Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nhận định về một số tình hình tại Việt Nam hiện nay

Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nhận định: ''Luật đất đai hiện hành, vừa đi ngược tự nhiên, vừa không tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền''.

Việt Nam (HÐGM VN 15/05/2012) - Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam nhận định về một số tình hình tại Việt Nam hiện nay:

Chủ trương đổi mới đã giúp Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy chung của nhân loại và đưa đất nước từ một nền kinh tế nghèo nàn đến một trong những nước có tăng trưởng kinh tế cao nhất châu Á. Tiến trình hội nhập được cụ thể hóa qua việc Việt Nam trở nên thành viên của khối ASEAN, tham gia APEC, gia nhập WTO. Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia, tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế và thu hút đầu tư của nhiều tập đoàn nước ngoài. Xã hội ngày càng trở nên năng động, sáng tạo và nhìn chung có vẻ giàu có hơn. Nhưng tình hình gần đây cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang mất định hướng, thiếu tính bền vững và nhân bản, vì đổi mới kinh tế không song hành đổi mới chính trị, cũng như tăng trưởng kinh tế không nối kết với phát triển xã hội và phát triển con người toàn diện.

Thư chung hậu Ðại hội Dân Chúa năm 2010 mời gọi tất cả các thành viên của Giáo Hội Công giáo tại Việt Nam cố gắng nhận diện và phân định "hiện trạng xã hội Việt Nam dưới ánh sáng đức tin". Chính trong viễn tượng đó, Ủy ban Công lý và Hòa bình thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam muốn bày tỏ một vài thao thức, suy nghĩ và nhận định về tình hình Ðất nước, vừa với tư cách công dân, vừa với tư cách Kitô hữu.

1. Nền kinh tế Việt Nam

Sau gần hai thập niên đã tăng trưởng kinh tế cao, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp nhất, nhưng tình trạng mấy năm gần đây cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang bộc lộ những nguy cơ nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân và tương lai của đất nước. Biểu hiện rõ nhất là quản lý kinh tế yếu kém, các tập đoàn Nhà nước thua lỗ nặng, doanh nghiệp phá sản càng nhiều ngân hàng lãi càng lớn, lạm phát tăng cao, chênh lệch giàu nghèo nới rộng, chất lượng cuộc sống của đại đa số dân chúng giảm sút, nhiều người rơi trở lại tình trạng nghèo trước đây. Phải chăng mô hình kinh tế hiện tại đang làm giàu cho nhóm đặc lợi hơn là cho toàn dân?

Ðịnh hướng kinh tế lấy quốc doanh làm chủ đạo đã tạo ra độc quyền và lạm quyền, làm méo mó sự vận hành cần có của nền kinh tế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước đóng góp ít vào tăng trưởng kinh tế nhưng lại nhận nhiều đặc quyền đặc lợi, gây bất công và kìm hãm sự phát triển của khối tư nhân. Nợ nước ngoài và thâm thủng mậu dịch đã và đang gia tăng khiến nền kinh tế bị suy yếu và lệ thuộc. Lạm phát gia tăng cũng làm tăng đói nghèo, gây khó khăn hơn cho cuộc sống của người dân và cả các doanh nghiệp. Ðình công tiếp tục tăng cao chứng tỏ quyền lợi của công nhân chưa được bảo vệ thỏa đáng. Một số chủ trương không hợp lòng dân mà vẫn được Nhà nước tiến hành như vụ khai thác bô-xit Tây Nguyên hoặc dự án xây nhà máy điện hạt nhân ở tỉnh Ninh Thuận.

2. Luật đất đai

Luật đất đai hiện hành, vừa đi ngược tự nhiên, vừa không tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Ðó là nguyên nhân của khoảng 80% các khiếu kiện trong nước. Các vụ khiếu kiện này đã đi từ khiếu nại cá nhân đến khiếu kiện tập thể; từ khiếu kiện bằng đơn từ đến tập họp phản đối và nay là dùng vũ khí chống lại việc thu hồi đất.

Luật đất đai qui định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng do Nhà nước quản lý đã làm cho hàng triệu người cảm thấy mất đất và chẳng có quyền tự do hành xử trên "mảnh đất ông bà tổ tiên". Trên thực tế, sở hữu toàn dân không phải là phương thức quản lý đất đai tốt nhất, còn việc Nhà nước làm chủ sở hữu đã phát sinh đặc quyền, đặc lợi của chính quyền các cấp trong việc quy hoạch và thu hồi đất cho các dự án, tước mất quyền căn bản của người dân.

Vấn đề gây bức xúc nhiều nhất trong việc thu hồi đất là giá đền bù. Muốn giải quyết tranh chấp về giá đền bù giữa người bị thu hồi đất và cơ quan chức năng hoặc các nhà đầu tư, thì phải làm sao để người bị thu hồi đất được đền bù ngang giá với tài sản của họ bị trưng dụng và cuộc sống của họ phải tốt đẹp ngang hay hơn trước khi bị trưng dụng. Vì giá đất tăng gấp bội sau khi quy hoạch, nên người bị thu hồi đất cần được chia phần sự chênh lệch giá cả này bằng nhiều cách khác nhau. Ðiều cần thiết là nên cấp tốc sửa đổi Luật đất đai để người dân được quyền sở hữu đất và hạn chế tối đa quyền thu hồi đất của các cấp chính quyền.

3. Môi trường xã hội

Xã hội Việt Nam đang bộc lộ nhiều hiện tượng rất đáng quan ngại. Nội bất nhất vẫn là hai tật xấu đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam cảnh báo từ năm 2008, đó là gian dối và bạo lực. Chúng không những phô bày nơi đường phố, trên thương trường và các phương tiện thông tin đại chúng, mà còn xâm nhập vào công sở và học đường. Dư luận đang bức xúc vì hiện tượng lạ lùng là tại một số nơi, cơ quan công quyền lại sử dụng bạo lực phi pháp để giải quyết các khiếu kiện dân sự.

