Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011

Công bố Sứ điệp Mùa Chay 2011 của Đức Thánh Cha

VietCatholic News (22 Feb 2011 12:41)


VATICAN - ĐTC Biển Đức 16 mời gọi các tín hữu tái khám phá và sống trọn ý nghĩa bí tích Rửa tội, dựa theo hành trình phụng vụ Mùa Chay, và vượt thắng lòng ích kỷ.Trên đây là nội dung Sứ điệp của ĐTC nhân dịp Mùa Chay sắp bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro 9-3 tới đây với chủ đề ”Cùng với Chúa Kitô anh chị em đã được chôn táng trong phép Rửa Tội, và anh chị em cũng được sống lại với Người” (Xc Cl 2,12). Sứ điệp của ĐTC được ĐHY Robert Sarah, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum (Đồng Tâm), và các vị phụ tá, giới thiệu trong cuộc họp báo sáng hôm ngày 22-2-2011, tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh. Hiện diện trên bàn chủ tọa còn có bà Myriam García Abisqueta, Chủ tịch tổ chức bác ái ”Manos Unidas” (Những bàn tay liên kết) tại Tây Ban Nha.Qua Sứ điệp, ĐTC nhắc nhở rằng ”Bí tích Rửa Tội không phải là một nghi thức quá khứ, nhưng là một cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, ảnh hưởng trên toàn thể của sống của người chịu Phép Rửa, mang lại cho họ sự sống thần linh và kêu gọi họ chân thành hoán cải, một cuộc hoán cải được ân thánh khởi sự và nâng đỡ, đưa họ đạt tới tầm mức trưởng thành của Chúa Kitô. Có một mối liên hệ đặc biệt giữa Bí tích Rửa Tội và Mùa Chay như một thời điểm thuận tiện để cảm nghiệm ơn thánh cứu độ”.ĐTC lần lượt trình bày sự trợ giúp của các bài Phúc Âm đọc trong 5 chúa nhật mùa chay, để chúng ta tiến đến một cuộc gặp gỡ đặc biệt nồng nhiệt với Chúa, bằng cách đưa chúng ta tiến qua các giai đoạn trong hành trình khai tâm Kitô giáo: đối với các dự tòng, điều này diễn ra trong viễn tượng nhắm lãnh nhận bí tích tái sinh, và đối với những người đã chịu phép Rửa, để họ đạt tới những bước tiến mới có tính chất quyết định trong hành trình theo Chúa Kitô và hiến thân trọn vẹn hơn cho Chúa”.ĐTC cũng khẳng định rằng: ”Sự dìm mình của chúng ta trong cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô qua bí tích rửa tội, thúc đẩy chúng ta mỗi ngày giải thoát con tim của mình khỏi gánh nặng của những sự vật chất, khỏi mối liên hệ ích kỷ với trần thế này, liên hệ ấy làm cho chúng ta trở nên nghèo nàn và ngăn cản không để chúng ta sẵn sàng và cởi mở đối với Thiên Chúa và tha nhân.. . Qua những việc thực hành truyền thống như ăn chay, làm phúc, cầu nguyện, là những biểu hiệu của sự dấn thân hoán cải, Mùa Chay dạy chúng ta sống tình thương của Chúa Kitô một cách quyết liệt hơn”.”Tóm lại, hành trình Mùa Chay, trong đó chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Mầu Nhiệm Thánh Giá, chính là ”trở nên đồng hình với cái chết của Chúa Kitô” (Pl 3,10), để thực hiện sự hoán cải sâu xa trong đời sống chúng ta, để cho hoạt động của Chúa Thánh Linh tác động, như thánh Phaolô trên đường Damasco; quyết liệt qui hướng cuộc sống chúng ta theo thánh ý Chúa; giải thoát chúng ta khỏi tính ích kỷ, vượt thắng bản năng muốn thống trị người khác và cởi mở đối với tình thương của Chúa Kitô. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để nhìn nhận những yếu đuối của chúng ta, chân thành kiểm điểm cuộc sống để đón nhận ơn thánh canh tân của Bí tích Thống Hối và quyết liệt tiến về cùng Chúa Kitô”.Và ĐTC kết luận rằng: ”Anh chị em thân mến, qua cuộc gặp gỡ bản thân với Đấng Cứu Chuộc chúng ta và qua chay tịnh, làm phúc, cầu nguyện, hành trình hoán cải tiến về Lễ Phục Sinh dẫn đưa chúng ta đến chỗ tái khám phá phép Rửa của chúng ta. Trong Mùa Chay này, chúng ta hãy tái đón nhận Ơn Thánh mà Thiên Chúa ban cho chúng ta trong lúc này, để Ơn Thánh soi sáng và hướng dẫn mọi hành động của chúng ta”.Trong cuộc họp báo, ĐHY Sarah, người Guinea Equatoriale, trình bày một số hoạt động cứu trợ của tổ chức Cor Unum, cơ quan bác ái của ĐTC, đặc biệt trong những tháng gần đây và ĐHY nhấn mạnh rằng: ”tại Haiti, Sahel, Mỹ châu la tinh và Carabí, cũng như tại bất kỳ nơi nào khác trên thế giới cần có một sự cứu giúp cụ thể, Giáo Hội Công Giáo luôn đi hàng đầu trong việc cứu trợ cấp thiết. Bao nhiêu lần, trong những trường hợp thiên tai, chúng ta đã nhe ĐTC kêu gọi sự can thiệp vật chất của cộng đoàn Giáo Hội và quốc tế, không phân biệt tín ngưỡng, chủng tộc hoặc chính kiến!” (SD 22-2-2011)
LM Trần Đức Anh OP

