Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

VUI MỪNG BÁN TẤT CẢ

Lời Chúa: Mt 13,44-52

Hôm ấy, Ðức Giêsu nói với dân chúng dụ ngôn này: “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy. Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy. Nước Trời lại còn giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. Ðến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Anh em có hiểu tất cả những điều ấy không?”

Họ đáp: “Thưa hiểu.”

Người bảo họ: “Bởi vậy, bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ.”

Suy nim:

Tất cả bắt đầu từ một sựtình cờ may mắn.
Người nông dân nghèo phải làm thuê cho điền chủ
tình cờ gặp được kho báu chôn trong ruộng.
Người buôn ngọc tình cờ gặp được viên ngọc tuyệt vời,
có giá trị lớn lao mà người bán không hề biết.
Sau đó phản ứng của cả hai rất giống nhau:
ra đi, bán tất cả những gì mình có và mua...
Không thấy có dấu vết của sự nuối tiếc
hay ngần ngại giằng co.
Tất cả diễn ra thật nhanh
và tràn ngập niềm vui thanh thản.
Ai cũng rõ họ hạnh phúc biết chừng nào
khi chiếm được kho báu và viên ngọc.
Cuộc đời họ chuyển sang một giai đoạn mới.

Thái độ của hai người trênđược coi là bình thường.
Ở địa vị ta, ta cũng làm như thế.
Kho báu và viên ngọc là những thứ thấy được,
có giá trị hiển nhiên và hết sức hấp dẫn.
Chúng hứa hẹn một sự giàu sang mà ai cũng thèm thuồng,
nên người ta dễ bán tất cả để mua được chúng.
Bị ảnh hưởng bởi não trạng hưởng thụ vật chất,
chúng ta thường coi kho báu duy nhất ở đời này
là tiền bạc, quyền uy và khoái lạc.
Khi nói Nước Trời là kho báu bền vững,
Ðức Giêsu là viên ngọc quý đích thực,
chúng ta lại thấy đó là cái gì mơ hồ,
xa xôi, ít lôi cuốn, thậm chí không có thật.
Chính vì thế chúng ta thường ngần ngại khi từ bỏ,
dè sẻ, nuối tiếc khi phải hy sinh cho Chúa.

Vậy vấn đề là khả năng thấy, nhờ lòng tin.
Bản thân tôi có thấy Ðức Giêsu là viên ngọc quý,
và Nước Trời là kho báu không?
Chỉ ai thấy được những thực tại vô hình
và ngây ngất trước giá trị của chúng,
người ấy mới hồn nhiên và vui tươi
đánh đổi tất cả kho báu phù phiếm của đời này
để lấy kho báu bất diệt trên trời (x.Mt 6,20).
Có khi tình cờ, qua một biến cố, một người bạn,
qua một cuốn sách, một đoạn Lời Chúa, một kỳ tĩnh tâm,
tôi chợt gặp Ðức Giêsu như viên ngọc ngời sáng,
hấp dẫn, mời gọi tôi bay lên khỏi cái tôi tầm thường:
tôi có dám bán nỗi đam mê ích kỷ của mình
để mua lấy tình bạn với Ngài không?

Nếu ta còn ngần ngại khi phải bán đi tất cả
thì chỉ vì ta chưa thấy.
Nhưng nếu ta cứ can đảm bán đi,
ắt ta sẽ thấy.
Niềm vui chỉ đến với người dám bán tất cả.

Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,
giàu sang, danh vọng, khoái lạc
là những điều hấp dẫn chúng con.
Chúng trói buộc chúng con
và không cho chúng con tự do ngước lên cao
để sống cho những giá trị tốt đẹp hơn.

Xin giải phóng chúng con
khỏi sự mê hoặc của kho tàng dướiđất,
nhờ cảm nghiệm được phần nào
sự phong phú của kho tàng trên trời.

Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi
bán tất cả những gì chúng con có,
để mua được viên ngọc quý là Nước Trời.

Vàước gì chúng con không bao giờ quay lưng
trước những lời mời gọi của Chúa,
không bao giờ ngoảnh mặt
để tránh cái nhìn yêu thương
Chúa dành cho từng người trong chúng con. Amen.

Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2011

CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN NĂM A

LỜI CHÚA: Mt 13, 1-9
"Kìa, có người gieo giống đi gieo lúa".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Ngày ấy, Chúa Giêsu ra khỏi nhà và đi đến ngồi ở ven bờ biển. Dân chúng tụ tập quanh Người đông đảo đến nỗi Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. Và Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. Người nói:
"Này đây, có người gieo giống đi gieo lúa. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim trời bay đến ăn mất. Có hạt rơi xuống trên đá sỏi, chỗ có ít đất, nó liền mọc lên, vì không có nhiều đất. Khi mặt trời mọc lên, bị nắng gắt, và vì không đâm rễ sâu, nên liền khô héo. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc um tùm, nên nó chết nghẹt. Có hạt rơi xuống đất tốt và sinh hoa kết quả, có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi. Ai có tai thì hãy nghe".
Ðó là lời Chúa.

SUY NIỆM

Cách nay khoảng gần một năm, chính xác là vào ngày 14.07, ủy ban đối ngoại thượng viện Hoa Kỳ đã công bố hơn một ngàn trang tài liệu từng được coi là những “bí mật” về cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Việc công bố những bí mật này, không biết có đem lại điều gì tốt lành cho cuộc sống của con người hôm nay cũng như mai sau hay không ! Thực tế, khi những “bí mật” này được công bố, chỉ thấy khơi lại trong cõi lòng nhiều người những mất mát, những đau thương, những buồn phiền, những uất hận…

Cũng là những điều được cho là “bí mật”, nhưng khi được công bố, nó đã không đưa con người đến những điều tồi tệ, không dẫn con người “đi vào cõi thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc”.

Ngược lại, những bí mật này, khi được công bố, nó đem lại cho con người niềm tin, sự hy vọng, và hơn hết, đó là niềm hạnh phúc có được một sự sống đời đời.

Sẽ có một câu hỏi được đặt ra. Đó là bí mật gì ?

Thưa rằng, hãy trở lại Palestin của hơn hai mươi thế kỷ trước. Trong khung cảnh đầy thơ mộng của Biển Hồ Tiberia, có một người tên là Giêsu, được mọi người quen gọi là Giêsu Nazareth. Tại nơi đây, Đức Giêsu đã công bố một bí mật. Nó không phải là một bí mật thông thường, đại loại như bí mật của các “sao” mà báo chí “lá cải” thường đưa tin. Bí mật mà Đức Giêsu công bố là một bí mật đặc biệt và đã gây chấn động toàn cầu. Đó chính là “Bí Mật Nước Trời”, theo ngôn ngữ Kinh Thánh được quen gọi là “Mầu nhiệm Nước Trời”.

Câu chuyện được kể lại rằng : “Hôm ấy, Đức Giêsu từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ”. Một rừng người vây quanh Ngài. Và cũng như những lần trước. “Ngài dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều”.

Một trong những điều rất quan trọng luôn được Đức Giêsu đề cập đến đó là ân sủng. Phải có ân sủng, phải có “ơn trên” con người mới có thể “hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”(Mt 13, 11).

Không phải hôm nay Đức Giêsu mới nhắc đến “phải có ân sủng, phải có ơn trên”. Vào một đêm nọ, khi Nicôđêmô đến gặp Đức Giêsu để tìm hiểu mầu nhiệm Nước Trời. Đức Giêsu đã nói với ông ta rằng : “Không ai có thể thấy Nước Trời, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”. Vâng, phải có “ơn trên”.

Cũng không phải hôm nay Ngài mới nhắc đến “Nước Trời”. Ngay khi bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã lớn tiếng nói cho mọi người biết rằng, “Nước Trời đã đến gần”. Không chỉ loan báo vu vơ, Đức Giêsu còn khuyến cáo mọi người rằng “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Trời và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

“Nước Trời” không có gì là bí ẩn để mọi người không thể nhận ra. Và mầu nhiệm Nước Trời không phải là “bí mật quốc gia” để mà che dấu cả thế giới.

Qua dụ ngôn “người gieo giống”, Đức Giêsu đã bày tỏ cho mọi người thấy, rằng mầu nhiệm Nước Trời, chẳng phải là điều gì đó xa vời đối với mọi người. Như một người ra đi gieo giống và những hạt giống đó được gieo vào lòng đất. Mầu nhiệm Nước Trời cũng được gieo vào mảnh đất tâm hồn mỗi con người.

Vâng, vấn đề là, tâm hồn con người có mở ra để “nghe Lời và hiểu” về mầu nhiệm Nước Trời, hay tâm lại khép kín và hồn thì chai đá, để rồi “có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy”!!

Đức Giêsu chấm hết dụ ngôn bằng một lời hết sức tế nhị :“Ai có tai thì nghe”. (Mt 13,8).

Một chút tâm tình…

“Ai có tai thì nghe”. Vâng, phụng vụ Lời Chúa hôm nay kêu gọi mọi người “nghe” lại dụ ngôn “người gieo giống”, một hình ảnh rất đời thường. Nhưng trong cái hình ảnh người gieo giống “bình thường” đó, nó lại phảng phất một con người “khác thường”. Con người khác thường đó chính là Đức Giêsu Kitô.

Vâng, Đức Giêsu Kitô, không ai khác, chính là hình ảnh người gieo giống. Ngài đã ra đi gieo những hạt giống “Nước Trời”. Qua Đức Giêsu Kitô, mọi người được nghe Ngài “rao giảng mầu nhiệm Nước Trời”.

Làm sao có thể am hiểu mầu nhiệm Nước Trời khi chưa am hiểu Lời Chúa ! Mà “Lời Chúa” lại chính là những lời “rao giảng Nước Trời” được loan báo bởi chính Đức Giêsu Kitô .

