Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011
Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011
VUI MỪNG BÁN TẤT CẢ
Lời Chúa: Mt 13,44-52Hôm ấy, Ðức Giêsu nói với dân chúng dụ ngôn này: “Nước Trời giống như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng. Có người kia gặp được thì liền chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy. Nước Trời lại cũng giống như chuyện một thương gia đi tìm ngọc đẹp. Tìm được một viên ngọc quý, ông ta ra đi, bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy. Nước Trời lại còn giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. Ðến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quăng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Anh em có hiểu tất cả những điều ấy không?”
Họ đáp: “Thưa hiểu.”
Người bảo họ: “Bởi vậy, bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ.”
Suy niệm:
Tất cả bắt đầu từ một sựtình cờ may mắn.
Người nông dân nghèo phải làm thuê cho điền chủ
tình cờ gặp được kho báu chôn trong ruộng.
Người buôn ngọc tình cờ gặp được viên ngọc tuyệt vời,
có giá trị lớn lao mà người bán không hề biết.
Sau đó phản ứng của cả hai rất giống nhau:
ra đi, bán tất cả những gì mình có và mua...
Không thấy có dấu vết của sự nuối tiếc
hay ngần ngại giằng co.
Tất cả diễn ra thật nhanh
và tràn ngập niềm vui thanh thản.
Ai cũng rõ họ hạnh phúc biết chừng nào
khi chiếm được kho báu và viên ngọc.
Cuộc đời họ chuyển sang một giai đoạn mới.
Thái độ của hai người trênđược coi là bình thường.
Ở địa vị ta, ta cũng làm như thế.
Kho báu và viên ngọc là những thứ thấy được,
có giá trị hiển nhiên và hết sức hấp dẫn.
Chúng hứa hẹn một sự giàu sang mà ai cũng thèm thuồng,
nên người ta dễ bán tất cả để mua được chúng.
Bị ảnh hưởng bởi não trạng hưởng thụ vật chất,
chúng ta thường coi kho báu duy nhất ở đời này
là tiền bạc, quyền uy và khoái lạc.
Khi nói Nước Trời là kho báu bền vững,
Ðức Giêsu là viên ngọc quý đích thực,
chúng ta lại thấy đó là cái gì mơ hồ,
xa xôi, ít lôi cuốn, thậm chí không có thật.
Chính vì thế chúng ta thường ngần ngại khi từ bỏ,
dè sẻ, nuối tiếc khi phải hy sinh cho Chúa.
Vậy vấn đề là khả năng thấy, nhờ lòng tin.
Bản thân tôi có thấy Ðức Giêsu là viên ngọc quý,
và Nước Trời là kho báu không?
Chỉ ai thấy được những thực tại vô hình
và ngây ngất trước giá trị của chúng,
người ấy mới hồn nhiên và vui tươi
đánh đổi tất cả kho báu phù phiếm của đời này
để lấy kho báu bất diệt trên trời (x.Mt 6,20).
Có khi tình cờ, qua một biến cố, một người bạn,
qua một cuốn sách, một đoạn Lời Chúa, một kỳ tĩnh tâm,
tôi chợt gặp Ðức Giêsu như viên ngọc ngời sáng,
hấp dẫn, mời gọi tôi bay lên khỏi cái tôi tầm thường:
tôi có dám bán nỗi đam mê ích kỷ của mình
để mua lấy tình bạn với Ngài không?
Nếu ta còn ngần ngại khi phải bán đi tất cả
thì chỉ vì ta chưa thấy.
Nhưng nếu ta cứ can đảm bán đi,
ắt ta sẽ thấy.
Niềm vui chỉ đến với người dám bán tất cả.
Cầu nguyện:
Xin giải phóng chúng con
Ước gì chúng con mau mắn và vui tươi
Vàước gì chúng con không bao giờ quay lưng
Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011
Thứ Bảy, 9 tháng 7, 2011
CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN NĂM A
LỜI CHÚA: Mt 13, 1-9"Kìa, có người gieo giống đi gieo lúa".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Ngày ấy, Chúa Giêsu ra khỏi nhà và đi đến ngồi ở ven bờ biển. Dân chúng tụ tập quanh Người đông đảo đến nỗi Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ. Và Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều. Người nói:
"Này đây, có người gieo giống đi gieo lúa. Trong khi gieo, có hạt rơi xuống vệ đường, chim trời bay đến ăn mất. Có hạt rơi xuống trên đá sỏi, chỗ có ít đất, nó liền mọc lên, vì không có nhiều đất. Khi mặt trời mọc lên, bị nắng gắt, và vì không đâm rễ sâu, nên liền khô héo. Có hạt rơi vào bụi gai, gai mọc um tùm, nên nó chết nghẹt. Có hạt rơi xuống đất tốt và sinh hoa kết quả, có hạt được một trăm, có hạt sáu mươi, có hạt ba mươi. Ai có tai thì hãy nghe".