Những Điểm Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Công Giáo Và Cải Cách (Tin Lành)


Từ đầu thế kỷ XX, mọi Kitô hữu, nhất là ở các giáo hội Tây Phương, đã cảm thấy mối đe dọa chính đối với họ không còn đến từ “bọn Thệ Phản” đối với người Công Giáo, hoặc “phe Công Giáo La Mã” đối với những anh em Tin Lành (Protestant). Nhưng nó đã đến từ các chủ thuyết mới xuất hiện như cộng sản chủ nghĩa, quốc gia chủ nghĩa, khoa học chủ nghĩa, phàm tục chủ nghĩa (secularism), khoái lạc chủ nghĩa (hedoism), tình cảm chủ nghĩa, tà đạo chủ nghĩa (cultism) v.v… Những chủ thuyết mới này đã nhanh chóng chứng tỏ rằng chúng có khả năng làm biến đổi đời sống tinh thần cũng như vật chất của con người và trực tiếp đối chọi với những giá trị bất biến của Kitô giáo. Gần đây, lại có những thành phần quá khích của Hồi giáo đã tạo những cuộc khủng bố, hăm dọa sự an toàn của cả thế giới. Do đó, cùng với những nguyên nhân khác, các Kitô hữu (gồm Công Giáo, Chính Thống - Đông Phương, Tin Lành…) đã thấy sự cấn thiết phải ngồi lại với nhau, tạo một lực lượng chung đễ đương đầu với những thách đố mới.

Tuy vẫn có những tương đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành, nhưng các bất đồng đã và đang là trở ngại chính cho mọi nỗ lực hợp nhất. Ở đây, chúng tôi không muốn dùng tiếng “dị biệt” giữa các anh em Kitô, vì không thể có dị biệt giữa những người anh em, con của một Cha chung. Có chăng, chỉ là những bất đồng giai đoạn mà thôi. Tuy nhiên, giảm thiểu hoặc giản dị hóa những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành trong việc diễn giải Kinh Thánh, đã không thể gọi là một hành động nghiêm chỉnh và thành thật. Mặt khác, nếu không công nhận những tương đồng quan trọng giữa các giáo hội Kitô, sẽ bị cho là thiển cận và thiếu công tâm.

NHỮNG TƯƠNG ÐỒNG

Công Giáo và Tin Lành cùng chia sẻ một nhãn quan xuyên qua những sự kiện vật chất để hướng tới những gía trị tinh thần, đồng thời nhắc nhở con người sống cho cả hai cuộc sống đời này cũng như đời sau. Họ cùng tin vào Thiên Chúa và trung thành với Ðức Giêsu Kitô. Cùng công nhận 10 giới răn như lề luật cho mọi hành vi. Cùng tin rằng con người sau khi sa ngã, nếu không có sự giúp đỡ, tự con người không thể tìm được sự cứu rỗi nếu không có Ðấng Cứu Thế. Họ cùng đọc và tôn trọng Kinh Thánh, tuyên xưng cùng một kinh Tin Kính (của công đồng Nicaea) và cầu nguyện cùng một kinh Lạy Cha. Con người được gia nhập đời sống ân sủng và thánh thiện qua bí tích Rửa Tội, Thanh Niên nam nữ Công Giáo và Tin Lành có thể kết hôn với nhau và phép Hôn Phối đã được các giáo hội tôn trọng. Họ cùng mừng chung các lễ Giáng Sinh và Phục Sinh (trừ các giáo hội Chính Thống Ðông Phương), cùng công nhận các giảng huấn của các thánh Tông Ðồ, các văn bản thánh thiện và chia sẻ các bản thánh ca.