Vì thế, trước hết, phải nhận biết Đức Giêsu Kitô, nghĩa là phải đón nhận Ngài. Và một khi đã đón nhận Đức Giêsu thì sẽ am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô. Am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô sẽ dẫn đến am hiểu mầu nhiệm Nước Trời. Một khi đã am hiểu Nước Trời thì, như lời Đức Giêsu nói : “Ai có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa”.

Cho thêm và dư thừa điều gì ! Phải chăng là “ơn hiểu biết” ?

Thưa đúng vậy. Chính ơn hiểu biết sẽ dẫn đưa đến việc “nghe Lời và hiểu” những lời rao giảng Nước Trời. Và điều tất yếu như lời Đức Giêsu đã giải thích trong dụ ngôn người gieo giống rằng, người đó “tất nhiên sinh hoa kết quả”(Mt 13,23).

”Quả” đó là quả gì !? Thưa chính là, như lời tông đồ Phaolô đã nói rằng, sẽ “được cùng thừa kế gia nghiệp… cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa ban” (Ep 3,6).

Điều Thiên Chúa hứa ban chính là “Nước Trời” và một cuộc sống đời đời.

Một chút suy tư…

“Ai có tai thì nghe”. Vâng, chúng ta đã “nghe” dụ ngôn người gieo giống” được bao nhiêu lần ? Mới lần đầu ! Mười lần ! Hai mươi lần !

Dù chúng ta đã nghe bao nhiêu lần đi chăng nữa, nhưng nó sẽ chẳng ích lợi gì, nếu chúng ta “nghe mà không hiểu”. Và một khi không hiểu Lời Chúa dạy thì làm sao chúng ta có thể đem ra thực hành !

Phải chăng Lời Chúa khó hiểu ? Hay chúng ta làm bộ không hiểu ? Chúng ta làm bộ không hiểu, không phải vì chúng ta không hiểu, nhưng rất có thể chúng là cố tình không muốn hiểu.

Và một điều quan trọng không kém, đó là, đôi khi chúng ta nghe Lời Chúa, nhưng “không sinh ích gì cho chúng ta” bởi vì tuy đã nghe, nhưng chúng ta, như lời tông đồ Phêrô đã nói : “không lấy đức tin đáp lại lời giảng” (Dt 4,…2).

Câu chuyện dụ ngôn người gieo giống đã được Đức Giêsu giải thích quá rõ ràng. Vâng, đừng nói là khó hiểu, nhưng hãy tự hỏi lòng mình rằng, mảnh-đất-tâm-hồn-của-tôi thuộc loại nào trong bốn loại đất đã được Đức Giêsu nêu trong dụ ngôn người gieo giống !?

Mảnh đất bên vệ đường ư ! Hay là mảnh đất chỉ toàn sỏi đá ! Có phải là mảnh đất đầy gai góc ! Hay mảnh đất tốt chính là mảnh đất tâm hồn của tôi ?

Dĩ nhiên là không ai trong chúng ta lại mong muốn mảnh đất tâm hồn của mình thuộc ba mảnh đất “xấu” nêu bên trên. Thế nhưng, chắc hẳn chúng ta sẽ băn khoăn và tự hỏi rằng : làm thế nào để mảnh đất tâm hồn mình thuộc loại “mảnh đất tốt” !

Đức Giêsu đã trả lời băn khoăn đó cho chúng ta. Chỉ cần thực hiện bốn chữ mà thôi, “nghe Lời và hiểu”. Hãy chú ý ! Chữ “Lời” viết hoa trong Kinh Thánh đồng nghĩa với chữ “Chúa”. Vâng, phải “nghe Chúa và hiểu lời Chúa dạy”.

Một câu chuyện trong sách Samuel được kể lại rằng : “Samuel đang ngủ trong đền thờ Đức Chúa. Nơi có đặt hòm bia Thiên Chúa”(1Sm3,3). Chúa gọi Samuel, thế mà ông ta lại tưởng thầy của mình là Êli gọi. Ba lần Chúa gọi nhưng Samuel vẫn không nhận ra. Chỉ đến khi thầy Êli “hiểu là Đức Chúa gọi” và dạy cho Samuel cách trả lời. Samuel mới “hiểu” và mới có thể nhận ra lời Chúa phán dạy cho mình.

Qua câu chuyện được kể trên, không thể phủ nhận rằng, sự thiếu hiểu biết về lời Chúa chính là rào cản để chúng ta đến với Chúa. Hay nói đúng hơn sự thiếu hiểu biết lời Chúa đã ngăn cản chúng ta nhận ra “mầu nhiệm Nước Trời”.

Một điều chắc rằng, chúng ta sẽ không thể “hiểu lời Chúa dạy” nếu không đọc và học hỏi Lời Chúa hàng ngày. Đừng nghĩ rằng chỉ các linh mục hay các tu sĩ mới phải “đọc Lời Chúa” mỗi ngày.

Hãy nhìn cộng đoàn dân Chúa ở Beroia năm xưa, họ chính là mẫu mưc cho chúng ta hôm nay về việc đọc và học hỏi Lời Chúa.

Tác giả Công Vụ Tông Đồ đã thuật lại việc đó như sau : “Những người Do Thái ở đây cởi mở hơn những người ở Thesalonica : họ đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh để xem có đúng như vậy không” (Cv 17,11).

Nếu chúng ta “đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh”. Vâng, chắc chắn rằng, mảnh đất tâm hồn của chúng ta sẽ là “mảnh đất tốt” và hãy tin rằng, chúng ta sẽ được ơn : ”hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”.

Petrus.tran

Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011

Cn V PS : Đừng Bối Rối !


Thế giới chúng ta đang sống, có thể nói rằng, quả là một thế giới quá nhiều âu lo và sợ hãi. Âu lo và sợ hãi bởi sự khủng hoảng kinh tế, bởi nạn thất nghiệp tràn lan, bởi đạo đức băng hoại, bởi sự tiềm ẩn của những mối đe dọa chiến tranh và khủng bố, cuối cùng là bởi tội lỗi ngày một gian ác, ngày một gia tăng.
Nhìn vào những thực trạng trên, hỏi rằng, cuộc sống của chúng ta, làm sao ít nhiều không bị ảnh hưởng. ! Hỏi rằng, cuộc sống của chúng ta, làm sao ít nhiều không khỏi bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
…..
Bàng hoàng, lo lắng và bối rối cũng chính là điều mà các môn đệ của Đức Giêsu xưa kia từng đối mặt. Ba năm theo Thầy Giêsu, mỗi khi đối diện với những vấn đề nan giải, các môn đệ cũng không thoát khỏi tâm trạng bàng hoàng, lo lắng và bối rối.
Một trong những những nan đề dẫn đến sự bàng hoàng, lo lắng và bối rối trầm trọng nhất trong ba năm theo Thầy Giêsu chính là những sự kiện đã xảy ra vào buổi chiều của bữa tiệc ly.
…….
Hãy trở về Giêrusalem của hơn hai ngàn năm trước. Chúng ta sẽ thấy điều gì đã xảy ra ! Điều gì đã khiến cho các môn đệ phải bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
Vâng, đó là một buổi chiều của những tin tức xấu, những tin tức buồn.
Một buổi chiều của bàng hoàng. Bàng hoàng vì một kẻ trong nhóm mười hai “sẽ nộp Thầy Giêsu”.
Một buổi chiều của những nỗi “buồn hiu hắt buồn”. Buồn vì có một người sẽ “chối Thầy Giêsu ba lần”.
Một buổi chiều của lo lắng và bối rối. Lo lắng và bối rối vì Thầy Giêsu chỉ “còn ở với (các môn đệ) một ít lâu nữa thôi”.
Hãy thử tưởng tượng, trong ba năm qua, các môn đệ đã bỏ hết mọi sự, nghề nghiệp, cuộc sống gia đình để theo Thầy Giêsu, với tất cả niềm tin và lòng phó thác. Họ đã có một cuộc sống an tâm bên cạnh Ngài. Khi thiếu bánh ăn, Thầy Giêsu hóa bánh ra nhiều. Khi gặp phong ba bão táp, Thầy Giêsu giải cứu họ. Khi cần, Thầy Giêsu dạy dỗ họ…
Thế mà hôm nay, Thầy Giêsu lại nói : “Nơi Thầy đi, các con không thể đến được”…
Chuyện là như thế đấy !
Hỏi sao các môn đệ không bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
Hỏi sao ông Simon Phêrô lại không hỏi ; “Thầy đi đâu ? Sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ?”
Hỏi sao ông Tôma lại không thắc mắc với Thầy của mình rằng : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường” !
Nếu những lần trước, Đức Giêsu đã hóa giải sự lo lắng và bối rối trước những nan đề mà các môn đệ đã phải đối mặt, bằng những phép lạ tỏ tường. Thì hôm nay, chỉ cần đôi lời đàm đạo. Ngài đã xua tan những lo lắng và bối rối của các ông.
Qua những lời đàm đạo, Thầy Giêsu không chỉ hé mở cho các môn đệ thấy nơi các ông sẽ đến, nhưng Ngài còn vẽ ra một “sinh lộ” cho cuộc hành trình các ông sẽ phải đi qua. Một cuộc hành trình đi về “Nhà Cha”. Nơi mà Thầy Giêsu sẽ đi trước để “dọn chỗ” cho các môn đệ của Ngài. Để Thầy Giêsu ở đâu thì các môn đệ của Ngài “cũng ở đó”.
Sau phần đàm đạo giữa Thầy và trò. Có phần chắc, các môn đệ thấu hiểu và tin tưởng vào lời Đức Giêsu đã nói : “Anh em đừng bối rối ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1).
Một chút tâm tình…
Trong cuộc đàm đạo. Ông Philipphe có nói với Đức Giêsu “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”.
Đức Giêsu trả lời: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”. Và rằng “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,9…11)
Vâng, Có thể ví rằng, câu trả lời của Đức Giêsu như một “chiếc cầu treo” nối kết “Trời và Đất”. Nó đã phá vỡ sự ngăn cách giữa con người và Thiên Chúa, Sự ngăn cách mà xưa kia nguyên tổ Adam và Eva đã gây ra.
Tất cả những lời đàm đạo giữa Chúa Giêsu với các môn đệ trong bữa tiệc ly năm xưa, có thể được tóm gọn trong lời Ngài đã khẳng định với Tôma rằng : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”(Ga 14,6).
Không có dấu hiệu cho thấy các môn đệ nghi ngờ lời khẳng định trên của Chúa Giêsu. Bởi nếu các ông nghi ngờ, thì sau này làm gì có chuyện “Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giêrusalem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin” (Cv 6,7).
Một phút suy tư…
Cuộc đời thường được ví như một con đường. “Đường đời”. Và phải chăng, đường đời chúng ta đi cũng không thiếu những âu lo phiền muộn, những lo lắng và bối rối !
Đúng vậy, trong hoàn cảnh riêng tư của cuộc đời, sẽ có lúc chúng ta cũng lo lắng và bối rối trước một nan đề nào đó.
Một cơn cám dỗ bội phản lời thề thủy chung !
Trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính !
Trước sự bắt bớ của bạo quyền !
Chúng ta sẽ làm gì để vượt qua sự sợ hãi, sự lo lắng và bối rối !
Phải chăng là “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Vâng, thông điệp này không chỉ dành riêng cho các môn đệ của Đức Giêsu năm xưa. Nó cũng dành cho chúng ta là những Kitô hữu hôm nay.
Tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy ! Phải chăng chính là hãy tin Đức Giêsu, Ngài chính là “con đường, là sự thật và là sự sống” !?
Các môn đệ đã tin. Vâng, họ đã tin Đức Giêsu chính là con đường đời của họ. Một con đường dẫn đến sự thật và có sự sống đời đời.
Giáo Hội tiên khởi, bất chấp ba trăm năm “hầm trú”, bị bắt bớ, cũng đã tin như thế.
Còn chúng ta ! Chúng ta tin !
Nếu chúng ta tin, chẳng có gì phải lo lắng và bối rối trước cơn cám dỗ bội phản lời thề thủy chung. Hãy mặc lấy tư tưởng ông Giuse, “từ chối, không chịu nghe… chạy trốn và ra ngoài” (St 38, 7…12)
Nếu chúng ta tin ! Trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính ư ! Hãy nhớ rằng “Tất cả mọi sự chỉ là phù vân”.
Sự bắt bớ của bạo quyền ư ! Hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã nói : “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28).
“Anh em đừng bối rối ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Hãy tin. Bởi có tin vào Thiên Chúa “bất cứ điều gì chúng ta nhân danh Ngài mà xin… thì chính Ngài sẽ làm điều đó” cho chúng ta.
Vâng, Lạy Chúa ! Xin Ngài cất đi những lo lắng và bối rối trong cuộc sống của chúng con. Amen.
Petrus.tran.