Ðó là lời Chúa.
SUY NIỆM
Cách nay khoảng gần một năm, chính xác là vào ngày 14.07, ủy ban đối ngoại thượng viện Hoa Kỳ đã công bố hơn một ngàn trang tài liệu từng được coi là những “bí mật” về cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Việc công bố những bí mật này, không biết có đem lại điều gì tốt lành cho cuộc sống của con người hôm nay cũng như mai sau hay không ! Thực tế, khi những “bí mật” này được công bố, chỉ thấy khơi lại trong cõi lòng nhiều người những mất mát, những đau thương, những buồn phiền, những uất hận…
Cũng là những điều được cho là “bí mật”, nhưng khi được công bố, nó đã không đưa con người đến những điều tồi tệ, không dẫn con người “đi vào cõi thung lũng âm u, nghi ngờ và chết chóc”.
Ngược lại, những bí mật này, khi được công bố, nó đem lại cho con người niềm tin, sự hy vọng, và hơn hết, đó là niềm hạnh phúc có được một sự sống đời đời.
Sẽ có một câu hỏi được đặt ra. Đó là bí mật gì ?
Thưa rằng, hãy trở lại Palestin của hơn hai mươi thế kỷ trước. Trong khung cảnh đầy thơ mộng của Biển Hồ Tiberia, có một người tên là Giêsu, được mọi người quen gọi là Giêsu Nazareth. Tại nơi đây, Đức Giêsu đã công bố một bí mật. Nó không phải là một bí mật thông thường, đại loại như bí mật của các “sao” mà báo chí “lá cải” thường đưa tin. Bí mật mà Đức Giêsu công bố là một bí mật đặc biệt và đã gây chấn động toàn cầu. Đó chính là “Bí Mật Nước Trời”, theo ngôn ngữ Kinh Thánh được quen gọi là “Mầu nhiệm Nước Trời”.
Câu chuyện được kể lại rằng : “Hôm ấy, Đức Giêsu từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ”. Một rừng người vây quanh Ngài. Và cũng như những lần trước. “Ngài dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều”.
Một trong những điều rất quan trọng luôn được Đức Giêsu đề cập đến đó là ân sủng. Phải có ân sủng, phải có “ơn trên” con người mới có thể “hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”(Mt 13, 11).
Không phải hôm nay Đức Giêsu mới nhắc đến “phải có ân sủng, phải có ơn trên”. Vào một đêm nọ, khi Nicôđêmô đến gặp Đức Giêsu để tìm hiểu mầu nhiệm Nước Trời. Đức Giêsu đã nói với ông ta rằng : “Không ai có thể thấy Nước Trời, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”. Vâng, phải có “ơn trên”.
Cũng không phải hôm nay Ngài mới nhắc đến “Nước Trời”. Ngay khi bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giêsu đã lớn tiếng nói cho mọi người biết rằng, “Nước Trời đã đến gần”. Không chỉ loan báo vu vơ, Đức Giêsu còn khuyến cáo mọi người rằng “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Trời và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).
“Nước Trời” không có gì là bí ẩn để mọi người không thể nhận ra. Và mầu nhiệm Nước Trời không phải là “bí mật quốc gia” để mà che dấu cả thế giới.
Qua dụ ngôn “người gieo giống”, Đức Giêsu đã bày tỏ cho mọi người thấy, rằng mầu nhiệm Nước Trời, chẳng phải là điều gì đó xa vời đối với mọi người. Như một người ra đi gieo giống và những hạt giống đó được gieo vào lòng đất. Mầu nhiệm Nước Trời cũng được gieo vào mảnh đất tâm hồn mỗi con người.
Vâng, vấn đề là, tâm hồn con người có mở ra để “nghe Lời và hiểu” về mầu nhiệm Nước Trời, hay tâm lại khép kín và hồn thì chai đá, để rồi “có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy”!!
Đức Giêsu chấm hết dụ ngôn bằng một lời hết sức tế nhị :“Ai có tai thì nghe”. (Mt 13,8).