Trong sắc lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio) của Công đồng Vatican II, các nghị phụ đã tuyên bố: “Một khi đã được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu phép Rửa Tội, họ (các anh em Tin Lành) đã được tháp nhập vào Chúa Kitô, và vì thế họ có quyền mang danh Kitô hữu, xứng đáng là con cái Chúa và và được giáo hội Công Giáo nhìn nhận là anh chị em trong Chúa.” (Ch.I, đ.3). Về các giáo hội Tin Lành, các nghị phụ cũng đã xác định: “Dù chúng ta tin là họ còn khiếm khuyết, nhưng chính các giáo hội và các cộng đồng tách riêng ấy vẫn chưa trở thành vô nghĩa và vô giá trị trong Mầu Nhiệm Cứu Rỗi. Vì Thánh Thần của Chúa Kitô không khước từ xử dụng họ như những phương tiện cứu rỗi mà năng lực phát xuất từ chính sự sung mãn của Ơn Thánh và Chân Lý đã được ủy thác cho giáo hội Cơng Giáo.” (ibid.)

NHỮNG BẤT ÐỒNG

Người ta có thể chia những bất đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành thành hai loại chính: Những bất đồng căn bản và những bất đồng “tai nạn.”

Các bất đồng tai nạn đã xảy ra theo thời gian và hoàn cảnh địa phương, nhu cầu kỷ luật, biến thiên lịch sử, hội nhập văn hóa mà các giáo hội cảm thấy hữu ích và chấp nhận. Những điều đó đã trở thành cá tính của một giáo hội Tin Lành. Trong trên 300 giáo hội Tin Lành khác nhau, đã không có giáo hội nào hoàn toàn giống giáo hội khác.

Tuy nhiên, chỉ những bất đồng căn bản mới thực sự là những trở ngại chính cho công cuộc hiệp nhất. Các Kitô hữu đã tin rằng con người khi được tạo dựng đã hoàn hảo, nhưng vì xử dụng tự do cách sai lầm nên đã bất tuân lệnh Chúa và sa ngã.

1. Con người sau tội tổ tông (Justification)

Bất đồng đầu tiên giữa Công Giáo và Tin Lành khởi đi từ quan niệm về bản tính của con người sau khi đã sa ngã. Người Công Giáo tin rằng: Sau khi sa ngã, những sung mãn của bản tính và ân sủng của con người đã bị suy yếu. Những ơn Chúa ban cho ông bà Nguyên Tổ trong vườn địa đàng đã bị mất hết. Những ơn đó là ơn siêu nhiên, sự bất tử của thân xác, sự vẹn toàn và không phải đau khổ. Nếu không có ơn Cứu Chuộc, con người sẽ không tự mình tìm đến Nhan Thánh Chúa được. Nhưng bản tính tiên khởi của con người vẫn còn.

Trong khi đó, ông Luther (Lu-Te) lại cho rằng sau khi sa ngã, con người đã mất hết. Tất cả những gì con người làm, kể cả việc thiện, đều gây phiền toái cho Chúa và không có ơn ích gì cả. Sự công chính hóa (justification) chỉ bởi đức tin mà thôi và ơn cứu chuộc là do Chúa ban cách riêng chứ con người không thể tự hưởng bằng những việc lành. Thuyết công chính hóa bởi đức tin đó đã đưa đến ba nguyên tắc khác: Chối bỏ việc con người có lòng muốn tự do (free will), chỉ có công chính hóa ngoại tại, và chối bỏ sự hữu ích của mọi việc thiện.

Ngược lại, người Công Giáo tin rằng con người có toàn quyền xử dụng lòng muốn tự do của mình, ngay cả việc từ chối ơn Chúa ban. Sau khi được công chính hóa toàn diện (bởi đức Tin và Phép Rửa) mọi việc thiện của con người đều nên công trạng. “Ðức tin nếu không có việc làm là đức tin chết.”

