nhận biết Chúa; và một khi nhận biết Chúa, mới có thể bước đi theo Ngài. Và biết Chúa và đi theo Ngài sẽ là tất cả con đường của Đạo, đúng hơn là dây tương quan thân tình của tình yêu chiên dành cho Chúa. Ai nghe được tiếng Chúa, biết Chúa và theo Ngài, thì dĩ nhiên sẽ được sống trong đồng cỏ xanh tươi Nước Trời, điều mà Chúa nói là sự sống đời đời. Tất cả con đường của Đạo sẽ dẫn chiên của Chúa tới đó, vì họ thuộc về Ngài, và sẽ chẳng có ai có thể cướp được họ khỏi tay của Ngài như Ngài đã hứa.

Lm. Raphael Xuân Nguyên