Một chút tâm tình…
“Ai có tai thì nghe”. Vâng, phụng vụ Lời Chúa hôm nay kêu gọi mọi người “nghe” lại dụ ngôn “người gieo giống”, một hình ảnh rất đời thường. Nhưng trong cái hình ảnh người gieo giống “bình thường” đó, nó lại phảng phất một con người “khác thường”. Con người khác thường đó chính là Đức Giêsu Kitô.
Vâng, Đức Giêsu Kitô, không ai khác, chính là hình ảnh người gieo giống. Ngài đã ra đi gieo những hạt giống “Nước Trời”. Qua Đức Giêsu Kitô, mọi người được nghe Ngài “rao giảng mầu nhiệm Nước Trời”.
Làm sao có thể am hiểu mầu nhiệm Nước Trời khi chưa am hiểu Lời Chúa ! Mà “Lời Chúa” lại chính là những lời “rao giảng Nước Trời” được loan báo bởi chính Đức Giêsu Kitô .
Vì thế, trước hết, phải nhận biết Đức Giêsu Kitô, nghĩa là phải đón nhận Ngài. Và một khi đã đón nhận Đức Giêsu thì sẽ am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô. Am hiểu mầu nhiệm Đức Kitô sẽ dẫn đến am hiểu mầu nhiệm Nước Trời. Một khi đã am hiểu Nước Trời thì, như lời Đức Giêsu nói : “Ai có thì được cho thêm và sẽ có dư thừa”.
Cho thêm và dư thừa điều gì ! Phải chăng là “ơn hiểu biết” ?
Thưa đúng vậy. Chính ơn hiểu biết sẽ dẫn đưa đến việc “nghe Lời và hiểu” những lời rao giảng Nước Trời. Và điều tất yếu như lời Đức Giêsu đã giải thích trong dụ ngôn người gieo giống rằng, người đó “tất nhiên sinh hoa kết quả”(Mt 13,23).
”Quả” đó là quả gì !? Thưa chính là, như lời tông đồ Phaolô đã nói rằng, sẽ “được cùng thừa kế gia nghiệp… cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa ban” (Ep 3,6).
Điều Thiên Chúa hứa ban chính là “Nước Trời” và một cuộc sống đời đời.
Một chút suy tư…
“Ai có tai thì nghe”. Vâng, chúng ta đã “nghe” dụ ngôn người gieo giống” được bao nhiêu lần ? Mới lần đầu ! Mười lần ! Hai mươi lần !
Dù chúng ta đã nghe bao nhiêu lần đi chăng nữa, nhưng nó sẽ chẳng ích lợi gì, nếu chúng ta “nghe mà không hiểu”. Và một khi không hiểu Lời Chúa dạy thì làm sao chúng ta có thể đem ra thực hành !
Phải chăng Lời Chúa khó hiểu ? Hay chúng ta làm bộ không hiểu ? Chúng ta làm bộ không hiểu, không phải vì chúng ta không hiểu, nhưng rất có thể chúng là cố tình không muốn hiểu.
Và một điều quan trọng không kém, đó là, đôi khi chúng ta nghe Lời Chúa, nhưng “không sinh ích gì cho chúng ta” bởi vì tuy đã nghe, nhưng chúng ta, như lời tông đồ Phêrô đã nói : “không lấy đức tin đáp lại lời giảng” (Dt 4,…2).
Câu chuyện dụ ngôn người gieo giống đã được Đức Giêsu giải thích quá rõ ràng. Vâng, đừng nói là khó hiểu, nhưng hãy tự hỏi lòng mình rằng, mảnh-đất-tâm-hồn-của-tôi thuộc loại nào trong bốn loại đất đã được Đức Giêsu nêu trong dụ ngôn người gieo giống !?
Mảnh đất bên vệ đường ư ! Hay là mảnh đất chỉ toàn sỏi đá ! Có phải là mảnh đất đầy gai góc ! Hay mảnh đất tốt chính là mảnh đất tâm hồn của tôi ?
Dĩ nhiên là không ai trong chúng ta lại mong muốn mảnh đất tâm hồn của mình thuộc ba mảnh đất “xấu” nêu bên trên. Thế nhưng, chắc hẳn chúng ta sẽ băn khoăn và tự hỏi rằng : làm thế nào để mảnh đất tâm hồn mình thuộc loại “mảnh đất tốt” !