2. Ðức tin

Tin Lành: Ðức tin là tác động tối thượng, tin vào Chúa rằng Ngài sẽ cứu ta khỏi hỏa ngục và “che đậy” mọi tội lỗi của ta (Ngài chỉ che đậy chứ tội lỗi vẫn luôn luôn còn). Do đó, đức tin trở nên một hành động của lòng muốn và tình cảm.

Công Giáo: Ðức tin là một sự đồng ý với ơn Chúa mạc khải. Thí dụ: Khi Chúa Kitô nói phép rửa tội thì cần thiết để được cứu rỗi. Chúng ta chấp nhận câu tuyên bố này vì chúng ta tin vào Ngài. Ðức tin đối với người Công Giáo là một hành động của trí khôn.

3. Kinh Thánh

Tin Lành: Kinh Thánh có quyền tôn giáo tối thượng. Không chấp nhận những khẩu truyền kể từ sau thời các thánh Tông Ðồ.

Công Giáo: Chúa Kitô chỉ giảng dạy chứ không viết Kinh Thánh và tự bộ Kinh Thánh đã không được quyền tôn giáo tối thượng. Từ chối khẩu truyền là tự tiện và độc đoán.

Ðối với Tin Lành, mọi người đều có quyền và bổn phận diễn giải Kinh Thánh theo ý mình hiểu. Sự kiện này đã là nguyên nhân đưa đến việc phân chia giữa các giáo hội Tin Lành thành hàng trăm giáo hội khác nhau. Trong khi đó, Công Giáo tin rằng Giáo Hội dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Linh, là cơ quan duy nhất có quyền diễn giải Kinh Thánh. Ðể am tường Kinh Thánh, người ta đã phải thấu hiểu các nguyên ngữ nguyên bản của Kinh Thánh, thần học, lịch sử và khảo cổ học (Archaeology). Do đó, nếu không có những nhà chuyên môn trợ giúp, người ta có thể sẽ không hiểu hoặc hiểu Kinh Thánh cách sai lạc.

4. Quyền bính Ðức Giáo Hoàng

Tin Lành: Giáo hội thì vô hình, những giáo hữu của các giáo hội này chỉ có Chúa biết mà thôi. Ðứng đầu giáo hội là chính Chúa Kitô.

Công Giáo: Chỉ có một giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền do Chúa Kitô khai sáng. Người đứng đầu hữu hình của giáo hội là vị Ðại Diện Chúa Kitô, kế vị thánh Phêrô, là Ðức Giáo Hoàng, là vị Giám Mục thành Roma.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây có nhiều anh em Tin Lành đã tỏ mối thán phục và cảm tình với các ÐHG đặc biệt là Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

5. Những giáo huấn của giáo hội

Tin Lành: Không công nhận giáo hội là một tổ chức thánh thiện có quyền giảng dạy. Ðối với họ, giáo hội chỉ là một tổ chức thân hữu của những người tin vào Chúa Kitô và cùng chia sẻ Lời Chúa.

Công Giáo (và các giáo hội Ðông Phương): Tin Mừng Cứu Rỗi đến với từng cá nhân qua giáo hội với sự bảo đảm không bị sai lầm mà không một Kitô hữu nào dám tự nhận.

6. Các bí tích

Tin Lành: Từ chối tất cả các bí tích, trừ phép Rửa Tội và nghi thức Tiệc Ly, nhưng họ giữ hai điều này vì vâng theo thánh ý Chúa mà thôi. Các phép thống hối (giải tội), thêm sức, truyền chức thánh, hôn phối, và sức dầu bệnh nhân chỉ được giữ như những nghi thức của giáo hội chứ không phải là bí tích.

Về nghi thức tiệc ly (chứ không phải thánh lễ), người Tin Lành từ chối ý nghĩa “của lễ Hi Sinh” và đặt Lời Chúa thành trọng tâm của việc thờ phượng. Vì giáo hội vô hình, lại không có thánh lễ và năm bí tích khác nên chức linh mục cũng trở nên không cần thiết. Tất cả các tín hữu đều là linh mục mà lễ Truyền Chức là phép Rửa Tội. Tuy nhiên, một số người đã được huấn luyện cách đặc biệt, trở thành mục sư để điều hợp cộng đoàn.

Công Giáo: Công nhận tất cả 7 bí tích do Chúa lập ra. Bí tích Thánh Thể gồm cả Lời Chúa, hiến tế hi sinh, và chia sẻ Mình Thánh, chứ không phải chỉ có Lời Chúa mà thôi. Mọi người cùng tham dự vào thiên chức linh mục của Chúa Kitô và là những phần tử của Nhiệm Thể của Ngài. Một số người được ơn gọi đặc biệt làm linh mục để cử hành Hiến Lễ Hi Sinh.