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011

GIÁO LÝ MÙA CHAY


Tuesday, 08 March 2011 17:30 LĐCGVN-HK

1/ Mùa Chay là gì? Mùa Chay kéo dài bao nhiêu ngày, bắt đầu và kết thúc vào ngày nào? Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô. Mùa Chay kéo dài 40 ngày, bắt đầu từ thứ Tư Lễ Tro và kết thúc thứ Bảy Tuần Thánh.

2/ Kinh Thánh cho ta biết con số 40 ám chỉ những biến cố lớn nào? Con số 40 (ám chỉ) gợi nhớ 40 năm dân Do Thái Vượt Qua trong sa mạc tiến về Đất Hứa (Ds 14,33; 32,13), lụt Hồng Thủy kéo dài 40 đêm ngày (St 7) và cuộc chay tịnh 40 đêm ngày của Chúa Kitô trong rừng vắng trước khi rao giảng ơn cứu độ (Mt 4,2; Lc 4,1-2). Các Giáo Phụ cũng coi thời gian giữ chay tương tự thời gian bốn mươi ngày ông Mô-sê ở trên núi Xi-nai (Xh 34,28), hoặc bốn mươi ngày ông Ê-li-a chạy trốn ở núi Kho-rép (1V 19,8)...

3/ Mùa Chay có mấy đặc tính? Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô, và nhất là nhớ lại hoặc dọn mình lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy. Mùa Chay còn là mùa chuẩn bị các tín hữu cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua bằng sự nhiệt thành nghe Lời Chúa và chuyên chăm cầu nguyện mỗi ngày.