Đức Giêsu đã trả lời băn khoăn đó cho chúng ta. Chỉ cần thực hiện bốn chữ mà thôi, “nghe Lời và hiểu”. Hãy chú ý ! Chữ “Lời” viết hoa trong Kinh Thánh đồng nghĩa với chữ “Chúa”. Vâng, phải “nghe Chúa và hiểu lời Chúa dạy”.
Một câu chuyện trong sách Samuel được kể lại rằng : “Samuel đang ngủ trong đền thờ Đức Chúa. Nơi có đặt hòm bia Thiên Chúa”(1Sm3,3). Chúa gọi Samuel, thế mà ông ta lại tưởng thầy của mình là Êli gọi. Ba lần Chúa gọi nhưng Samuel vẫn không nhận ra. Chỉ đến khi thầy Êli “hiểu là Đức Chúa gọi” và dạy cho Samuel cách trả lời. Samuel mới “hiểu” và mới có thể nhận ra lời Chúa phán dạy cho mình.
Qua câu chuyện được kể trên, không thể phủ nhận rằng, sự thiếu hiểu biết về lời Chúa chính là rào cản để chúng ta đến với Chúa. Hay nói đúng hơn sự thiếu hiểu biết lời Chúa đã ngăn cản chúng ta nhận ra “mầu nhiệm Nước Trời”.
Một điều chắc rằng, chúng ta sẽ không thể “hiểu lời Chúa dạy” nếu không đọc và học hỏi Lời Chúa hàng ngày. Đừng nghĩ rằng chỉ các linh mục hay các tu sĩ mới phải “đọc Lời Chúa” mỗi ngày.
Hãy nhìn cộng đoàn dân Chúa ở Beroia năm xưa, họ chính là mẫu mưc cho chúng ta hôm nay về việc đọc và học hỏi Lời Chúa.
Tác giả Công Vụ Tông Đồ đã thuật lại việc đó như sau : “Những người Do Thái ở đây cởi mở hơn những người ở Thesalonica : họ đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh để xem có đúng như vậy không” (Cv 17,11).
Nếu chúng ta “đón nhận lời Chúa với tất cả nhiệt tâm, ngày ngày tra cứu Sách Thánh”. Vâng, chắc chắn rằng, mảnh đất tâm hồn của chúng ta sẽ là “mảnh đất tốt” và hãy tin rằng, chúng ta sẽ được ơn : ”hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời”.
Petrus.tran
Thứ Bảy, 21 tháng 5, 2011
Cn V PS : Đừng Bối Rối !

Thế giới chúng ta đang sống, có thể nói rằng, quả là một thế giới quá nhiều âu lo và sợ hãi. Âu lo và sợ hãi bởi sự khủng hoảng kinh tế, bởi nạn thất nghiệp tràn lan, bởi đạo đức băng hoại, bởi sự tiềm ẩn của những mối đe dọa chiến tranh và khủng bố, cuối cùng là bởi tội lỗi ngày một gian ác, ngày một gia tăng.
Nhìn vào những thực trạng trên, hỏi rằng, cuộc sống của chúng ta, làm sao ít nhiều không bị ảnh hưởng. ! Hỏi rằng, cuộc sống của chúng ta, làm sao ít nhiều không khỏi bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
…..
Bàng hoàng, lo lắng và bối rối cũng chính là điều mà các môn đệ của Đức Giêsu xưa kia từng đối mặt. Ba năm theo Thầy Giêsu, mỗi khi đối diện với những vấn đề nan giải, các môn đệ cũng không thoát khỏi tâm trạng bàng hoàng, lo lắng và bối rối.
Một trong những những nan đề dẫn đến sự bàng hoàng, lo lắng và bối rối trầm trọng nhất trong ba năm theo Thầy Giêsu chính là những sự kiện đã xảy ra vào buổi chiều của bữa tiệc ly.
…….
Hãy trở về Giêrusalem của hơn hai ngàn năm trước. Chúng ta sẽ thấy điều gì đã xảy ra ! Điều gì đã khiến cho các môn đệ phải bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
Vâng, đó là một buổi chiều của những tin tức xấu, những tin tức buồn.
Một buổi chiều của bàng hoàng. Bàng hoàng vì một kẻ trong nhóm mười hai “sẽ nộp Thầy Giêsu”.
Một buổi chiều của những nỗi “buồn hiu hắt buồn”. Buồn vì có một người sẽ “chối Thầy Giêsu ba lần”.