7. Sự Tiền Ðịnh (Predestination)

Tin Lành: Chúa đã chọn một số người vào Thiên Ðàng, còn những người khác bị vào hỏa ngục, dù có ăn ngay ở lành thế nào cũng không thể thay đổi được ý Chúa.

Công Giáo: Hoàn toàn không chấp nhận thuyết này, vì theo đó, con người không còn có lòng muốn tự do, ngược hẳn với tín lý.

Ngoài ra, người Tin Lành còn chối bỏ luyện tội, họ cho rằng sau khi chết, linh hồn hoặc lên thiên đàng, hoặc xuống hỏa ngục mà thôi. Mọi lời cầu nguyện cho kẻ chết đều không có ích gì cả. Họ cũng hủy bỏ việc sùng kính Ðức Mẹ và các Thánh.

NHỮNG HÒA ÐỒNG

Tinh thần hòa giải và hòa hợp hởi đi từ đầu thế kỷ XX đã đưa các giáo hội đến gần nhau hơn, không những chỉ qua lời nói và cử chỉ thân mật bề ngoài, nhưng cả trong thực hành nữa. Những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành đã thực sự được thu hẹp hơn. Ðặc biệt trong những thập niên sau công đồng Vatican II, thánh lễ đã được cử hành bằng các ngôn ngữ địa phương. Nội dung các bài giảng đã được chuẩn bị và chú trọng cách đặc biệt. Phần tham gia của các tín hữu (đáp ca, thánh ca) cũng được để ý và phát triển hơn. Giáo dân đã tham gia nhiều hơn vào các công tác phụng vụ và mục vụ. Ở nhiều nơi, giáo dân đã chịu Mình Thánh qua cả hình Bánh và hình Rượu như linh mục. Các Thày Sáu Vĩnh Viễn, thường là những người đã lập gia đình, được kể vào hàng giáo sĩ và có quyền giảng, rửa tội, ban phép hôn phối và cử hành nghi thức an táng… Một chiều hướng mục vụ đặc biệt dành cho các cặp hôn nhân giữa Công Giáo và Tin Lành cũng đã được đề cập tới.

Mặt khác, đã có nhiều anh em Tin Lành nhìn lại vai trò của Ðức Mẹ trong đời sống của các Kitô hữu cách nghiêm chỉnh hơn. Họ cũng thay đổi nhãn quan về vai trò và quyền bính của Ðức Giáo Hoàng. Các nhà thần học Công Giáo và Tin Lành đã hội họp với nhau và tìm ra rất nhiều lãnh vực tương đồng giữa các giáo hội mà trước đây người ta đã không nghĩ tới.

Sau khi nhấn mạnh rằng phép Rửa Tội “tạo nên mối giây hiệp nhất tất cả những người đã được tái sinh.” (Sắc Lệnh Hiệp Nhất, ibid. III, 22), các nghị phụ công đồng đã khảo sát đời sống Kitô hữu của các anh em Tin Lành: “Ðời sống Kitô hữu của các anh em ấy được nuôi dưỡng bằng Ðức Tin vào Chúa Kitô và được duy trì nhờ ân sủng của phép Rửa Tội và nhờ nghe Lời Chúa; đời sống ấy biểu lộ trong kinh nguyện riêng, trong việc suy niệm Kinh Thánh, trong đời sống gia đình Kitô giáo, trong việc phụng sự của cộng đoàn tụ hợp để ngợi khen Thiên Chúa.” (ibid.)

Với “con cái trong nhà” các nghị phụ đã ân cần nhắc nhở: “Ngày nay, ở nhiều nơi trên thế giới, nhờ Ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, rất nhiều cố gắng nhằm tiến tới hiệp nhất đầy đủ, theo ý muốn của Chúa Giêsu Kitô đang được thực hiện bằng kinh nguyện, lời nói, việc làm, nên Công Ðồng này khuyến khích tất cả mọi người Công Giáo hãy nhận ra những dấu chỉ thời đại, hãy khéo léo tham gia vào công cuộc hiệp nhất này.” (ibid.I,4).

LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Mépu 15/2/2011



Sau 25 tháng thi công, sáng ngày 15/2/2011, Giáo xứ Mépu hân hoan đón chào quí khách từ khắp nơi về dự lễ khánh thành và cung hiến nhà thờ mới, do Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết chủ sự. Có trên 40 Linh Mục trong ngoài Giáo phận cùng đồng tế và đông đảo Tu Sĩ Nam Nữ, giáo dân thuộc các giáo xứ vùng Phương Lâm, Gia Kiệm và Đức Tánh hiệp dâng Thánh lễ tạ ơn.
“Ân huệ tình yêu tuyệt diệu
Trọn đời cảm mến tri ân”
Ý nghĩa của hai câu đối được treo trên cung thánh đã được Đức Cha Giuse quảng diễn trong bài giảng lễ qua ba niềm vui cảm tạ: nhớ ơn các vị tiền bối, vui mừng với ngôi giáo đường mới, nơi Chúa chọn để hiện giữa Dân Người và mời gọi Dân Chúa tiến bước trên cánh đồng truyền giáo. Ngôi giáo đường khang trang này gợi nhớ bao nhiêu công lao của các vị tiền bối đã đang góp công xây dựng giáo xứ này, từ những ngày đầu gian khổ qua bao thăng trầm của lịch sử, cho đến hôm nay giáo xứ trưởng thành. Vui mừng hơn nữa là ngôi thánh đường bao tháng ngày mơ ước đã thành hiện thực, giữa cánh đồng xanh bao la của vùng đất Mépu. Từ đây Thiên Chúa đã có một địa chỉ cố định, khi nhà thờ được cung hiến, dấu hiệu của sự hiện diện của Thiên Chúa trên vùng đất này. Niềm vui cuối cùng là tính truyền giáo của buổi lễ hôm nay, cũng như của cả cộng đoàn giáo xứ Mépu, đang vui sướng khẳng định vị trí của mình nhờ ngôi thánh đường khang trang đẹp đẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho sứ mệnh loan báo Tin Mừng.
Nhà thờ mới có tổng diện tích trên 700 m2, chứa khoảng 600 chỗ ngồi.
Ngược dòng lịch sử, từ năm 1960, nhà thờ Mépu chỉ là một căn nhà lá thô sơ, nơi cố Lm Hoàng Kim Điền quản xứ Huy Khiêm đến dâng thánh lễ hằng tuần cho khoảng 800 giáo dân gốc Quảng Nam, Quảng Trị đến vùng đất Mépu lập nghiệp. Năm 1962, cố Lm Antôn Mai Khắc Cảnh quản xứ tiên khởi xây dựng nhà thờ, nhưng năm 1964 bị đổ nát do chiến tranh, giáo dân tản cư lánh nạn. Sau năm 1975, giáo dân trở về quê cũ, nhưng nhà thờ không còn, muốn dự lễ phải về Võ Đắt, Gia An hay Phương Lâm xa xôi đến trên 20 cây số. Năm 1977, với phong trào kinh tế mới, vùng đất Mépu đón tiếp thêm nhiều gia đình từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên về đây sinh sống. Số giáo dân tăng đến con số trên 1000 người, sinh hoạt tôn giáo trở thành một nhu cầu rất lớn. Từ năm 1990, giáo họ Mépu trực thuộc Giáo xứ Võ Đắt, bà con giáo dân tự động tổ chức các giờ kinh, phụng vụ Lời Chúa. Từ năm 1994, giáo dân Mépu mới được lãnh nhận các bí tích thường xuyên hơn, nhờ sự quan tâm của Cha Hạt trưởng và quí Cha trong vùng. Năm 1997, các thánh lễ chúa nhật và lễ trọng được cử hành trong sân nhà của một giáo dân. Mọi sinh hoạt tôn giáo lúc này vẫn chưa chính thức, vì thế khung nhà tiền chế làm nơi cử hành thánh lễ năm 2000, vừa dựng lên đã bị tháo dỡ. Năm 2006, Giáo Họ Mépu trực thuộc Giáo xứ Võ Xu, Cha Phaolô Nguyễn Văn Hạnh, quản xứ và quí Cha trong Hạt cũng thay nhau đến cử hành các bí tích cho Giáo họ. Tháng 11/2007, Giáo họ Mépu chính thức được công nhận cùng với ban điều hành giáo họ và xúc tiến việc mua đất xây dựng nhà thờ. Năm 2008, khung sắt tiền chế lại được dựng lên làm nhà nguyện tạm, để vừa dâng thánh lễ, học giáo lý và hội họp. Và cuối cùng ngày 12/1/2009, Giáo Họ Mépu hân hoan đón tiếp Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết, trên 20 Linh mục, đông đảo các Nữ Tu và trên 3000 giáo dân từ khắp nơi đến dâng thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Mépu. Và hôm nay trên cánh đồng lúa vàng của xã Mépu, ngôi thánh đường mơ ước đã hoàn thành, một mùa gặt mới đầy hứa hẹn.
Suốt 50 năm trôi qua, với bao thăng trầm, sức sống Mépu đã từng ngày vươn lên, cho đến hôm nay con số giáo dân là 2300 người, gồm Mépu 1, Mépu 2 và Sùng Nhơn. Giáo họ Mépu đã khẳng định được tầm vóc của mình. Vì thế trong niềm hân hoan phấn khởi với ngôi nhà thờ mới, Giáo Họ Mépu đã được Đức Giám Mục Giáo Phận chính thức nâng lên hàng Giáo Xứ với đầy đủ quyền lợi theo Giáo luật kể từ ngày 15/01/2011.
Nhờ lời bầu cử của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Bổn mạng của Giáo Xứ, nguyện chúc Giáo Xứ Mépu phát triển vững mạnh trong sứ mệnh chứng nhân cho Tình Yêu của Thiên Chúa trong cánh đồng lúa Mépu mênh mông.