4/ Mùa Chay mang ý nghĩa gì? Mùa Chay là thời kỳ sám hối, cầu nguyện: Hội Thánh kêu gọi mọi người quay về với Chúa, thanh tẩy tâm hồn, từ bỏ các tật xấu, hy sinh hãm mình và làm việc bác ái. Mùa Chay cũng là thời gian huấn luyện đức tin của các Kitô hữu cho thêm vững mạnh, và sâu xa hơn khi nhớ lại Bí tích Rửa Tội đã lãnh nhận. Mùa Chay còn là mùa chuẩn bị cho anh chị em dự tòng đón nhận sự sống thiêng liêng nhờ việc sống tinh thần của Bí tích Rửa Tội. 5/ Chủ đề Sứ điệp Mùa Chay năm 2011 của Đức Thánh Cha là gì? Sứ điệp năm nay có chủ đề “Cùng với Chúa Kitô anh chị em đã được chôn táng trong phép Rửa Tội, và anh chị em cũng được sống lại với Người” (Xc Cl 2,12). 6/ Trong sứ điệp Mùa Chay năm 2011, Đức Thánh Cha chỉ ra đâu là điểm giúp hướng dẫn hành trình Mùa Chay? “Để nghiêm túc bắt đầu hành trình tiến về Lễ Phục Sinh và chuẩn bị cử hành sự sống lại của Chúa - là lễ vui mừng và trọng đại nhất trong toàn năm phụng vụ - thử hỏi có gì thích hợp hơn là để cho Lời Chúa dẫn dắt?” 7/ Bốn phương thế Hội Thánh quen dùng trong Mùa Chay là gì? Bốn phương thế Hội Thánh quen dùng trong Mùa Chay là: sám hối, ăn chay hãm mình, cầu nguyện và làm các việc bác ái. 8/ Sám hối là gì? Sám hối là can đảm và khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm mình đã phạm. 9/ Việc chay tịnh giúp con người ra sao? Qua việc chay tịnh, con người nhìn nhận mình lệ thuộc Thiên Chúa, vì chính lúc không sử dụng lương thực Chúa ban, con người mới cảm nghiệm được tính cách bấp bênh của sức lực mình. Hơn nữa, ăn chay là muốn bày tỏ cùng Thiên Chúa rằng: Nếu không có Người, chúng ta không thể làm gì được; và qua việc thực lòng nhìn nhận tính cách hư vô của mình, con người khẩn cầu Chúa tha thứ. 10/ Theo luật Hội Thánh, đến tuổi nào thì buộc phải giữ chay và kiêng thịt? Theo luật Hội Thánh, mọi người từ tuổi thành niên (tức là 18 tuổi trọn; GL 97) cho đến khi bắt đầu 60 tuổi thì buộc phải giữ chay (GL 1252 ). Còn luật kiêng thịt buộc những người từ 14 tuổi trọn trở lên. 11/ Giáo Hội buộc ta phải giữ chay và kiêng thịt vào những ngày nào? Giáo Hội buộc ta phải giữ chay và kiêng thịt vào hai ngày thứ Tư Lễ Tro và ngày thứ Sáu Tuần Thánh (x. GL 1251). Việc chay tịnh của Hội Thánh vào hai ngày này nói lên ý muốn đền tội và từ bỏ tội lỗi và đó cũng là một sự chuẩn bị để mừng lễ Phục Sinh. 12/ Phụng vụ ngày thứ Tư Lễ Tro gợi lên cho tín hữu những gì? Phụng vụ ngày thứ Tư Lễ Tro gợi lên cho tín hữu ý thức về thân phận thụ tạo tội lỗi của mình. Khi nhận tro rắc lên đầu, tín hữu được nhắc nhớ: “hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. 13/ Tại sao Chúa nhật thứ VI Mùa Chay được gọi là Chúa nhật Lễ Lá? Chúa nhật bắt đầu Tuần Thánh gọi là Chúa nhật Lễ Lá, vì có cuộc kiệu lá để kỷ niệm việc Chúa Giêsu long trọng tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem để hoàn tất Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người. Tục lệ này khởi đầu tại Giê-ru-sa-lem vào cuối thế kỷ thứ IV. 14/ Nghi thức làm phép lá và rước lá nhắc nhở chúng ta điều gì? Nghi thức làm phép lá và rước lá nêu cao vương quyền của Đức Kitô, đồng thời để giúp chúng ta sống lại cảnh tượng Chúa Kitô khải hoàn tiến vào Giê-ru-sa-lem. Người muốn tỏ uy quyền và vinh quang của Người để chúng ta bền vững, tin tưởng và trung thành với Người. 15/ Tuần Thánh là gì? Tuần Thánh là tuần lễ chủ yếu của năm Phụng vụ, bắt đầu từ Chúa nhật Lễ Lá đến Chúa nhật Phục Sinh. 16/ Trong tuần Thánh, Giáo Hội cử hành những cuộc tưởng niệm nào? Trong Tuần Thánh, Giáo Hội cử hành cách đặc biệt hơn các biến cố trong những ngày cuối cùng của Chúa Giêsu, tức là cuộc khổ nạn, cái chết và sự Phục Sinh của Người. Trong tuần lễ này, Tam Nhật Vượt Qua là những ngày quan trọng nhất. 17/ Hằng năm, người Do Thái mừng lễ Vượt Qua để làm gì? Hằng năm người Do Thái mừng lễ Vượt Qua để tưởng nhớ lại biến cố Vượt Qua Biển Đỏ mà ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa đã yêu thương giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, và nhắc nhở họ phải sống xứng đáng là dân riêng của Chúa. 18/ Hội Thánh cử hành Tam Nhật Vượt Qua với mục đích nào? Hội Thánh cử hành Tam Nhật Vượt Qua để cho ta thấy trước và sống trước những thực tại của ngày cánh chung, ngày mà Chúa Kitô sẽ tập hợp tất cả chúng ta lại trong Nước của Cha Người. Mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Giêsu đã khơi mào và bảo đảm cho ta được hưởng ngày hồng phúc ấy. Hơn nữa, Hội Thánh dùng Tam Nhật Vượt Qua để đón nhận những con cái mới được sinh ra trong ân sủng, để giao hòa những hối nhân và canh tân đời sống những người đã được thanh tẩy. 19/ Tam Nhật Vượt Qua có ý nghĩa gì đối với Kitô hữu? Tham dự Tam Nhật Vượt Qua, tín hữu được sống với Đức Kitô trong bữa Tiệc Ly, theo Người lên Núi Sọ, bước vào chốn an nghỉ của Người và chiêm ngắm Người Phục Sinh vinh hiển. 20/ Tại sao Tam Nhật Vượt Qua lại là trung tâm điểm của Phụng vụ Kitô giáo? Tam Nhật Vượt Qua là trung tâm điểm của Phụng vụ Kitô giáo, bởi vì tất cả nền Phụng vụ của Hội Thánh đều phát xuất từ mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô: khổ nạn, chịu chết và phục sinh. Ngày Chúa Phục Sinh là ngày lễ Mẹ của mọi ngày Chúa nhật trong năm; Thánh Lễ nào cũng đều tưởng niệm và tái diễn công cuộc Vượt Qua của Đức Kitô. 21/ Trong ngày thứ Năm Tuần Thánh, Hội Thánh cử hành những nghi thức long trọng nào? Thánh Lễ Truyền Dầu được cử hành vào ban sáng do Đức Giám mục Giáo phận chủ tế cùng với Linh mục đoàn để làm phép dầu Bệnh Nhân, dầu Dự Tòng và để thánh hiến Dầu Thánh. Thánh lễ tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu được cử hành ban chiều để nhắc nhớ việc Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể. Thánh lễ này khai mạc Tam Nhật Vượt Qua. 22/ Phụng vụ chiều thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội tưởng niệm những biến cố gì? Trước hết là tưởng niệm bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu, việc Ngài thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức Linh mục, cũng như nghi thức rửa chân, biểu tượng tình yêu phục vụ của Đức Kitô. 23/ Khi cử hành nghi thức rửa chân, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta điều gì? Chính vì yêu thương mà Chúa Giêsu đã hạ mình xuống rửa chân cho các môn đệ, như đầy tớ rửa chân cho chủ. Qua nghi thức này, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta phải noi gương Đức Kitô trong tinh thần phục vụ: “Phục vụ vì yêu thương”. 24/ Kinh Thánh cho ta biết tâm trạng của Chúa Giêsu trong vườn Ghết-xê-ma-ni thế nào? Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giêsu cảm thấy sợ sệt, buồn rầu và xao xuyến. Người đã xin Chúa Cha cho khỏi qua giờ đau khổ, khỏi phải uống chén đắng này. Tuy nhiên, dầu sợ hãi, Người cũng sẵn sàng chết, nếu đó là Thánh ý Chúa Cha: “nhưng xin đừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha”. 25/ Chén đắng mà Chúa Giêsu xin Chúa Cha cho Ngài khỏi uống ám chỉ điều gì? Chén đắng ở đây ám chỉ những thử thách và những đau khổ mà Đức Giêsu sắp phải chịu. Đó chính là cuộc thương khó của Ngài. 26/ Trọng tâm của việc cử hành chiều ngày thứ Sáu Tuần Thánh là gì? Tại sao? Trọng tâm của việc cử hành chiều thứ Sáu Tuần Thánh là nghi thức suy tôn và kính thờ Thánh Giá, vì nhờ Thánh Giá mà ơn cứu độ được ban cho chúng ta. 27/ Trên Thập Giá, Đức Giêsu đã nói những lời nào? Lời thứ nhất: Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha xin Người tha cho những kẻ làm khổ mình: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34); Lời thứ hai: Đức Giêsu chấp nhận lời xin của tên trộm bị đóng đanh cùng: “Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng” (Lc, 23, 43); Lời thứ ba: Đức Giêsu trao gửi Thánh Gioan cho Đức Mẹ: “Thưa Bà, đây là Con Bà” (Ga 19,26); Lời thứ bốn: Đức Giêsu trao gửi Đức Mẹ cho Thánh Gioan: “Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,27); Lời thứ năm: Đức Giêsu than thở với Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con!” (Mt 27, 46); Lời thứ sau: Đức Giêsu phó thác linh hồn cho Chúa Cha: “Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn Con trong tay Cha” (Lc 23, 46); Lời thứ bảy: Đức Giêsu kêu khát và sau khi uống chút giấm chua, Đức Giêsu nói: “Thế là mọi sự đã hoàn tất”. Rồi Người tắt thở. (Ga 19, 30). 28/ Khi chết trên Thập Giá, Đức Kitô muốn nói với chúng ta điều gì? Đức Kitô muốn nói rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng: “Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình vì người mình yêu” (Ga 15, 13). 29/ Tại sao gọi tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu cứu chuộc? Chúng ta gọi tình yêu của Thiên Chúa là tình yêu cứu chuộc vì qua hy lễ của Đức Kitô, tình yêu Thiên Chúa giải thoát loài người khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. (Rm 5, 8). 30/ Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu chết trên Thập Giá, chúng ta phải có những thái độ nào? Suy tôn: vì Chúa đã chiến thắng sự chết; Cảm phục: vì Chúa đã hy sinh chịu chết; Cảm mến: vì Chúa đã dùng cái chết để tỏ lòng yêu thương ta; Tri ân: vì Chúa đã chịu chết để chuộc tội cho ta; Ngưỡng mộ: vì Chúa muốn chúng ta noi theo Người: “Ai muốn theo Ta, thì hãy bỏ mình và vác thập giá mình mà theo”; Vì thế, chúng ta giục lòng ăn năn tội và quyết tâm sống mỗi ngày đẹp lòng Chúa hơn. 31/ Ngày thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội muốn chúng ta làm gì? Ngày thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng với Mẹ Maria cầu nguyện bên Mồ Chúa, cùng Người suy ngắm các đau khổ, cái chết và việc mai táng của Chúa Giêsu trong niềm hy vọng và tin tưởng. 32/ Trên hình Thánh Giá ở cây nến Phục Sinh, Linh mục ghim năm hạt hợp hương mang ý nghĩa gì? Trên hình Thánh Giá ở cây nến Phục Sinh, năm hạt hợp hương chính là biểu tuợng năm dấu đanh của Chúa Giêsu (dấu đanh trên cổ tay trái, dấu đanh trên cổ tay hữu, dấu đanh trên cổ chân trái, dấu đanh trên cổ chân phải, và dấu đanh bên cạnh sườn của Chúa Giêsu). 33/ Dấu Thánh Giá mang ý nghĩa gì? Thánh Giá là dấu chỉ của sự cứu độ. Khi làm dấu Thánh giá, chúng ta nhận biết mình thuộc về Chúa Kitô và bày tỏ niềm tin vào Chúa Kitô, Đấng đã chết trên Thánh giá để cứu chuộc chúng ta.

Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011

Công bố Sứ điệp Mùa Chay 2011 của Đức Thánh Cha

VietCatholic News (22 Feb 2011 12:41)