Một buổi chiều của lo lắng và bối rối. Lo lắng và bối rối vì Thầy Giêsu chỉ “còn ở với (các môn đệ) một ít lâu nữa thôi”.
Hãy thử tưởng tượng, trong ba năm qua, các môn đệ đã bỏ hết mọi sự, nghề nghiệp, cuộc sống gia đình để theo Thầy Giêsu, với tất cả niềm tin và lòng phó thác. Họ đã có một cuộc sống an tâm bên cạnh Ngài. Khi thiếu bánh ăn, Thầy Giêsu hóa bánh ra nhiều. Khi gặp phong ba bão táp, Thầy Giêsu giải cứu họ. Khi cần, Thầy Giêsu dạy dỗ họ…
Thế mà hôm nay, Thầy Giêsu lại nói : “Nơi Thầy đi, các con không thể đến được”…
Chuyện là như thế đấy !
Hỏi sao các môn đệ không bàng hoàng, lo lắng và bối rối !
Hỏi sao ông Simon Phêrô lại không hỏi ; “Thầy đi đâu ? Sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được ?”
Hỏi sao ông Tôma lại không thắc mắc với Thầy của mình rằng : “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường” !
Nếu những lần trước, Đức Giêsu đã hóa giải sự lo lắng và bối rối trước những nan đề mà các môn đệ đã phải đối mặt, bằng những phép lạ tỏ tường. Thì hôm nay, chỉ cần đôi lời đàm đạo. Ngài đã xua tan những lo lắng và bối rối của các ông.
Qua những lời đàm đạo, Thầy Giêsu không chỉ hé mở cho các môn đệ thấy nơi các ông sẽ đến, nhưng Ngài còn vẽ ra một “sinh lộ” cho cuộc hành trình các ông sẽ phải đi qua. Một cuộc hành trình đi về “Nhà Cha”. Nơi mà Thầy Giêsu sẽ đi trước để “dọn chỗ” cho các môn đệ của Ngài. Để Thầy Giêsu ở đâu thì các môn đệ của Ngài “cũng ở đó”.
Sau phần đàm đạo giữa Thầy và trò. Có phần chắc, các môn đệ thấu hiểu và tin tưởng vào lời Đức Giêsu đã nói : “Anh em đừng bối rối ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1).
Một chút tâm tình…
Trong cuộc đàm đạo. Ông Philipphe có nói với Đức Giêsu “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”.
Đức Giêsu trả lời: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”. Và rằng “Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,9…11)
Vâng, Có thể ví rằng, câu trả lời của Đức Giêsu như một “chiếc cầu treo” nối kết “Trời và Đất”. Nó đã phá vỡ sự ngăn cách giữa con người và Thiên Chúa, Sự ngăn cách mà xưa kia nguyên tổ Adam và Eva đã gây ra.
Tất cả những lời đàm đạo giữa Chúa Giêsu với các môn đệ trong bữa tiệc ly năm xưa, có thể được tóm gọn trong lời Ngài đã khẳng định với Tôma rằng : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy”(Ga 14,6).
Không có dấu hiệu cho thấy các môn đệ nghi ngờ lời khẳng định trên của Chúa Giêsu. Bởi nếu các ông nghi ngờ, thì sau này làm gì có chuyện “Lời Thiên Chúa vẫn lan tràn, và tại Giêrusalem, số các môn đệ tăng thêm rất nhiều, lại cũng có một đám rất đông các tư tế đón nhận đức tin” (Cv 6,7).
Một phút suy tư…
Cuộc đời thường được ví như một con đường. “Đường đời”. Và phải chăng, đường đời chúng ta đi cũng không thiếu những âu lo phiền muộn, những lo lắng và bối rối !
Đúng vậy, trong hoàn cảnh riêng tư của cuộc đời, sẽ có lúc chúng ta cũng lo lắng và bối rối trước một nan đề nào đó.
Một cơn cám dỗ bội phản lời thề thủy chung !
Trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính !
Trước sự bắt bớ của bạo quyền !
Chúng ta sẽ làm gì để vượt qua sự sợ hãi, sự lo lắng và bối rối !
Phải chăng là “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Vâng, thông điệp này không chỉ dành riêng cho các môn đệ của Đức Giêsu năm xưa. Nó cũng dành cho chúng ta là những Kitô hữu hôm nay.
Tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy ! Phải chăng chính là hãy tin Đức Giêsu, Ngài chính là “con đường, là sự thật và là sự sống” !?