Bên cạnh những tệ nạn đang tác hại xã hội Việt Nam hôm nay, nhiều người âu lo vì khuynh hướng sống hưởng thụ, chụp giựt, coi trọng đồng tiền, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại. Hiện tượng này chứng tỏ tình trạng thiếu vắng các giá trị đạo đức nền tảng làm chuẩn mực cho đời sống xã hội, vì vậy một số người đã cảnh báo về một xã hội lệch chuẩn hay phi chuẩn.

Tham nhũng đã được coi là đại họa của quốc gia, ngày càng tinh vi và nghiêm trọng hơn, nhưng cho đến nay chưa một vụ án nào xứng tầm được đưa ra xét xử để răn đe, làm giảm sút niềm tin của người dân nơi công quyền.

Các vụ khiếu kiện, chủ yếu liên quan đến đất đai, trong đó có đất tôn giáo, vẫn tiếp diễn phức tạp và ngày càng trầm trọng, gây bất an và căng thẳng xã hội. Vụ việc ở Tiên Lãng, Hải Phòng, và Văn Giang, Hưng Yên, gây xúc động mạnh mẽ trên tất cả những người Việt Nam có tâm huyết, buộc Nhà nước phải nhìn lại cách giải quyết vấn đề, mà cốt yếu là sửa đổi Luật đất đai về mặt hạn điền, thời hạn sử dụng đất và giá đền bù, nếu chưa đi đến chỗ nhìn nhận quyền tư hữu chính đáng của công dân.

Một yêu cầu cấp bách khác là cần thay đổi lề lối làm việc cửa quyền, không minh bạch và thiếu chuyên môn của cán bộ. Biểu hiện rõ rệt nhất ở sự áp đặt của Nhà nước về quan điểm và cách sống trong xã hội, đó là sự phân biệt đối xử trong chính sách công giữa các cá nhân làm việc cho Nhà nước với các doanh nhân và người lao động tự do, giữa người dân thành thị và người nhập cư ngoại tỉnh.

4. Lĩnh vực pháp luật

Hiến pháp và pháp luật của mỗi quốc gia phản ánh tính đặc thù và cá biệt theo truyền thống văn hóa dân tộc mình, nhưng cũng không vì thế mà bất chấp những chuẩn mực pháp lý quốc tế. Việt Nam có một hệ thống pháp luật đồ sộ, nhưng không hiệu quả từ lập pháp đến hành pháp, vì thiếu sự công khai, minh bạch, và nhất là thiếu sự độc lập về tư pháp.

Việc áp dụng luật pháp chưa nghiêm minh và tùy tiện, nhất là ở cấp địa phương, đã dẫn đến những oan sai và đôi khi đẩy người dân đến bước đường cùng. Bộ luật tố tụng hình sự đã quy định các thủ tục bắt người; vậy mà trong một số trường hợp, vẫn có các công dân bị bắt sai trái với các quy định của bộ luật ấy, cũng như với các tuyên ngôn và công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Việc giam giữ người không qua xét xử được che đậy dưới từ ngữ "đưa vào cơ sở giáo dục" có thời hạn và áp dụng cho những người bày tỏ sự bất đồng chính kiến là một hình thức vi phạm quyền cơ bản của con người. Hình thức "giáo dục" này thực ra là một biện pháp mà thực dân Pháp sử dụng ở nước ta, sau đó được lập lại bằng Nghị quyết 49/NQ-TVQH ngày 20/6/1961 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và đã là cơ sở pháp lý cho việc tập trung cải tạo các công chức và quân nhân chính quyền Miền Nam cũ. Sau này có một chuyển biến tốt đẹp về biện pháp này khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ban hành năm 1989 không sử dụng nó nữa. Nhưng với Pháp lệnh năm 1995, nó lại được tái lập dưới cái tên hiện nay và được Pháp lệnh năm 2002 nối tiếp. Hy vọng trong lần ban hành tới về xử lý vi phạm hành chính, kiểu "giáo dục" ấy sẽ được bãi bỏ.

Căn bệnh trầm kha trong quản lý và điều hành của các cấp chính quyền chỉ được giải quyết khi Việt Nam xây dựng một Nhà nước pháp quyền thực sự và hình thành một xã hội công dân năng động. Bất chấp những khó khăn hiện tại, đây là một xu thế không thể đảo ngược.

5. Biên cương, hải đảo và chủ quyền quốc gia

Vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, Biển Ðông đã một vài lần nổi sóng. Nhưng trong những năm gần đây, sự căng thẳng đã lên đến mức độ nguy hiểm. Nhà cầm quyền Trung Quốc một mặt dùng lời lẽ hoa mỹ, với thông điệp rất êm tai, nhưng mặt khác, các hành động của họ về chủ quyền trên Biển Ðông ngày càng phản ánh rõ rệt chủ trương Ðại Hán.

Trong khi đó, bên Việt Nam, phản ứng của Nhà nước xem ra quá yếu ớt, tạo cớ cho các lực lượng thù nghịch lấn tới. Khó hiểu hơn nữa là việc chính quyền đã mạnh tay đàn áp các tổ chức và các cá nhân yêu nước phản đối hành động xâm lược trắng trợn. Thái độ lập lờ, thiếu nhất quán của các nhà lãnh đạo trong vấn đề phân định lãnh thổ vùng biên giới và bảo vệ chủ quyền ở Biển Ðông đang gây bất bình trong dư luận. Nhiều nhân sĩ và các nhà trí thức tâm huyết đã lên tiếng cảnh báo những nguy cơ về an ninh quốc gia do một số dự án cho nước ngoài khai thác bô-xít và thuê đất, thuê rừng. Mặt khác, các thông tin về lĩnh vực này không đầy đủ, chậm chạp và thiếu công khai. Ðiều trước mắt đã xảy ra là "lao động phổ thông" nước ngoài ồ ạt vào Việt Nam để thực hiện các dự án trên đang gây bất ổn cho xã hội hiện tại và về lâu dài.