VATICAN - ĐTC Biển Đức 16 mời gọi các tín hữu tái khám phá và sống trọn ý nghĩa bí tích Rửa tội, dựa theo hành trình phụng vụ Mùa Chay, và vượt thắng lòng ích kỷ.Trên đây là nội dung Sứ điệp của ĐTC nhân dịp Mùa Chay sắp bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro 9-3 tới đây với chủ đề ”Cùng với Chúa Kitô anh chị em đã được chôn táng trong phép Rửa Tội, và anh chị em cũng được sống lại với Người” (Xc Cl 2,12). Sứ điệp của ĐTC được ĐHY Robert Sarah, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum (Đồng Tâm), và các vị phụ tá, giới thiệu trong cuộc họp báo sáng hôm ngày 22-2-2011, tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh. Hiện diện trên bàn chủ tọa còn có bà Myriam García Abisqueta, Chủ tịch tổ chức bác ái ”Manos Unidas” (Những bàn tay liên kết) tại Tây Ban Nha.Qua Sứ điệp, ĐTC nhắc nhở rằng ”Bí tích Rửa Tội không phải là một nghi thức quá khứ, nhưng là một cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, ảnh hưởng trên toàn thể của sống của người chịu Phép Rửa, mang lại cho họ sự sống thần linh và kêu gọi họ chân thành hoán cải, một cuộc hoán cải được ân thánh khởi sự và nâng đỡ, đưa họ đạt tới tầm mức trưởng thành của Chúa Kitô. Có một mối liên hệ đặc biệt giữa Bí tích Rửa Tội và Mùa Chay như một thời điểm thuận tiện để cảm nghiệm ơn thánh cứu độ”.ĐTC lần lượt trình bày sự trợ giúp của các bài Phúc Âm đọc trong 5 chúa nhật mùa chay, để chúng ta tiến đến một cuộc gặp gỡ đặc biệt nồng nhiệt với Chúa, bằng cách đưa chúng ta tiến qua các giai đoạn trong hành trình khai tâm Kitô giáo: đối với các dự tòng, điều này diễn ra trong viễn tượng nhắm lãnh nhận bí tích tái sinh, và đối với những người đã chịu phép Rửa, để họ đạt tới những bước tiến mới có tính chất quyết định trong hành trình theo Chúa Kitô và hiến thân trọn vẹn hơn cho Chúa”.ĐTC cũng khẳng định rằng: ”Sự dìm mình của chúng ta trong cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô qua bí tích rửa tội, thúc đẩy chúng ta mỗi ngày giải thoát con tim của mình khỏi gánh nặng của những sự vật chất, khỏi mối liên hệ ích kỷ với trần thế này, liên hệ ấy làm cho chúng ta trở nên nghèo nàn và ngăn cản không để chúng ta sẵn sàng và cởi mở đối với Thiên Chúa và tha nhân.. . Qua những việc thực hành truyền thống như ăn chay, làm phúc, cầu nguyện, là những biểu hiệu của sự dấn thân hoán cải, Mùa Chay dạy chúng ta sống tình thương của Chúa Kitô một cách quyết liệt hơn”.”Tóm lại, hành trình Mùa Chay, trong đó chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Mầu Nhiệm Thánh Giá, chính là ”trở nên đồng hình với cái chết của Chúa Kitô” (Pl 3,10), để thực hiện sự hoán cải sâu xa trong đời sống chúng ta, để cho hoạt động của Chúa Thánh Linh tác động, như thánh Phaolô trên đường Damasco; quyết liệt qui hướng cuộc sống chúng ta theo thánh ý Chúa; giải thoát chúng ta khỏi tính ích kỷ, vượt thắng bản năng muốn thống trị người khác và cởi mở đối với tình thương của Chúa Kitô. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để nhìn nhận những yếu đuối của chúng ta, chân thành kiểm điểm cuộc sống để đón nhận ơn thánh canh tân của Bí tích Thống Hối và quyết liệt tiến về cùng Chúa Kitô”.Và ĐTC kết luận rằng: ”Anh chị em thân mến, qua cuộc gặp gỡ bản thân với Đấng Cứu Chuộc chúng ta và qua chay tịnh, làm phúc, cầu nguyện, hành trình hoán cải tiến về Lễ Phục Sinh dẫn đưa chúng ta đến chỗ tái khám phá phép Rửa của chúng ta. Trong Mùa Chay này, chúng ta hãy tái đón nhận Ơn Thánh mà Thiên Chúa ban cho chúng ta trong lúc này, để Ơn Thánh soi sáng và hướng dẫn mọi hành động của chúng ta”.Trong cuộc họp báo, ĐHY Sarah, người Guinea Equatoriale, trình bày một số hoạt động cứu trợ của tổ chức Cor Unum, cơ quan bác ái của ĐTC, đặc biệt trong những tháng gần đây và ĐHY nhấn mạnh rằng: ”tại Haiti, Sahel, Mỹ châu la tinh và Carabí, cũng như tại bất kỳ nơi nào khác trên thế giới cần có một sự cứu giúp cụ thể, Giáo Hội Công Giáo luôn đi hàng đầu trong việc cứu trợ cấp thiết. Bao nhiêu lần, trong những trường hợp thiên tai, chúng ta đã nhe ĐTC kêu gọi sự can thiệp vật chất của cộng đoàn Giáo Hội và quốc tế, không phân biệt tín ngưỡng, chủng tộc hoặc chính kiến!” (SD 22-2-2011)
LM Trần Đức Anh OP

Những Điểm Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Công Giáo Và Cải Cách (Tin Lành)


Từ đầu thế kỷ XX, mọi Kitô hữu, nhất là ở các giáo hội Tây Phương, đã cảm thấy mối đe dọa chính đối với họ không còn đến từ “bọn Thệ Phản” đối với người Công Giáo, hoặc “phe Công Giáo La Mã” đối với những anh em Tin Lành (Protestant). Nhưng nó đã đến từ các chủ thuyết mới xuất hiện như cộng sản chủ nghĩa, quốc gia chủ nghĩa, khoa học chủ nghĩa, phàm tục chủ nghĩa (secularism), khoái lạc chủ nghĩa (hedoism), tình cảm chủ nghĩa, tà đạo chủ nghĩa (cultism) v.v… Những chủ thuyết mới này đã nhanh chóng chứng tỏ rằng chúng có khả năng làm biến đổi đời sống tinh thần cũng như vật chất của con người và trực tiếp đối chọi với những giá trị bất biến của Kitô giáo. Gần đây, lại có những thành phần quá khích của Hồi giáo đã tạo những cuộc khủng bố, hăm dọa sự an toàn của cả thế giới. Do đó, cùng với những nguyên nhân khác, các Kitô hữu (gồm Công Giáo, Chính Thống - Đông Phương, Tin Lành…) đã thấy sự cấn thiết phải ngồi lại với nhau, tạo một lực lượng chung đễ đương đầu với những thách đố mới.

Tuy vẫn có những tương đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành, nhưng các bất đồng đã và đang là trở ngại chính cho mọi nỗ lực hợp nhất. Ở đây, chúng tôi không muốn dùng tiếng “dị biệt” giữa các anh em Kitô, vì không thể có dị biệt giữa những người anh em, con của một Cha chung. Có chăng, chỉ là những bất đồng giai đoạn mà thôi. Tuy nhiên, giảm thiểu hoặc giản dị hóa những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành trong việc diễn giải Kinh Thánh, đã không thể gọi là một hành động nghiêm chỉnh và thành thật. Mặt khác, nếu không công nhận những tương đồng quan trọng giữa các giáo hội Kitô, sẽ bị cho là thiển cận và thiếu công tâm.

NHỮNG TƯƠNG ÐỒNG

Công Giáo và Tin Lành cùng chia sẻ một nhãn quan xuyên qua những sự kiện vật chất để hướng tới những gía trị tinh thần, đồng thời nhắc nhở con người sống cho cả hai cuộc sống đời này cũng như đời sau. Họ cùng tin vào Thiên Chúa và trung thành với Ðức Giêsu Kitô. Cùng công nhận 10 giới răn như lề luật cho mọi hành vi. Cùng tin rằng con người sau khi sa ngã, nếu không có sự giúp đỡ, tự con người không thể tìm được sự cứu rỗi nếu không có Ðấng Cứu Thế. Họ cùng đọc và tôn trọng Kinh Thánh, tuyên xưng cùng một kinh Tin Kính (của công đồng Nicaea) và cầu nguyện cùng một kinh Lạy Cha. Con người được gia nhập đời sống ân sủng và thánh thiện qua bí tích Rửa Tội, Thanh Niên nam nữ Công Giáo và Tin Lành có thể kết hôn với nhau và phép Hôn Phối đã được các giáo hội tôn trọng. Họ cùng mừng chung các lễ Giáng Sinh và Phục Sinh (trừ các giáo hội Chính Thống Ðông Phương), cùng công nhận các giảng huấn của các thánh Tông Ðồ, các văn bản thánh thiện và chia sẻ các bản thánh ca.

Trong sắc lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio) của Công đồng Vatican II, các nghị phụ đã tuyên bố: “Một khi đã được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu phép Rửa Tội, họ (các anh em Tin Lành) đã được tháp nhập vào Chúa Kitô, và vì thế họ có quyền mang danh Kitô hữu, xứng đáng là con cái Chúa và và được giáo hội Công Giáo nhìn nhận là anh chị em trong Chúa.” (Ch.I, đ.3). Về các giáo hội Tin Lành, các nghị phụ cũng đã xác định: “Dù chúng ta tin là họ còn khiếm khuyết, nhưng chính các giáo hội và các cộng đồng tách riêng ấy vẫn chưa trở thành vô nghĩa và vô giá trị trong Mầu Nhiệm Cứu Rỗi. Vì Thánh Thần của Chúa Kitô không khước từ xử dụng họ như những phương tiện cứu rỗi mà năng lực phát xuất từ chính sự sung mãn của Ơn Thánh và Chân Lý đã được ủy thác cho giáo hội Cơng Giáo.” (ibid.)

NHỮNG BẤT ÐỒNG

Người ta có thể chia những bất đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành thành hai loại chính: Những bất đồng căn bản và những bất đồng “tai nạn.”

Các bất đồng tai nạn đã xảy ra theo thời gian và hoàn cảnh địa phương, nhu cầu kỷ luật, biến thiên lịch sử, hội nhập văn hóa mà các giáo hội cảm thấy hữu ích và chấp nhận. Những điều đó đã trở thành cá tính của một giáo hội Tin Lành. Trong trên 300 giáo hội Tin Lành khác nhau, đã không có giáo hội nào hoàn toàn giống giáo hội khác.

Tuy nhiên, chỉ những bất đồng căn bản mới thực sự là những trở ngại chính cho công cuộc hiệp nhất. Các Kitô hữu đã tin rằng con người khi được tạo dựng đã hoàn hảo, nhưng vì xử dụng tự do cách sai lầm nên đã bất tuân lệnh Chúa và sa ngã.