Các môn đệ đã tin. Vâng, họ đã tin Đức Giêsu chính là con đường đời của họ. Một con đường dẫn đến sự thật và có sự sống đời đời.
Giáo Hội tiên khởi, bất chấp ba trăm năm “hầm trú”, bị bắt bớ, cũng đã tin như thế.
Còn chúng ta ! Chúng ta tin !
Nếu chúng ta tin, chẳng có gì phải lo lắng và bối rối trước cơn cám dỗ bội phản lời thề thủy chung. Hãy mặc lấy tư tưởng ông Giuse, “từ chối, không chịu nghe… chạy trốn và ra ngoài” (St 38, 7…12)
Nếu chúng ta tin ! Trước cám dỗ của danh vọng, của tiền bạc, của quyền bính ư ! Hãy nhớ rằng “Tất cả mọi sự chỉ là phù vân”.
Sự bắt bớ của bạo quyền ư ! Hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã nói : “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28).
“Anh em đừng bối rối ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Hãy tin. Bởi có tin vào Thiên Chúa “bất cứ điều gì chúng ta nhân danh Ngài mà xin… thì chính Ngài sẽ làm điều đó” cho chúng ta.
Vâng, Lạy Chúa ! Xin Ngài cất đi những lo lắng và bối rối trong cuộc sống của chúng con. Amen.
Petrus.tran.
Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011
GIÁO LÝ MÙA CHAY
Chủ Nhật, 27 tháng 2, 2011
Công bố Sứ điệp Mùa Chay 2011 của Đức Thánh Cha
VietCatholic News (22 Feb 2011 12:41) LM Trần Đức Anh OP
Những Điểm Tương Đồng Và Khác Biệt Giữa Công Giáo Và Cải Cách (Tin Lành)
Từ đầu thế kỷ XX, mọi Kitô hữu, nhất là ở các giáo hội Tây Phương, đã cảm thấy mối đe dọa chính đối với họ không còn đến từ “bọn Thệ Phản” đối với người Công Giáo, hoặc “phe Công Giáo La Mã” đối với những anh em Tin Lành (Protestant). Nhưng nó đã đến từ các chủ thuyết mới xuất hiện như cộng sản chủ nghĩa, quốc gia chủ nghĩa, khoa học chủ nghĩa, phàm tục chủ nghĩa (secularism), khoái lạc chủ nghĩa (hedoism), tình cảm chủ nghĩa, tà đạo chủ nghĩa (cultism) v.v… Những chủ thuyết mới này đã nhanh chóng chứng tỏ rằng chúng có khả năng làm biến đổi đời sống tinh thần cũng như vật chất của con người và trực tiếp đối chọi với những giá trị bất biến của Kitô giáo. Gần đây, lại có những thành phần quá khích của Hồi giáo đã tạo những cuộc khủng bố, hăm dọa sự an toàn của cả thế giới. Do đó, cùng với những nguyên nhân khác, các Kitô hữu (gồm Công Giáo, Chính Thống - Đông Phương, Tin Lành…) đã thấy sự cấn thiết phải ngồi lại với nhau, tạo một lực lượng chung đễ đương đầu với những thách đố mới.
Tuy vẫn có những tương đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành, nhưng các bất đồng đã và đang là trở ngại chính cho mọi nỗ lực hợp nhất. Ở đây, chúng tôi không muốn dùng tiếng “dị biệt” giữa các anh em Kitô, vì không thể có dị biệt giữa những người anh em, con của một Cha chung. Có chăng, chỉ là những bất đồng giai đoạn mà thôi. Tuy nhiên, giảm thiểu hoặc giản dị hóa những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành trong việc diễn giải Kinh Thánh, đã không thể gọi là một hành động nghiêm chỉnh và thành thật. Mặt khác, nếu không công nhận những tương đồng quan trọng giữa các giáo hội Kitô, sẽ bị cho là thiển cận và thiếu công tâm.