6. Môi trường sinh thái

Theo dự báo của các cơ quan chuyên môn, Việt Nam sẽ là một trong bốn nước phải gánh chịu hậu quả nghiệt ngã nhất của biến đổi khí hậu. Nguyên nhân một phần do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, nhưng một phần khác do chúng ta thiếu quan tâm đến môi trường sinh thái và tính bền vững trong phát triển.

Ðiều đáng quan ngại nhất là chúng ta vụng về và vội vàng trong khai thác tài nguyên. Những năm gần đây Nhà nước đã cho nước ngoài đầu tư nhiều dự án có nguy cơ hủy hoại môi trường, thay đổi hệ sinh thái và làm biến đổi khí hậu: khai thác bô-xit tại Tây nguyên, cho thuê rất nhiều khu rừng đầu nguồn thuộc 18 tỉnh từ Bắc chí Nam, rất nhiều tỉnh đã khoanh biển và bờ biển cho các công ty ngoại quốc thuê để xây khách sạn, lập bãi tắm hoặc các dự án khác, mà không quan tâm đến môi trường sinh thái.

7. Vai trò của Trí thức

Gần 1,000 năm trước, cùng với việc thành lập Quốc Tử Giám, tổ tiên chúng ta đã nhận thức sâu sắc rằng: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì nước yếu mà thấp hèn" (Bia Văn Miếu). Ðiều này vẫn luôn đúng và càng đúng hơn cho kỹ nguyên chất xám, thời đại của nền kinh tế tri thức hôm nay.

Bỏ ra ngoài hiện tượng gia tăng đột biến số lượng các tiến sĩ mà chất lượng còn đáng nghi ngại, Việt Nam còn khá nhiều hiền tài đích thực, những trí thức thực tài và có tâm huyết với nước, với dân. Chỉ tiếc rằng vai trò của họ chưa được coi trọng, có khi còn bị gạt ra bên lề hoặc bị kỳ thị, mà nguyên nhân, trong nhiều trường hợp, chỉ là do sự khác biệt về quan điểm đánh giá hiện thực xã hội hoặc về tầm nhìn tương lai của Dân tộc. Phải chăng cơ chế Nhà nước bất cập và chưa đủ mở rộng để thu hút người tài, cũng như chưa cải tổ cho phù hợp với đòi hỏi của xã hội tân tiến? Bao giờ vai trò của xã hội dân sự được nhìn nhận và thực sự có cơ hội tích cực góp phần xây dựng đất nước?

8. Giáo dục và Y tế

Tương lai của Dân tộc tùy thuộc phần lớn vào giáo dục. Không thể phủ nhận rằng nền giáo dục quốc gia đã sản sinh một số nhân tài và góp phần vào việc phát triển Ðất nước. Nhưng nhìn chung, trong mấy thập niên qua, nền giáo dục của chúng ta có quá nhiều bất cập về nội dung, phương pháp dạy và học... Việt Nam đã có nhiều nỗ lực "cải cách giáo dục" nhưng không đi đến những đột phá thực chất. Vì sao? Phải đau đớn mà nói rằng vì chúng ta thiếu hẳn một triết lý giáo dục mang tính nền tảng và chiến lược lâu dài.

Hậu quả thê thảm của thực trạng trên là những gì chúng ta đang nhìn thấy trước mắt: Gia tăng các tệ nạn khủng khiếp trong học đường, tội phạm tuổi học sinh sinh viên ngày càng nhiều, gian dối trong thi cử trở thành bình thường, bằng cấp giả hay nguy hiểm hơn nữa, bằng cấp thật mà kiến thức giả. Kết quả cay đắng là Ðất nước có nguy cơ bị tụt hậu về nhiều phương diện.

Nhờ áp dụng các công nghệ mới, y tế Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được một số thành tựu trong việc khám chữa bệnh và y tế dự phòng. Nhân viên y tế ngày càng được đào tạo bài bản và có chuyên môn cao hơn. Nhưng do hệ quả của nền giáo dục nói trên, cũng như khuynh hướng tập trung vào sức khỏe thể chất và thiếu định hướng y tế toàn diện, nên hệ thống y tế đang bị sa lầy. Bên cạnh tình trạng quá tải trầm trọng tại các bệnh viện Trung ương và việc tăng viện phí ảnh hưởng mạnh tới người nghèo, dư luận nói nhiều đến sự vô cảm, nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của nhân viên y tế...

Nhà nước đã kêu gọi "xã hội hóa" giáo dục và y tế, thiết tưởng nên tạo điều kiện để các tôn giáo trong nước được tham gia trực tiếp vào hai lĩnh vực này.

9. Lĩnh vực tôn giáo

Trong thời gian qua, nhà cầm quyền đã tạo cơ hội thuận tiện cho các sinh hoạt tôn giáo, hầu hết các cơ sở tôn giáo bị tàn phá trong thời chiến tranh đã được trùng tu, nhiều cơ sở mới đã và đang được xây dựng. Tuy nhiên, qui định pháp luật liên quan đến các tôn giáo vẫn còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được nguyện vọng của các tín đồ, cụ thể nhất là về tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Ðiểm mấu chốt là các tôn giáo đã được nhìn nhận, nhưng lại chưa có tư cách pháp nhân, nên không thể thực thi và bảo vệ các quyền hiến định của mình, như các tổ chức xã hội và nghề nghiệp khác.