1. Con người sau tội tổ tông (Justification)

Bất đồng đầu tiên giữa Công Giáo và Tin Lành khởi đi từ quan niệm về bản tính của con người sau khi đã sa ngã. Người Công Giáo tin rằng: Sau khi sa ngã, những sung mãn của bản tính và ân sủng của con người đã bị suy yếu. Những ơn Chúa ban cho ông bà Nguyên Tổ trong vườn địa đàng đã bị mất hết. Những ơn đó là ơn siêu nhiên, sự bất tử của thân xác, sự vẹn toàn và không phải đau khổ. Nếu không có ơn Cứu Chuộc, con người sẽ không tự mình tìm đến Nhan Thánh Chúa được. Nhưng bản tính tiên khởi của con người vẫn còn.

Trong khi đó, ông Luther (Lu-Te) lại cho rằng sau khi sa ngã, con người đã mất hết. Tất cả những gì con người làm, kể cả việc thiện, đều gây phiền toái cho Chúa và không có ơn ích gì cả. Sự công chính hóa (justification) chỉ bởi đức tin mà thôi và ơn cứu chuộc là do Chúa ban cách riêng chứ con người không thể tự hưởng bằng những việc lành. Thuyết công chính hóa bởi đức tin đó đã đưa đến ba nguyên tắc khác: Chối bỏ việc con người có lòng muốn tự do (free will), chỉ có công chính hóa ngoại tại, và chối bỏ sự hữu ích của mọi việc thiện.

Ngược lại, người Công Giáo tin rằng con người có toàn quyền xử dụng lòng muốn tự do của mình, ngay cả việc từ chối ơn Chúa ban. Sau khi được công chính hóa toàn diện (bởi đức Tin và Phép Rửa) mọi việc thiện của con người đều nên công trạng. “Ðức tin nếu không có việc làm là đức tin chết.”

2. Ðức tin

Tin Lành: Ðức tin là tác động tối thượng, tin vào Chúa rằng Ngài sẽ cứu ta khỏi hỏa ngục và “che đậy” mọi tội lỗi của ta (Ngài chỉ che đậy chứ tội lỗi vẫn luôn luôn còn). Do đó, đức tin trở nên một hành động của lòng muốn và tình cảm.

Công Giáo: Ðức tin là một sự đồng ý với ơn Chúa mạc khải. Thí dụ: Khi Chúa Kitô nói phép rửa tội thì cần thiết để được cứu rỗi. Chúng ta chấp nhận câu tuyên bố này vì chúng ta tin vào Ngài. Ðức tin đối với người Công Giáo là một hành động của trí khôn.

3. Kinh Thánh

Tin Lành: Kinh Thánh có quyền tôn giáo tối thượng. Không chấp nhận những khẩu truyền kể từ sau thời các thánh Tông Ðồ.

Công Giáo: Chúa Kitô chỉ giảng dạy chứ không viết Kinh Thánh và tự bộ Kinh Thánh đã không được quyền tôn giáo tối thượng. Từ chối khẩu truyền là tự tiện và độc đoán.

Ðối với Tin Lành, mọi người đều có quyền và bổn phận diễn giải Kinh Thánh theo ý mình hiểu. Sự kiện này đã là nguyên nhân đưa đến việc phân chia giữa các giáo hội Tin Lành thành hàng trăm giáo hội khác nhau. Trong khi đó, Công Giáo tin rằng Giáo Hội dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Linh, là cơ quan duy nhất có quyền diễn giải Kinh Thánh. Ðể am tường Kinh Thánh, người ta đã phải thấu hiểu các nguyên ngữ nguyên bản của Kinh Thánh, thần học, lịch sử và khảo cổ học (Archaeology). Do đó, nếu không có những nhà chuyên môn trợ giúp, người ta có thể sẽ không hiểu hoặc hiểu Kinh Thánh cách sai lạc.

4. Quyền bính Ðức Giáo Hoàng

Tin Lành: Giáo hội thì vô hình, những giáo hữu của các giáo hội này chỉ có Chúa biết mà thôi. Ðứng đầu giáo hội là chính Chúa Kitô.

Công Giáo: Chỉ có một giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền do Chúa Kitô khai sáng. Người đứng đầu hữu hình của giáo hội là vị Ðại Diện Chúa Kitô, kế vị thánh Phêrô, là Ðức Giáo Hoàng, là vị Giám Mục thành Roma.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây có nhiều anh em Tin Lành đã tỏ mối thán phục và cảm tình với các ÐHG đặc biệt là Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

5. Những giáo huấn của giáo hội

Tin Lành: Không công nhận giáo hội là một tổ chức thánh thiện có quyền giảng dạy. Ðối với họ, giáo hội chỉ là một tổ chức thân hữu của những người tin vào Chúa Kitô và cùng chia sẻ Lời Chúa.

Công Giáo (và các giáo hội Ðông Phương): Tin Mừng Cứu Rỗi đến với từng cá nhân qua giáo hội với sự bảo đảm không bị sai lầm mà không một Kitô hữu nào dám tự nhận.

6. Các bí tích

Tin Lành: Từ chối tất cả các bí tích, trừ phép Rửa Tội và nghi thức Tiệc Ly, nhưng họ giữ hai điều này vì vâng theo thánh ý Chúa mà thôi. Các phép thống hối (giải tội), thêm sức, truyền chức thánh, hôn phối, và sức dầu bệnh nhân chỉ được giữ như những nghi thức của giáo hội chứ không phải là bí tích.

Về nghi thức tiệc ly (chứ không phải thánh lễ), người Tin Lành từ chối ý nghĩa “của lễ Hi Sinh” và đặt Lời Chúa thành trọng tâm của việc thờ phượng. Vì giáo hội vô hình, lại không có thánh lễ và năm bí tích khác nên chức linh mục cũng trở nên không cần thiết. Tất cả các tín hữu đều là linh mục mà lễ Truyền Chức là phép Rửa Tội. Tuy nhiên, một số người đã được huấn luyện cách đặc biệt, trở thành mục sư để điều hợp cộng đoàn.

Công Giáo: Công nhận tất cả 7 bí tích do Chúa lập ra. Bí tích Thánh Thể gồm cả Lời Chúa, hiến tế hi sinh, và chia sẻ Mình Thánh, chứ không phải chỉ có Lời Chúa mà thôi. Mọi người cùng tham dự vào thiên chức linh mục của Chúa Kitô và là những phần tử của Nhiệm Thể của Ngài. Một số người được ơn gọi đặc biệt làm linh mục để cử hành Hiến Lễ Hi Sinh.

7. Sự Tiền Ðịnh (Predestination)

Tin Lành: Chúa đã chọn một số người vào Thiên Ðàng, còn những người khác bị vào hỏa ngục, dù có ăn ngay ở lành thế nào cũng không thể thay đổi được ý Chúa.

Công Giáo: Hoàn toàn không chấp nhận thuyết này, vì theo đó, con người không còn có lòng muốn tự do, ngược hẳn với tín lý.

Ngoài ra, người Tin Lành còn chối bỏ luyện tội, họ cho rằng sau khi chết, linh hồn hoặc lên thiên đàng, hoặc xuống hỏa ngục mà thôi. Mọi lời cầu nguyện cho kẻ chết đều không có ích gì cả. Họ cũng hủy bỏ việc sùng kính Ðức Mẹ và các Thánh.

NHỮNG HÒA ÐỒNG

Tinh thần hòa giải và hòa hợp hởi đi từ đầu thế kỷ XX đã đưa các giáo hội đến gần nhau hơn, không những chỉ qua lời nói và cử chỉ thân mật bề ngoài, nhưng cả trong thực hành nữa. Những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành đã thực sự được thu hẹp hơn. Ðặc biệt trong những thập niên sau công đồng Vatican II, thánh lễ đã được cử hành bằng các ngôn ngữ địa phương. Nội dung các bài giảng đã được chuẩn bị và chú trọng cách đặc biệt. Phần tham gia của các tín hữu (đáp ca, thánh ca) cũng được để ý và phát triển hơn. Giáo dân đã tham gia nhiều hơn vào các công tác phụng vụ và mục vụ. Ở nhiều nơi, giáo dân đã chịu Mình Thánh qua cả hình Bánh và hình Rượu như linh mục. Các Thày Sáu Vĩnh Viễn, thường là những người đã lập gia đình, được kể vào hàng giáo sĩ và có quyền giảng, rửa tội, ban phép hôn phối và cử hành nghi thức an táng… Một chiều hướng mục vụ đặc biệt dành cho các cặp hôn nhân giữa Công Giáo và Tin Lành cũng đã được đề cập tới.

Mặt khác, đã có nhiều anh em Tin Lành nhìn lại vai trò của Ðức Mẹ trong đời sống của các Kitô hữu cách nghiêm chỉnh hơn. Họ cũng thay đổi nhãn quan về vai trò và quyền bính của Ðức Giáo Hoàng. Các nhà thần học Công Giáo và Tin Lành đã hội họp với nhau và tìm ra rất nhiều lãnh vực tương đồng giữa các giáo hội mà trước đây người ta đã không nghĩ tới.

Sau khi nhấn mạnh rằng phép Rửa Tội “tạo nên mối giây hiệp nhất tất cả những người đã được tái sinh.” (Sắc Lệnh Hiệp Nhất, ibid. III, 22), các nghị phụ công đồng đã khảo sát đời sống Kitô hữu của các anh em Tin Lành: “Ðời sống Kitô hữu của các anh em ấy được nuôi dưỡng bằng Ðức Tin vào Chúa Kitô và được duy trì nhờ ân sủng của phép Rửa Tội và nhờ nghe Lời Chúa; đời sống ấy biểu lộ trong kinh nguyện riêng, trong việc suy niệm Kinh Thánh, trong đời sống gia đình Kitô giáo, trong việc phụng sự của cộng đoàn tụ hợp để ngợi khen Thiên Chúa.” (ibid.)