NHỮNG TƯƠNG ÐỒNG
Công Giáo và Tin Lành cùng chia sẻ một nhãn quan xuyên qua những sự kiện vật chất để hướng tới những gía trị tinh thần, đồng thời nhắc nhở con người sống cho cả hai cuộc sống đời này cũng như đời sau. Họ cùng tin vào Thiên Chúa và trung thành với Ðức Giêsu Kitô. Cùng công nhận 10 giới răn như lề luật cho mọi hành vi. Cùng tin rằng con người sau khi sa ngã, nếu không có sự giúp đỡ, tự con người không thể tìm được sự cứu rỗi nếu không có Ðấng Cứu Thế. Họ cùng đọc và tôn trọng Kinh Thánh, tuyên xưng cùng một kinh Tin Kính (của công đồng Nicaea) và cầu nguyện cùng một kinh Lạy Cha. Con người được gia nhập đời sống ân sủng và thánh thiện qua bí tích Rửa Tội, Thanh Niên nam nữ Công Giáo và Tin Lành có thể kết hôn với nhau và phép Hôn Phối đã được các giáo hội tôn trọng. Họ cùng mừng chung các lễ Giáng Sinh và Phục Sinh (trừ các giáo hội Chính Thống Ðông Phương), cùng công nhận các giảng huấn của các thánh Tông Ðồ, các văn bản thánh thiện và chia sẻ các bản thánh ca.
Trong sắc lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio) của Công đồng Vatican II, các nghị phụ đã tuyên bố: “Một khi đã được công chính hóa nhờ đức tin khi chịu phép Rửa Tội, họ (các anh em Tin Lành) đã được tháp nhập vào Chúa Kitô, và vì thế họ có quyền mang danh Kitô hữu, xứng đáng là con cái Chúa và và được giáo hội Công Giáo nhìn nhận là anh chị em trong Chúa.” (Ch.I, đ.3). Về các giáo hội Tin Lành, các nghị phụ cũng đã xác định: “Dù chúng ta tin là họ còn khiếm khuyết, nhưng chính các giáo hội và các cộng đồng tách riêng ấy vẫn chưa trở thành vô nghĩa và vô giá trị trong Mầu Nhiệm Cứu Rỗi. Vì Thánh Thần của Chúa Kitô không khước từ xử dụng họ như những phương tiện cứu rỗi mà năng lực phát xuất từ chính sự sung mãn của Ơn Thánh và Chân Lý đã được ủy thác cho giáo hội Cơng Giáo.” (ibid.)
NHỮNG BẤT ÐỒNG
Người ta có thể chia những bất đồng giữa giáo hội Công Giáo và các giáo hội Tin Lành thành hai loại chính: Những bất đồng căn bản và những bất đồng “tai nạn.”
Các bất đồng tai nạn đã xảy ra theo thời gian và hoàn cảnh địa phương, nhu cầu kỷ luật, biến thiên lịch sử, hội nhập văn hóa mà các giáo hội cảm thấy hữu ích và chấp nhận. Những điều đó đã trở thành cá tính của một giáo hội Tin Lành. Trong trên 300 giáo hội Tin Lành khác nhau, đã không có giáo hội nào hoàn toàn giống giáo hội khác.
Tuy nhiên, chỉ những bất đồng căn bản mới thực sự là những trở ngại chính cho công cuộc hiệp nhất. Các Kitô hữu đã tin rằng con người khi được tạo dựng đã hoàn hảo, nhưng vì xử dụng tự do cách sai lầm nên đã bất tuân lệnh Chúa và sa ngã.
1. Con người sau tội tổ tông (Justification)
Bất đồng đầu tiên giữa Công Giáo và Tin Lành khởi đi từ quan niệm về bản tính của con người sau khi đã sa ngã. Người Công Giáo tin rằng: Sau khi sa ngã, những sung mãn của bản tính và ân sủng của con người đã bị suy yếu. Những ơn Chúa ban cho ông bà Nguyên Tổ trong vườn địa đàng đã bị mất hết. Những ơn đó là ơn siêu nhiên, sự bất tử của thân xác, sự vẹn toàn và không phải đau khổ. Nếu không có ơn Cứu Chuộc, con người sẽ không tự mình tìm đến Nhan Thánh Chúa được. Nhưng bản tính tiên khởi của con người vẫn còn.
Trong khi đó, ông Luther (Lu-Te) lại cho rằng sau khi sa ngã, con người đã mất hết. Tất cả những gì con người làm, kể cả việc thiện, đều gây phiền toái cho Chúa và không có ơn ích gì cả. Sự công chính hóa (justification) chỉ bởi đức tin mà thôi và ơn cứu chuộc là do Chúa ban cách riêng chứ con người không thể tự hưởng bằng những việc lành. Thuyết công chính hóa bởi đức tin đó đã đưa đến ba nguyên tắc khác: Chối bỏ việc con người có lòng muốn tự do (free will), chỉ có công chính hóa ngoại tại, và chối bỏ sự hữu ích của mọi việc thiện.