Hiện nay, Nhà nước dự định ban hành một Nghị định "Quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo", thay thế Nghị định số 22/2005/NÐ - CP ngày 01-03-2005. Thật đáng hoan nghênh nếu văn bản này được soạn thảo trên tinh thần đổi mới, thực sự cầu thị để tạo thuận lợi cho tín đồ các tôn giáo được tụ do hoạt động, góp phần vào việc phục vụ đồng bào và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng một số người đang băn khoăn vì sợ văn bản này lại là một bước thụt lùi, so với Nghị định nêu trên. Câu hỏi nền tảng là bao giờ các công dân có tôn giáo được đối xử bình đẳng với các công dân khác, theo Hiến pháp và Dân luật, mà không cần đến một Pháp lệnh Tín ngưỡng tôn giáo nữa?

* * *

Những nhận định trên đây phát xuất từ niềm tin Kitô giáo và trách nhiệm công dân với ước nguyện góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng một đất nước phát triển vững bền, dân chủ và nhân ái. Trong vấn đề này, huấn từ của Ðức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, ngày 27-06-2009, với các Giám mục Việt Nam vẫn là định hướng căn bản của Ủy ban Công lý và Hòa bình: "Giáo Hội không hề muốn thay thế Chính quyền, nhưng chỉ mong rằng trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng nhau, Giáo Hội có thể góp phần mình vào đời sống của đất nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân".

Ngày 15 tháng 5 năm 2012,

kỷ niệm 121 năm Thông điệp Rerum Novarum (Tân Sự)

Ủy Ban Công Lý & Hòa Bình / Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam

Trích nguồn : http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/12news/12news0439.htm

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012


“Đừng chống lại việc cử hành và chầu Thánh Thể”


Dưới đây là bản dịch bài huấn tử của ĐTC. Bênêđictô XVI về việc tôn thờ Thánh Thể trong Lễ Corpus Domini (Corpus Christi) vào chiều thứ năm, ngày 7 tháng 6, năm 2012 ở sân trước Vương Cung Thánh Đường Thánh Gioan Latêranô, sau đó rước Thánh Thể từ nhà thờ chính tòa Roma đến Vương Cung Thánh Đường Thánh Đức Bà Cả.

Anh chị em thân mến,

Chiều nay tôi muốn cùng anh chị em suy niệm về hai khía cạnh liên hệ với nhau của Mầu Nhiệm Thánh Thể: tôn thờ Thánh Thể và đặc tính thánh thiêng của Thánh Thể. Điều quan trọng là chúng xem lại một lần nữa để bảo vệ chúng khỏi những quan điểm thiếu sót về chính Mầu Nhiệm này, chẳng hạn như những quan điểm được đưa ra trong quá khứ gần đây.

Trước hết, một suy nghĩ về giá trị của việc kính thờ Thánh Thể, đặc biệt là việc tôn thờ Bí Tích Cực Trọng. Đây là kinh nghiệm mà chúng ta cũng sẽ trải qua ở đây sau Thánh Lễ, trước cuộc rước, trong lúc rước kiệu và khi kết thúc. Một giải thích đơn phương về Công Đồng Vatican II đã làm tổn thương đến chiều kích này qua việc giới hạn thực hành Thánh Thể vào những lúc cử hành phụng vụ. Thật ra, nhận thức được đặc tính trung tâm của việc cử hành phụng vụ là điều rất quan trong, vì trong đó Thiên Chúa mời gọi dân Ngài, quy tụ họ lại chung quanh bàn tiệc gồm có hai phần là Lời Chúa và Bánh Ban Sự Sống, nuôi dưỡng và kết hợp họ với Chính Ngài trong việc dâng Hy Lễ. Sự đánh giá này về việc tụ họp phụng vụ, trong đó Chúa họat động và thể hiện Mầu Nhiệm Hiệp Thông cùa Người, đương nhiên vẫn còn giá trị, nhưng phải được đánh giá một cách cân bằng.

Thật vậy, như thường xảy ra, việc nhấn mạnh đến một khía cạnh sẽ đưa đến việc hy sinh những khía cạnh khác. Trong trường hợp này, việc nhấn mạnh đến cử hành Bí Tích Thánh Thể đã làm phương hại đến việc tôn thờ Thánh Thể, như một hành động của đức tin và cầu nguyện dâng lên Chúa Giêsu, là Đấng hiện diện thật trong Bí Tích Bàn Thờ. Sự thiếu cân bằng này cũng ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của các tín hữu. Thật vậy, việc chỉ tập trung toàn thể liên hệ với Chúa Giêsu Thánh Thể trong thời gian Thánh Lễ, có thể đưa đến nguy cơ tách rời sự hiện diện của Người ra khỏi những thời gian và không gian khác của cuộc sống. Và như thế, người ta sẽ ít ý thức về sự hiện diện liên tục của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta và với chúng ta, một sự hiện diện cụ thể, gần gũi ngay trong nhà chúng ta, như “Trái Tim rộn ràng đập” của thành phố, của xứ sở, của lãnh thổ với những cách diễn tả và hoạt động khác nhau của nó. Bí Tích Bác Ái của Đức Kitô phải thấm nhuần vào toàn thể cuộc sống hằng ngày.