Với “con cái trong nhà” các nghị phụ đã ân cần nhắc nhở: “Ngày nay, ở nhiều nơi trên thế giới, nhờ Ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, rất nhiều cố gắng nhằm tiến tới hiệp nhất đầy đủ, theo ý muốn của Chúa Giêsu Kitô đang được thực hiện bằng kinh nguyện, lời nói, việc làm, nên Công Ðồng này khuyến khích tất cả mọi người Công Giáo hãy nhận ra những dấu chỉ thời đại, hãy khéo léo tham gia vào công cuộc hiệp nhất này.” (ibid.I,4).

LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Mépu 15/2/2011



Sau 25 tháng thi công, sáng ngày 15/2/2011, Giáo xứ Mépu hân hoan đón chào quí khách từ khắp nơi về dự lễ khánh thành và cung hiến nhà thờ mới, do Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết chủ sự. Có trên 40 Linh Mục trong ngoài Giáo phận cùng đồng tế và đông đảo Tu Sĩ Nam Nữ, giáo dân thuộc các giáo xứ vùng Phương Lâm, Gia Kiệm và Đức Tánh hiệp dâng Thánh lễ tạ ơn.
“Ân huệ tình yêu tuyệt diệu
Trọn đời cảm mến tri ân”
Ý nghĩa của hai câu đối được treo trên cung thánh đã được Đức Cha Giuse quảng diễn trong bài giảng lễ qua ba niềm vui cảm tạ: nhớ ơn các vị tiền bối, vui mừng với ngôi giáo đường mới, nơi Chúa chọn để hiện giữa Dân Người và mời gọi Dân Chúa tiến bước trên cánh đồng truyền giáo. Ngôi giáo đường khang trang này gợi nhớ bao nhiêu công lao của các vị tiền bối đã đang góp công xây dựng giáo xứ này, từ những ngày đầu gian khổ qua bao thăng trầm của lịch sử, cho đến hôm nay giáo xứ trưởng thành. Vui mừng hơn nữa là ngôi thánh đường bao tháng ngày mơ ước đã thành hiện thực, giữa cánh đồng xanh bao la của vùng đất Mépu. Từ đây Thiên Chúa đã có một địa chỉ cố định, khi nhà thờ được cung hiến, dấu hiệu của sự hiện diện của Thiên Chúa trên vùng đất này. Niềm vui cuối cùng là tính truyền giáo của buổi lễ hôm nay, cũng như của cả cộng đoàn giáo xứ Mépu, đang vui sướng khẳng định vị trí của mình nhờ ngôi thánh đường khang trang đẹp đẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho sứ mệnh loan báo Tin Mừng.
Nhà thờ mới có tổng diện tích trên 700 m2, chứa khoảng 600 chỗ ngồi.
Ngược dòng lịch sử, từ năm 1960, nhà thờ Mépu chỉ là một căn nhà lá thô sơ, nơi cố Lm Hoàng Kim Điền quản xứ Huy Khiêm đến dâng thánh lễ hằng tuần cho khoảng 800 giáo dân gốc Quảng Nam, Quảng Trị đến vùng đất Mépu lập nghiệp. Năm 1962, cố Lm Antôn Mai Khắc Cảnh quản xứ tiên khởi xây dựng nhà thờ, nhưng năm 1964 bị đổ nát do chiến tranh, giáo dân tản cư lánh nạn. Sau năm 1975, giáo dân trở về quê cũ, nhưng nhà thờ không còn, muốn dự lễ phải về Võ Đắt, Gia An hay Phương Lâm xa xôi đến trên 20 cây số. Năm 1977, với phong trào kinh tế mới, vùng đất Mépu đón tiếp thêm nhiều gia đình từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên về đây sinh sống. Số giáo dân tăng đến con số trên 1000 người, sinh hoạt tôn giáo trở thành một nhu cầu rất lớn. Từ năm 1990, giáo họ Mépu trực thuộc Giáo xứ Võ Đắt, bà con giáo dân tự động tổ chức các giờ kinh, phụng vụ Lời Chúa. Từ năm 1994, giáo dân Mépu mới được lãnh nhận các bí tích thường xuyên hơn, nhờ sự quan tâm của Cha Hạt trưởng và quí Cha trong vùng. Năm 1997, các thánh lễ chúa nhật và lễ trọng được cử hành trong sân nhà của một giáo dân. Mọi sinh hoạt tôn giáo lúc này vẫn chưa chính thức, vì thế khung nhà tiền chế làm nơi cử hành thánh lễ năm 2000, vừa dựng lên đã bị tháo dỡ. Năm 2006, Giáo Họ Mépu trực thuộc Giáo xứ Võ Xu, Cha Phaolô Nguyễn Văn Hạnh, quản xứ và quí Cha trong Hạt cũng thay nhau đến cử hành các bí tích cho Giáo họ. Tháng 11/2007, Giáo họ Mépu chính thức được công nhận cùng với ban điều hành giáo họ và xúc tiến việc mua đất xây dựng nhà thờ. Năm 2008, khung sắt tiền chế lại được dựng lên làm nhà nguyện tạm, để vừa dâng thánh lễ, học giáo lý và hội họp. Và cuối cùng ngày 12/1/2009, Giáo Họ Mépu hân hoan đón tiếp Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết, trên 20 Linh mục, đông đảo các Nữ Tu và trên 3000 giáo dân từ khắp nơi đến dâng thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Mépu. Và hôm nay trên cánh đồng lúa vàng của xã Mépu, ngôi thánh đường mơ ước đã hoàn thành, một mùa gặt mới đầy hứa hẹn.
Suốt 50 năm trôi qua, với bao thăng trầm, sức sống Mépu đã từng ngày vươn lên, cho đến hôm nay con số giáo dân là 2300 người, gồm Mépu 1, Mépu 2 và Sùng Nhơn. Giáo họ Mépu đã khẳng định được tầm vóc của mình. Vì thế trong niềm hân hoan phấn khởi với ngôi nhà thờ mới, Giáo Họ Mépu đã được Đức Giám Mục Giáo Phận chính thức nâng lên hàng Giáo Xứ với đầy đủ quyền lợi theo Giáo luật kể từ ngày 15/01/2011.
Nhờ lời bầu cử của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Bổn mạng của Giáo Xứ, nguyện chúc Giáo Xứ Mépu phát triển vững mạnh trong sứ mệnh chứng nhân cho Tình Yêu của Thiên Chúa trong cánh đồng lúa Mépu mênh mông.

Thảo Hương

Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Nam Hà, GP Phan Thiết.



“Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả chỉ là uổng công”, 29 tháng thi công vất vả, hôm nay 16/2/2011, Nam Hà cảm nhận được dồi dào hồng ân Chúa qua Thánh Lễ tạ ơn khánh thành và cung hiến nhà thờ mới. Đức Cha Giuse Giám Mục GP Phan Thiết chủ sự Thánh lễ, cùng đồng tế với Ngài có trên 30 Linh Mục và đông đảo Tu sĩ Nam Nữ giáo dân trong và ngoài Giáo Phận.
Khởi đầu thánh lễ, Cha Hạt Trưởng Đức Tánh đã long trọng đọc quyết định nâng giáo họ Nam Hà lên hàng Giáo Xứ.

Chia sẻ niềm vui cùng với Cha Phêrô Hoàng Văn Thinh và giáo xứ Nam Hà, Đức Cha Giuse trong bài giảng lễ đã đưa ra ba lý do: điểm dừng của Nam Hà, ngôi giáo đường mới địa chỉ hiện diện cụ thể của Thiên Chúa, phép lạ trong cánh đồng truyền giáo.
Trên 18 năm lưu lạc với 29 gia đình buổi ban đầu khó khăn, hôm nay Nam Hà đã có điểm dừng, như ngày xưa Ba Vua đã từ phương xa đến và dừng lại ở Bê Lem gặp Chúa Hài Đồng. Ngôi giáo đường mới như địa điểm dừng chân, nơi đây Chúa đã chọn để hiện diện giữa dân Ngài. Từ hôm nay, đây là chỗ Dân Chúa lãnh nhận các bí tích, nơi Thiên Chúa qui tụ Dân Chúa để thi ân giáng phúc, như ngày xưa Chúa Giêsu đã đoái thương đến nhà Ông Gia Kêu, để “hôm nay nhà này được ơn cứu độ”. Nhưng nhà thờ chỉ là chỗ dừng chân để tiếp tục hành trình sứ vụ tông đồ của mỗi Kitô hữu. Vì thế, ngôi giáo đường khang trang nơi vùng đất vốn hoang vu, đã trở thành “phép lạ”. Thiên Chúa đã chọn vùng đất này để hiển linh, như tước hiệu Giáo Xứ đã chọn, vang lên tiếng gọi làm cho “Danh Cha cả sáng”.