Thảo Hương

Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Nam Hà, GP Phan Thiết.



“Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả chỉ là uổng công”, 29 tháng thi công vất vả, hôm nay 16/2/2011, Nam Hà cảm nhận được dồi dào hồng ân Chúa qua Thánh Lễ tạ ơn khánh thành và cung hiến nhà thờ mới. Đức Cha Giuse Giám Mục GP Phan Thiết chủ sự Thánh lễ, cùng đồng tế với Ngài có trên 30 Linh Mục và đông đảo Tu sĩ Nam Nữ giáo dân trong và ngoài Giáo Phận.
Khởi đầu thánh lễ, Cha Hạt Trưởng Đức Tánh đã long trọng đọc quyết định nâng giáo họ Nam Hà lên hàng Giáo Xứ.

Chia sẻ niềm vui cùng với Cha Phêrô Hoàng Văn Thinh và giáo xứ Nam Hà, Đức Cha Giuse trong bài giảng lễ đã đưa ra ba lý do: điểm dừng của Nam Hà, ngôi giáo đường mới địa chỉ hiện diện cụ thể của Thiên Chúa, phép lạ trong cánh đồng truyền giáo.
Trên 18 năm lưu lạc với 29 gia đình buổi ban đầu khó khăn, hôm nay Nam Hà đã có điểm dừng, như ngày xưa Ba Vua đã từ phương xa đến và dừng lại ở Bê Lem gặp Chúa Hài Đồng. Ngôi giáo đường mới như địa điểm dừng chân, nơi đây Chúa đã chọn để hiện diện giữa dân Ngài. Từ hôm nay, đây là chỗ Dân Chúa lãnh nhận các bí tích, nơi Thiên Chúa qui tụ Dân Chúa để thi ân giáng phúc, như ngày xưa Chúa Giêsu đã đoái thương đến nhà Ông Gia Kêu, để “hôm nay nhà này được ơn cứu độ”. Nhưng nhà thờ chỉ là chỗ dừng chân để tiếp tục hành trình sứ vụ tông đồ của mỗi Kitô hữu. Vì thế, ngôi giáo đường khang trang nơi vùng đất vốn hoang vu, đã trở thành “phép lạ”. Thiên Chúa đã chọn vùng đất này để hiển linh, như tước hiệu Giáo Xứ đã chọn, vang lên tiếng gọi làm cho “Danh Cha cả sáng”.