Thực ra, việc đặt ra sự tương phản giữa cử hành phụng vụ và tôn thờ Thánh Thể, như thể hai việc này cạnh tranh với nhau, là một điều sai lầm. Điều ngược lại mới đúng: việc tôn thờ Thánh Thể là một “môi trường” tinh thần mà trong đó cộng đồng có thể cử hành Thánh Lễ một cách tốt đẹp và trong chân lý. Vì chỉ khi nào được đi trước, đi kèm và đi theo bằng thái độ đức tin và tôn thờ nội tâm này, hành động phụng vụ mới có thể bày tỏ ý nghĩa và giá trị đầy đủ của nó. Cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu trong Thánh Lễ được thể hiện thật sự và đầy đủ khi cộng đoàn nhận ra rằng trong Bí Tích Thánh Thể, Chúa đang sống trong nhà của Người, đang chờ đợi chúng ta, mời gọi chúng ta đến bàn tiệc của Người, và sau khi cuộc tụ họp đã giải tán, Chúa vẫn còn ở cùng chúng ta, với sự hiện diện kín đáo và thầm lặng của Người, và Người vẫn đồng hành với chúng ta bằng lời chuyển cầu của Người, bằng việc tiếp tục thu góp những hy lễ thiêng liêng của chúng ta và dâng chúng lên Đức Chúa Cha.

Về điều này, tôi muốn nhấn mạnh đến những kinh nghiệm mà chúng ta cũng sẽ cùng nhau trải qua tối nay. Vào lúc chầu Thánh Thể, tất cả chúng ta đều bằng nhau qua việc quỳ trước Bí Tích Tình Yêu. Chức tư tế cộng đồng và chức tư tế thừa tác kết hợp với nhau trong việc tôn thờ Thánh Thể. Đây là một kinh nghiệm rất tốt đẹp và rất quan trọng mà chúng ta đã cảm nghiệm nhiều lần ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, và cũng trong những buổi canh thức không thể quên được với những người trẻ: như những buổi canh thức ở Cologne, London, Zagreb và Madrid. Thật rõ ràng đối với tất cả mọi người là những giây phút canh thức cầu nguyện Thánh Thể chuẩn bị cho việc cử hành Thánh Lễ, chuẩn bị tâm hồn cho cuộc gặp gỡ, để nó trở nên hữu hiệu hơn. Sống cùng nhau trong một thời gian im lặng dài trước sự hiện diện của Chúa trong Bí Tích của Người là một trong những kinh nghiệm đích thực nhất của việc chúng ta là Hội Thánh, được đi kèm một cách bổ túc với việc cử hành Thánh Lễ, lắng nghe Lời Chúa, ca hát, cùng nhau đến gần bàn Bánh Ban Sự Sống. Sự hiệp thông và chiêm niệm không thể tách rời nhau được, chúng cùng đi với nhau. Để thật sự hiệp thông với người khác, tôi phải biết biết người ấy, tôi phải có khả năng sống trong im lặng, để lắng nghe người ấy và để nhìn ngắm nhìn người ấy bằng tình yêu. Tình yêu đích thực và tình bằng hữu chân thật luôn sống trong cái nhìn trao đổi, cái im lặng cao độ, hùng hồn đầy tôn trọng và sùng kính này, để cuộc gặp gỡ được sống một cách sâu xa, một cách cá nhân nhưng không hời hợt. Và tiếc thay, nếu thiếu chiều kích này, ngay cả chính sự hiệp thông bí tích, đối với chúng ta, cũng có thể trở thành một cử chỉ bề ngoài. Thay vào đó, trong sự hiệp thông thật, được chuẩn bị bằng cầu nguyện đối thoại và bằng đời sống, chúng ta có thể thân thưa với Chúa bằng những lời tin tưởng, như những lời vừa được vang lên trong Thánh Vịnh Đáp Ca: “Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ, tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài, xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi. Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn, và kêu cầu thánh danh Đức Chúa” (Thánh Vịnh 115 (116):16-17).