Hân hoan đón nhận hồng ân Thiên Chúa hôm nay, vị đại diện giáo xứ đã vui mừng nhìn lại lịch sử của giáo xứ và quá trình xây dựng nhà thờ như sau:
“Vào tháng 03 - 1993 nhà nước đưa dân từ miền Bắc thuộc Tỉnh Nam Hà vào lập nghiệp, trong đó có 29 hộ gia đình công giáo thuộc 2 giáo phận: Bùi Chu và Hà Nội.
Những ngày đầu tiên chúng con gặp rất nhiều khó khăn, rừng núi âm u, đường mòn lầy lội nhà thờ thì xa, nên việc tham dự Thánh lễ ngày chủ nhật cũng bị thất thường, lúc bấy giờ mọi người rất lo lắng và hoang mang về đời sống đạo. Đến tháng 04-1995 thì được Cha Phêrô Nguyễn Đình Sáng phụ trách Giáo xứ Chính Tâm, hướng dẫn quy tụ nhau lại lập thành một giáo khu, trực thuộc Giáo xứ Thánh Tâm. Thời gian sau, giáo khu được phát triển theo ngày tháng, và lấy tên là giáo họ Nam Hà. Trong 3 năm đầu không có nhà thờ, giáo họ chúng con rất lúng túng trong việc tổ chức đọc kinh và chia sẻ lời Chúa tại các tư gia. Đến tháng 12/1995 để thuận lợi cho việc đọc kinh cầu nguyện và cử hành Thánh lễ, giáo họ chúng con có mượn nhà của một giáo dân để làm nơi thờ tự. Đến tháng 01/1996 giáo họ được nhận lễ Chúa Hiển Linh làm bổn mạng và Thánh lễ đầu tiên được cử hành tại ngôi Nhà Tạm này.
Chúng con xin có đôi lời dâng lên Đức Cha Nicola: Vào ngày 23/03/1996 cách đây 15 năm, chúng con được đón Đức cha tại ngôi nhà thờ tạm, lúc bấy giờ giáo dân còn quá ít ỏi, nhưng chúng con cũng được Đức cha thương, hướng dẫn, thăm nom, giúp đỡ, động viên chúng con tiếp tục sống đạo trong miền đất mới. Đến ngày 24/09/1998 Đức cha còn ban cho chúng con một vị chủ chăn là cha Phêrô Hoàng Văn Thinh về quản xứ giáo xứ Thánh Tâm, lúc bấy giờ chúng con có nhiều thuận lợi hơn, cha cho xây lại chung quanh vì trước đây là vách ván, nới rộng 2 bên, nối dài về phần cuối, lúc này nhà nguyện được rộng rãi hơn và Thánh lễ được cử hành thường xuyên.
Chúng con cũng xin có đôi lời dâng lên Đức cha Phaolô: Ngày 15/06/2007 Đức cha có đến thăm động viên và hướng dẫn chúng con xin giấy phép xây nhà thờ. Đến ngày 04/04/2008 được UBND Tỉnh và Sở xây dựng chấp thuận. Ngày 25/06/2008 lễ đặt viên đá đầu tiên do Đức cha Phaolô chủ sự, đến lúc này chúng con vẫn chưa có kinh phí để mua vật liệu. Công việc phải tạm ngưng, cha quản xứ phải tạo mọi điều kiện để ra nước ngoài hồi tháng 06/2008 để tìm kiếm các ân nhân giúp đỡ, tới tháng 09/2008 cha về nước và công việc xây dựng mới được tiến hành, cái khó lại bó cái khôn, lúc đó đất của nhà thờ chỉ có bề ngang 30m, thì có xây dựng xong cũng không thuận lợi cho việc đi lại và rước chung quanh Thánh đường, nên một lần nữa phải tạm dừng, để xin hoán đổi đất. Đến ngày 21/08/2009 mới được UBND Tỉnh và Sở xây dựng chấp thuận cho việc hoán đổi. Hiện nay đất của nhà thờ bề ngang 60m, dài 150m, tổng diện tích là 8.384m2 lúc này thuận tiện cho việc xây cất. Đến ngày 23/09/2008 bắt đầu khai móng. Thời điểm đó đã vào cao điểm mùa mưa, đất thì nằm ngay vị trí trũng nên không thể đào được, cha xứ lại cho ngưng thi công để chờ bớt mưa. Đến ngày 20/06/2010 công trình bắt đầu tiếp tục. Diện tích nhà thờ là 776m2 ngang 22m dài 40m cao 17m. Tháp chuông 26m.
(…)
Đây là một công trình khiêm tốn mà giáo họ chúng con hôm nay đã tạm hoàn thành, và cũng là một ân huệ mà Thiên Chúa đã đoái thương đến cộng đoàn nhỏ bé chúng con.” (trích “Lược sử hình thành xây dựng nhà thờ Nam Hà”, Giuse Vũ Văn Trang, Chủ tịch HĐMVGX Nam Hà)
Sức sống của Nam Hà hôm nay đã thực sự “Hiển Linh”. Nguyện chúc Giáo Xứ Nam Hà ngày càng phát triển mọi mặt để cho Tin Mừng được loan báo trên vùng đất dồi dào cây trái của Huyện Đức Linh.
Bình Nguyên

Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011

CHÚA NHẬT THỨ IV THƯỜNG NIÊN NĂM A



30 tháng 1/2011: CHÚA NHẬT THỨ IV THƯỜNG NIÊN NĂM A


BÀI ĐỌC I: Xp 2, 3; 3, 12-13 "Ta sẽ để sống sót lại giữa ngươi, một dân tộc khiêm tốn và nghèo hèn".

Trích sách Tiên tri Xôphônia. Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước, là những kẻ tuân giữ luật Chúa; hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường, nếu các ngươi muốn được che chở trong ngày thịnh nộ của Chúa. Ta sẽ để sống sót lại giữa ngươi một dân tộc khiêm tốn và nghèo hèn, biết tin tưởng vào thánh danh Chúa. Kẻ sống sót của Israel sẽ không làm điều bất công, sẽ không nói dối, miệng chúng sẽ không nói lời phỉnh gạt, vì chúng sẽ được chăn dắt và nằm ngủ không bị quấy rầy. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10.

Đáp: Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ (Mt 5,3).

Xướng: 1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù, Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân; Thiên Chúa che chở những khách kiều cư.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Đức Thiên Chúa của ngươi sẽ làm vua từ đời này sang đời khác.

BÀI ĐỌC II: 1 Cr 1, 26-31 "Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô. Anh em thân mến, anh em hãy xem ơn kêu gọi của anh em: Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng. Nhưng điều mà thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những người khôn ngoan phải xấu hổ; điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn để làm cho những gì là mạnh mẽ phải hổ ngươi. Thiên Chúa đã chọn những điều hèn hạ đối với thế gian, những điều bị khinh chê, những điều không không, để phá huỷ những điều hiện hữu, hầu mọi xác thịt không thể vinh vang trước mặt Người. Chính do Người mà anh em ở trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng do Thiên Chúa, đã trở nên sự khôn ngoan, sự công chính, sự thánh hoá và sự cứu rỗi cho chúng ta, ngõ hầu, như đã chép: "Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa". Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Lc 19, 38 Alleluia, alleluia! - Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến, bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời. - Alleluia.


PHÚC ÂM: Mt 5, 1-12a "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp. Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG NHỮNG MỆNH LỆNH YÊU THƯƠNG
Trong Phim Ben Hur, đạo diễn cố tạo ra khung cảnh vừa ngoạn mục, vừa phác họa thân phận bất lực của con người trên một ngọn đồi, để làm nổi bật Bài Giảng Trên Núi về Tám Mối Phúc Thật của Chúa Giêsu. Người ta có thể từ đó đọc được ý nghĩa phó thác cậy trông nhiều hơn vào tình thương Chúa, hoặc có khi cũng được an ủi yên vui khi tin thật vào những lời hứa của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, bản chất của Tám Mối Phúc Thật, vì là hiến chương Nước Trời, nên không hề có tính cách tiêu cực, mà thực sự là những mệnh lệnh yêu thương cho cuộc sống nhân loại hướng về Nước Trời. Thực vậy, những lời hứa của Chúa Giêsu như Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp; hoặc tương tự như Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an... không có nghĩa tiêu cực an ủi trong thân phận và hoàn cảnh buộc phải chịu vậy, để được một điều tốt hơn, bởi suy nghĩ cho kỹ, thì một khi đã mang thân phận con người sau tội tổ tông, có ai trong đời mà không buồn đau, nghèo khó, đói khát, yếu đuối, tội lỗi và phải chịu muôn phần cơ cực... Như thế những lời hứa của Chúa Giêsu chẳng những nói lên sự thật đời người trước các hậu quả của tội tổ tông, mà còn là những con đường buộc nhân loại phải đi ngược lại cái thân phận bị ảnh hưởng trong bản năng yếu đuối và tội lỗi của mình, để có thể hưởng được ơn cứu độ của Chúa. Thế nên một khi sống hiền lành, là tức khắc phải từ bỏ các khuynh hướng và hành động gian ác; một khi chịu cảnh buồn đau, thì lập tức thấy rõ hơn thân phận mình, rồi phó thác vào Chúa thì sẽ được Ngài an ủi đỡ nâng; một khi khát khao điều công chính, thì dĩ nhiên phải từ bỏ con đường bất công trong đời, để nép mình theo đường lối chính trực của Chúa; một khi biết xót thương người, là chính lúc phải khắc phục bản tính ích kỷ tiềm tàng sâu kín trong nội tâm ta, mới hiểu được niềm khao khát yêu thương của tha nhân cũng là của mình; một khi muốn tâm hồn trong sạch, phải can đảm lắm trước các cám dỗ tội lỗi và các khuynh hướng xấu xa; một khi biết ăn ở thuận hòa, phải luôn chiến thắng bản tính hiếu thắng và cái tôi không chịu nhường bước trước các mối lợi cho riêng mình; và một khi chấp nhận chịu bách hại vì Chúa, thì cũng chấp nhận cái chết như Chúa Kitô. Tất cả các mối phúc thật do đó trở nên những mệnh lệnh cho đời người Kitô hữu. Những mệnh lệnh này rất lạ lùng, vì mở đầu bằng lời chúc phúc, nên không còn mang tính bắt buộc, mà là những lời mời gọi yêu thương của Chúa Giêsu, để con người có thể đi vào con đường thánh thiện trên hành trình tiến về thiên quốc.

Lm. Raphael Xuân Nguyên