Hân hoan đón nhận hồng ân Thiên Chúa hôm nay, vị đại diện giáo xứ đã vui mừng nhìn lại lịch sử của giáo xứ và quá trình xây dựng nhà thờ như sau:
“Vào tháng 03 - 1993 nhà nước đưa dân từ miền Bắc thuộc Tỉnh Nam Hà vào lập nghiệp, trong đó có 29 hộ gia đình công giáo thuộc 2 giáo phận: Bùi Chu và Hà Nội.
Những ngày đầu tiên chúng con gặp rất nhiều khó khăn, rừng núi âm u, đường mòn lầy lội nhà thờ thì xa, nên việc tham dự Thánh lễ ngày chủ nhật cũng bị thất thường, lúc bấy giờ mọi người rất lo lắng và hoang mang về đời sống đạo. Đến tháng 04-1995 thì được Cha Phêrô Nguyễn Đình Sáng phụ trách Giáo xứ Chính Tâm, hướng dẫn quy tụ nhau lại lập thành một giáo khu, trực thuộc Giáo xứ Thánh Tâm. Thời gian sau, giáo khu được phát triển theo ngày tháng, và lấy tên là giáo họ Nam Hà. Trong 3 năm đầu không có nhà thờ, giáo họ chúng con rất lúng túng trong việc tổ chức đọc kinh và chia sẻ lời Chúa tại các tư gia. Đến tháng 12/1995 để thuận lợi cho việc đọc kinh cầu nguyện và cử hành Thánh lễ, giáo họ chúng con có mượn nhà của một giáo dân để làm nơi thờ tự. Đến tháng 01/1996 giáo họ được nhận lễ Chúa Hiển Linh làm bổn mạng và Thánh lễ đầu tiên được cử hành tại ngôi Nhà Tạm này.
Chúng con xin có đôi lời dâng lên Đức Cha Nicola: Vào ngày 23/03/1996 cách đây 15 năm, chúng con được đón Đức cha tại ngôi nhà thờ tạm, lúc bấy giờ giáo dân còn quá ít ỏi, nhưng chúng con cũng được Đức cha thương, hướng dẫn, thăm nom, giúp đỡ, động viên chúng con tiếp tục sống đạo trong miền đất mới. Đến ngày 24/09/1998 Đức cha còn ban cho chúng con một vị chủ chăn là cha Phêrô Hoàng Văn Thinh về quản xứ giáo xứ Thánh Tâm, lúc bấy giờ chúng con có nhiều thuận lợi hơn, cha cho xây lại chung quanh vì trước đây là vách ván, nới rộng 2 bên, nối dài về phần cuối, lúc này nhà nguyện được rộng rãi hơn và Thánh lễ được cử hành thường xuyên.
Chúng con cũng xin có đôi lời dâng lên Đức cha Phaolô: Ngày 15/06/2007 Đức cha có đến thăm động viên và hướng dẫn chúng con xin giấy phép xây nhà thờ. Đến ngày 04/04/2008 được UBND Tỉnh và Sở xây dựng chấp thuận. Ngày 25/06/2008 lễ đặt viên đá đầu tiên do Đức cha Phaolô chủ sự, đến lúc này chúng con vẫn chưa có kinh phí để mua vật liệu. Công việc phải tạm ngưng, cha quản xứ phải tạo mọi điều kiện để ra nước ngoài hồi tháng 06/2008 để tìm kiếm các ân nhân giúp đỡ, tới tháng 09/2008 cha về nước và công việc xây dựng mới được tiến hành, cái khó lại bó cái khôn, lúc đó đất của nhà thờ chỉ có bề ngang 30m, thì có xây dựng xong cũng không thuận lợi cho việc đi lại và rước chung quanh Thánh đường, nên một lần nữa phải tạm dừng, để xin hoán đổi đất. Đến ngày 21/08/2009 mới được UBND Tỉnh và Sở xây dựng chấp thuận cho việc hoán đổi. Hiện nay đất của nhà thờ bề ngang 60m, dài 150m, tổng diện tích là 8.384m2 lúc này thuận tiện cho việc xây cất. Đến ngày 23/09/2008 bắt đầu khai móng. Thời điểm đó đã vào cao điểm mùa mưa, đất thì nằm ngay vị trí trũng nên không thể đào được, cha xứ lại cho ngưng thi công để chờ bớt mưa. Đến ngày 20/06/2010 công trình bắt đầu tiếp tục. Diện tích nhà thờ là 776m2 ngang 22m dài 40m cao 17m. Tháp chuông 26m.
(…)
Đây là một công trình khiêm tốn mà giáo họ chúng con hôm nay đã tạm hoàn thành, và cũng là một ân huệ mà Thiên Chúa đã đoái thương đến cộng đoàn nhỏ bé chúng con.” (trích “Lược sử hình thành xây dựng nhà thờ Nam Hà”, Giuse Vũ Văn Trang, Chủ tịch HĐMVGX Nam Hà)
Sức sống của Nam Hà hôm nay đã thực sự “Hiển Linh”. Nguyện chúc Giáo Xứ Nam Hà ngày càng phát triển mọi mặt để cho Tin Mừng được loan báo trên vùng đất dồi dào cây trái của Huyện Đức Linh.
Bình Nguyên