Giờ đây tôi muốn lướt qua khía cạnh thứ hai: tính chất thánh thiêng của Bí Tích Thánh Thể. Ở đây chúng ta ghi nhận rằng, trong quá khứ gần đây, có một sự hiểu lầm nào đó về sứ điệp thật sự của Thánh Kinh. Tính mới lạ của Kitô giáo về việc phụng tự đã bị ảnh hưởng bởi một não trạng thế tục nào đó của những thập niên sáu mươi và bảy mươi của thế kỷ trước. Điều chân thật, và vẫn còn có giá trị, là trọng tâm của việc phụng tự giờ đây không còn là các nghi lễ và hy lễ xưa kía, nhưng là chính Đức Kitô, trong con người của Người, trong cuộc đời của Người và trong Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người. Tuy nhiên, từ sự mới lạ cơ bản này, người ta không được phép kết luận rằng sự thánh thiêng không còn nữa, nhưng nó tìm thấy sự viên mãn trong Đức Chúa Giêsu Kitô, Tình Yêu Thiên Chúa Nhập Thể. Thư gửi Tín Hữu Do Thái mà chúng ta vừa nghe trong Bài Đọc Thứ Hai chiều nay, nói cho chúng ta một cách chính xác về tính mới lạ của chức tư tế của Đức Kitô, “Vị Thượng Tề của những điều tốt lành sẽ đến” (Dt 9:11), nhưng không nói rằng chức tư tế đã hết. Đức Kitô là “Đấng Trung Gian của giao ước mới” (Dt 9:15), được thiết lập trong máu của Người để thanh tẩy “lương tâm chúng ta khỏi những việc làm của sự chết” (Dt 9:14). Người không xóa bỏ điều thánh thiêng, nhưng làm cho nó nên hoàn hảo, bằng cách khai trương một cách thờ phượng mới, hoàn toàn tinh thần, nhưng, bao lâu chúng ta còn lữ hành trong thời gian, chúng ta vẫn còn phải sử dụng các dấu hiệu và nghi lễ, là những điều chúng ta sẽ không cần nữa vào ngày sau hết, ở Giêrusalem trên trời, nơi sẽ có không còn đền thờ nữa (Kh 21:22). Nhờ Đức Kitô, điều thánh thiêng trở nên thật hơn, mạnh hơn, và, như đã xảy ra cho các Giới Răn, cũng đòi hỏi nhiều hơn! Chỉ làm theo nghi lễ mà thôi thì chưa đủ, nhưng chúng ta cần thanh luyện tâm hồn, và thực hành trong đời sống.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng điều thánh thiêng có một chức năng giáo huấn và sự biến mất của nó chắc chắn sẽ làm cho nền văn hóa ra nghèo nàn, đặc biệt là việc đào tạo các thế hệ mới. Thí dụ, nếu nhân danh niềm tin thế tục, chúng ta không còn cần những dấu hiệu thánh thiêng, chúng ta bãi bỏ cuộc rước Mình Máu Thánh Chúa trong thành phố này, thì bộ mặt tinh thần của thánh Roma sẽ bị “san bằng” và lương tâm cá nhân cùng cộng đồng của chúng ta sẽ bị yếu đi. Hoặc chúng ta hãy nghĩ về một người mẹ hay một người cha, nhân danh một đức tin mà sự thánh thiêng đã bị loại ra ngoài, làm cho con em mình bị tước đoạt tất cả mọi nghi lễ tôn giáo: trên thực tế, kết cuộc họ sẽ để cho nó thành một cách đồng hoang cho nhiểu sự thay thế khác đang hiện diện trong xã hội tiêu thụ, những nghi thức và dấu chỉ khác, là những điều có thể trở thành những thần tượng một cách dễ dàng hơn. Thiên Chúa, Cha chúng ta, đã không làm như vậy đối với nhân loại: Ngài đã sai Con Ngài vào thế gian không phải để phá bỏ, nhưng để làm tròn điều thánh thiêng. Ở cao điểm của sứ mệnh này, trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã lập bí tích Mình và Máu Người, Tưởng Niệm Hy Lễ Vượt Qua của Người. Bằng cách đó, Người đặt Mình ở vị thế những hy lễ cổ xưa, nhưng Người đã làm trong một nghi lễ, mà Người đã truyền cho các Tông Đồ phải tiếp tục làm mãi mãi, là dấu chỉ tối cao của sự thánh thiêng thật, chính Người. Anh chị em thân mến, với đức tin này, chúng ta đang cử hành ngày hôm nay và mỗi ngày Mầu Nhiệm Thánh Thể và chúng ta tôn thờ Thánh Thể như trung tâm của cuộc sống chúng ta và con tim của thế giới. Amen.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

THÁNG KÍNH THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU

NGÀY MỒNG HAI

CHÚA GIÊSU HỨA BAN MUÔN ƠN CHO AI TÔN THỜ TRÁI TIM CHÚA

Ai làm việc thì đáng lãnh công. Biết vậy, nên Chúa Giêsu đã hứa ban rất nhiều ơn cho những ai thành thực tôn thờ Trái Tim Chúa. Người hứa ban ơn chung cho mọi người, ban ơn riêng cho từng người, cho người nhân đức, cho kẻ tội lỗi, cho kẻ ốm đau, cho người khoẻ mạnh, cho kẻ đi tu, cho người phần đời, ai cũng được ơn dư dật của Trái Tim Chúa.

Tháng Magarita viết rằng: Tôi không sao kể hết những đặc ân Chúa Giêsu ban cho những ai tôn thờ Trái Tim Chúa, xin kể mấy đặc ân sau:

1. Cha sẽ ban những ơn cần thiết theo bậc sống mỗi người.

2. Cha sẽ ban bình an hoà thuận xuống gia đình chúng.

3. Cha sẽ yên ủi trong lúc chúng gian khổ.

4. Cha sẽ nên nơi ẩn náu an toàn cho chúng trong đời sống, nhất là giờ chết.

5. Cha sẽ đổ tràn ơn phúc trong các việc chúng làm.

6. Cha sẽ nên nguồn mạch, nên biển cả tình thương cho các tội nhân.

7. Nhờ kính Trái Tim Cha, linh hồn nguội lạnh sẽ nên sốt sắng.

8. Linh hồn sốt sáng sẽ nên trọn lành.

9. Cha sẽ chúc phúc cho những nhà nào đặt ảnh tượng và tôn kính Trái Tim Cha.

10. Cha sẽ cho các linh mục được ơn lay chuyển những tấm lòng cứng cỏi trở về cùng Chúa.

11. Ai khuyên người khác tôn sùng Trái Tim Cha, tên kẻ ấy sẽ được ghi vào Trái Tim Cha, không bao giờ bị xoá bỏ.

12. Cha sẽ ban ơn thống hối lúc cuối đời cho những ai Rước Lễ 9 ngày Thứ Sáu Đầu Tháng liên tiếp. Nó sẽ không chết khi còn là kẻ thù nghịch Cha, hoặc không được lãnh các Bí tích sau hết. Trái Tim Cha sẽ là nơi nương náu an toàn cho chúng trong giờ chết.

Thánh tích

Marseille là thành phố rộng lớn và giàu có bên nước Pháp, đêm ngày hàng mấy trăm con tàu đi lại sầm uất. Năm 1722, chứng dịch nổi lên, người thành phố bị chết rất nhiều, người ta kéo nhau tản cư sang tỉnh khác, nhưng sau có lệnh cấm không ai được ra khỏi thành phố, sợ đem dịch đi nơi khác. Người còn lại trong thành rất lo về số phận mình. Số người chết mỗi ngày gia tăng. Các cửa hàng im lìm, phố vắng vẻ như chết. Tiếng khóc liên miên ngày đêm không dứt. Nạn nhân trước còn được chôn hẳn hoi, sau vì nhiều quá, người ta vất la liệt ngoài ngã ba đường phố; vì thế sinh nặng khí, và chứng dịch càng ra nặng hơn. Trong 4 tháng, thành phố chết tới 40.000 người.

Đức giám mục thành chạy đến cùng Trái Tim Chúa Giêsu và dâng mình cùng cả giáo dân trong địa phận mình cho Trái Tim Chúa. Người khấn mỗi năm một lần sẽ kiệu tượng Trái Tim Chúa trọng thể.

Ngày lễ Các thánh năm ấy, giáo dân sốt sáng rước tượng Trái Tim Chúa rất trọng thể. Từ đó chứng dịch nhẹ dần và ít lâu sau khỏi hẳn. Mấy năm sau, người ta không thấy ai chết vì chứng bệnh dịch nữa.

(Theo Sách Tháng Trái Tim Chúa Giêsu, NXB. Hiện Tại, 1969)

Nguồn tin: TTCG

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

Bài giảng Thánh lễ phong chức 17 Linh Mục (GM Giuse Vũ Duy Thống)

“XIN CHO CHÚNG NÊN MỘT… ĐỂ THẾ GIAN TIN” (GA 17, 20-26)

Trang Tin Mừng chọn đọc cho thánh lễ phong chức linh mục hôm nay là trích đoạn chương 17 phúc âm theo thánh Gioan, một chương có tên gọi là “kinh nguyện hiến tế”, trong đó Chúa Giêsu, khi sắp rời bỏ các môn đệ, đã tha thiết cầu nguyện với Chúa Cha: “Xin cho chúng nên một”. Tại sao thế?

1. Vì muốn môn đệ được kết liên mật thiết với Người.

- Qua bí tích thánh tẩy, ai cũng được liên kết với Chúa Kitô và bằng việc nhận dầu thánh mang tên Kitô Chrisma xức trên trán, người ta trở thành kitô hữu để thuộc về và hướng về Chúa Kitô trong suốt cuộc đời của mình. Nhưng chỉ qua bí tích truyền chức thánh, người ta mới được thánh hiến dành riêng cho Thiên Chúa, được liên kết mật thiết với Chúa Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô là Đầu. Nói theo kiểu của phụng vụ hôm nay, được trở thành LM,


-Nếu đầu chi phối trên thân mình thế nào, thì LM khi thực thi sứ mạng mục vụ tại nơi mình được sai đến, cũng chi phối trên phần dân Chúa được trao phó cho mình qua việc thánh hóa, giảng dạy và cai quản như vậy. Khuôn mẫu mối kết liên này chính là tình yêu giữa Cha và Con, và động lực cho sự gắn bó này trở nên sống động cũng vẫn là tình yêu giữa Con và Cha.

2. Vì muốn môn đệ được kết nối mật thiết với nhau.

-Cùng liên kết với Chúa Kitô, LM là anh em với nhau, nên tình huynh đệ LM phải được nối kết một cách mật thiết. Cùng một nguồn gốc thánh thiêng là bí tích truyền chức, LM nhận nhau là anh em, sẵn sàng nâng đỡ nhau trên đường nên thánh; cùng một địa bàn mục vụ cấp giáo phận, LM xem nhau là bạn hữu, quảng đại giúp đỡ nhau chu toàn sứ vụ vì phần rỗi các linh hồn; và cùng được quy định bởi giáo luật, LM trong một giáo phận liên kết với nhau thành LM đoàn, coi nhau như những thành viên trong một một gia đình, luôn bênh đỡ dìu nhau thăng tiến trong đời phục vụ. Gà cùng một mẹ, bí bầu một giàn.

-Dấu hiệu của môn đệ Chúa Kitô là yêu thương nhau; dấu hiệu của LM cũng là nối kết với nhau trong cùng một tình yêu. Càng nối kết với nhau càng liên kết với Chúa Kitô, và ngược lại, càng liên kết với Chúa Kitô bao nhiêu càng biết cách để nối kết gắn bó với nhau thắm thiết bấy nhiêu.

3. Vì muốn môn đệ phải kết sinh hoa trái trong đời mục vụ.

-Xin cho môn đệ nên một để thế gian tin nhận ơn cứu rỗi. Sau khi đón nhận Thánh Thần, các môn đệ mỗi người một phương, không phải là đánh lẻ nhằm lợi ích tư riêng, mà là ra đi chấp nhận cuộc sống lẻ loi nhưng hiệp nhất trong cùng một giáo lý rao giảng và hiệp thông trong cùng một nhãn giới truyền giáo. Miễn sao Tin Mừng được rao giảng và Giáo Hội mỗi ngày mỗi rộng lan qua việc có nhiều người nhận biết và tin theo Chúa.

-Làm LM không phải để tiến thân, mà là một khởi đầu cho cuộc sống hiến thân từng ngày. Làm LM, người ta không mong được làm lớn, mà chỉ mơ được lớn lên trong tình yêu Chúa và qua cuộc đời mục vụ cũng là đời phục vụ phần rỗi cho mọi người.

Tóm lại, Chúa Giêsu cầu xin cho môn đệ được nên một vì Người muốn môn đệ được kết liên với Người, kết nối với nhau và kết sinh hoa trái trong đời mục vụ.

Anh em tiến chức thân mến, lát nữa đây, anh em sẽ được thánh hiến để trở thành LM giữa dân Chúa. Là người thuộc về Chúa Kitô là Đầu, anh em hãy phấn đấu nên thánh qua việc đạo đức cũng như việc cử hành các bí tích và sinh hoạt mục vụ; là người thuộc về Giáo Hội, anh em hãy nỗ lực phục vụ dân Chúa và lấy việc cứu rỗi các linh hồn như là trách vụ hàng đầu. Để kết, xin gửi đến anh em bài thơ sáu câu cũng là sáu lời khuyên dành cho tân LM GP. Phan Thiết năm 2012 của Đức Ông Xuân Ly Băng:

"Ngày ngày cầu nguyện chăm chuyên, Tôn thờ Thánh Thể đặt lên hàng đầu. Thánh Kinh phải được đào sâu. Mân Côi kính Mẹ khẩn cầu chớ quên. Chăm lo mục vụ ưu tiên, Tỏa lan đức ái lời khuyên Tin Mừng".

+ GM Giuse Vũ Duy Thống

Tapao tối 12-5-2012











THÁNH LỄ PHONG CHỨC 17 LINH MỤC GP PHAN THIẾT

Sáng ngày 24.05.2012, có thể được xem là một ngày trọng đại đối với Giáo phận Phan Thiết, bởi hôm nay, toàn thể Giáo phận hướng về Nhà thờ Chính Toà hiệp thông trong Thánh lễ Phong Chức Linh Mục cho 17 thầy phó tế do Đức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống chủ sự.

Hiện diện chung chia niềm vui và cầu nguyện cho 17 Tân Chức, có Cha Tổng đại diện GP Phan Thiết, quý cha Giám đốc và quý cha giáo sư Chủng viện Thánh Nicôla Phan Thiết, ĐCV Thánh Giuse Xuân Lộc, ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn, ĐCV Sao Biển Nha Trang, (là những nơi các thầy đã được theo học và huấn luyện), hơn 200 linh mục cùng với quý nam nữ tu sĩ, chủng sinh, ân thân nhân của các Tân chức, và đông đảo bà con giáo dân.
Đức Cha Giuse trong bài chia sẻ đã gợi nên cho các tiến chức và cộng đoàn 3 lý do mà Chúa Giêsu đã tha thiết cầu nguyện với Chúa Cha: “Xin cho chúng nên một” trích từ chương 17 Tin Mừng Gioan có tên gọi là “kinh nguyện hiến tế”. Đó là vì Chúa Giêsu muốn môn đệ được kết liên mật thiết với Người; Vì muốn môn đệ được kết nối mật thiết với nhau và vì muốn môn đệ phải kết sinh hoa trái trong đời mục vụ. Đức Cha đã mượn bài thơ của Đức Ông Xuân Ly Băng tặng 17 Tân Linh Mục như lời nhắn nhủ và cầu chúc. “Ngày ngày cầu nguyện chăm chuyên, Tôn thờ Thánh Thể đặt lên hàng đầu. Thánh Kinh phải được đào sâu. Mân Côi kính Mẹ khẩn cầu chớ quên. Chăm lo mục vụ ưu tiên, Tỏa lan đức ái lời khuyên Tin Mừng”.
Quý Tân Linh Mục được thụ phong gồm:
1. Giuse Nguyễn Thanh Cảnh (Gx Thuận Nghĩa)
2. Giuse Nguyễn Anh Lâm (Gx Thanh Hải)
3. FX. Hồ Tấn Tú (Gx Tánh Linh)
4. Step. Bùi Vi Thành (Gx Tinh Hoa)
5. Giuse Trương Văn Hùng (Gx Chính Tòa)
6. G.B Trần Ngọc Linh (Gx Tầm Hưng)
7. Pet. Trần Thiện Khuê (Gx Hòa Thuận)
8. Antôn Trương Ngọc Cảnh (Gx Tánh Linh)
9. Giuse Phạm Hoài Sâm (Gx Hòa Vinh)
10. FX. Nguyễn Phạm Hoài Thương (Gx Ma Lâm)
11. Giacôbê Tống Thành Luyến (Gx Phú Hội)
12. Gioan Maria Vianney Dương Nguyên Kha (Gx Thanh Xuân)
13. Phaolô Nguyễn Bá Huân (Gx Thọ Tràng)
14. Phêrô Nguyễn Minh Triết Gx Vinh Lưu)
15. Tôma Nguyễn Văn Hiệp (Gx Hiệp Đức)
16. Phaolô Hoàng Phương Hoàng (Gx Vinh Thanh)
17. Giuse Lê Văn Linh (Gx Thánh Phaolô)

“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15), lệnh truyền của Chúa Giêsu cho các môn đệ trước khi Ngài lên trời hôm nao được 17 Tân chức chọn làm châm ngôn sống của mình trong sứ mệnh Mục tử và cũng là tinh thần trong Năm Truyền Giáo của Giáo Phận Phan Thiết. Sau phần hiệp lễ, Tân Linh Mục Tôma Nguyễn Văn Hiệp thay mặt 17 Tân Chức dâng lời tri ân Đức Giám Mục, Quý Đức Cha, Cha Tổng đại diện, quý cha Giám đốc và quý cha giáo sư, quý linh mục, tu sĩ, Quý Ân - Thân nhân - bằng hữu và cộng đoàn dân Chúa.

Đây là lần phong chức linh mục đông nhất tại GP Phan Thiết, với con số 17 tân linh mục hôm nay đã nâng tổng số linh mục trong Giáo Phận Phan Thiết lên 122 vị. Xin hiệp lời tạ ơn, và cầu chúc các Tân chức sống hạnh phúc trong hành trình mới trong ân nghĩa Chúa và tình thân của mọi người.

Hồng Hương

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012

NHÀ THỜ PHÚ QUÍ - GIÁO PHẬN PHAN THIẾT

THÁNH LỄ ĐẶT VIÊN ĐÃ XÂY DỰNG NHÀ THỜ TẠI PHÚ QUÍ-GIÁO PHẬN PHAN THIẾT

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2012