Ngược lại, người Công Giáo tin rằng con người có toàn quyền xử dụng lòng muốn tự do của mình, ngay cả việc từ chối ơn Chúa ban. Sau khi được công chính hóa toàn diện (bởi đức Tin và Phép Rửa) mọi việc thiện của con người đều nên công trạng. “Ðức tin nếu không có việc làm là đức tin chết.”
2. Ðức tin
Tin Lành: Ðức tin là tác động tối thượng, tin vào Chúa rằng Ngài sẽ cứu ta khỏi hỏa ngục và “che đậy” mọi tội lỗi của ta (Ngài chỉ che đậy chứ tội lỗi vẫn luôn luôn còn). Do đó, đức tin trở nên một hành động của lòng muốn và tình cảm.
Công Giáo: Ðức tin là một sự đồng ý với ơn Chúa mạc khải. Thí dụ: Khi Chúa Kitô nói phép rửa tội thì cần thiết để được cứu rỗi. Chúng ta chấp nhận câu tuyên bố này vì chúng ta tin vào Ngài. Ðức tin đối với người Công Giáo là một hành động của trí khôn.
3. Kinh Thánh
Tin Lành: Kinh Thánh có quyền tôn giáo tối thượng. Không chấp nhận những khẩu truyền kể từ sau thời các thánh Tông Ðồ.
Công Giáo: Chúa Kitô chỉ giảng dạy chứ không viết Kinh Thánh và tự bộ Kinh Thánh đã không được quyền tôn giáo tối thượng. Từ chối khẩu truyền là tự tiện và độc đoán.
Ðối với Tin Lành, mọi người đều có quyền và bổn phận diễn giải Kinh Thánh theo ý mình hiểu. Sự kiện này đã là nguyên nhân đưa đến việc phân chia giữa các giáo hội Tin Lành thành hàng trăm giáo hội khác nhau. Trong khi đó, Công Giáo tin rằng Giáo Hội dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Linh, là cơ quan duy nhất có quyền diễn giải Kinh Thánh. Ðể am tường Kinh Thánh, người ta đã phải thấu hiểu các nguyên ngữ nguyên bản của Kinh Thánh, thần học, lịch sử và khảo cổ học (Archaeology). Do đó, nếu không có những nhà chuyên môn trợ giúp, người ta có thể sẽ không hiểu hoặc hiểu Kinh Thánh cách sai lạc.
4. Quyền bính Ðức Giáo Hoàng
Tin Lành: Giáo hội thì vô hình, những giáo hữu của các giáo hội này chỉ có Chúa biết mà thôi. Ðứng đầu giáo hội là chính Chúa Kitô.
Công Giáo: Chỉ có một giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền do Chúa Kitô khai sáng. Người đứng đầu hữu hình của giáo hội là vị Ðại Diện Chúa Kitô, kế vị thánh Phêrô, là Ðức Giáo Hoàng, là vị Giám Mục thành Roma.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây có nhiều anh em Tin Lành đã tỏ mối thán phục và cảm tình với các ÐHG đặc biệt là Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
5. Những giáo huấn của giáo hội
Tin Lành: Không công nhận giáo hội là một tổ chức thánh thiện có quyền giảng dạy. Ðối với họ, giáo hội chỉ là một tổ chức thân hữu của những người tin vào Chúa Kitô và cùng chia sẻ Lời Chúa.
Công Giáo (và các giáo hội Ðông Phương): Tin Mừng Cứu Rỗi đến với từng cá nhân qua giáo hội với sự bảo đảm không bị sai lầm mà không một Kitô hữu nào dám tự nhận.
6. Các bí tích
Tin Lành: Từ chối tất cả các bí tích, trừ phép Rửa Tội và nghi thức Tiệc Ly, nhưng họ giữ hai điều này vì vâng theo thánh ý Chúa mà thôi. Các phép thống hối (giải tội), thêm sức, truyền chức thánh, hôn phối, và sức dầu bệnh nhân chỉ được giữ như những nghi thức của giáo hội chứ không phải là bí tích.
Về nghi thức tiệc ly (chứ không phải thánh lễ), người Tin Lành từ chối ý nghĩa “của lễ Hi Sinh” và đặt Lời Chúa thành trọng tâm của việc thờ phượng. Vì giáo hội vô hình, lại không có thánh lễ và năm bí tích khác nên chức linh mục cũng trở nên không cần thiết. Tất cả các tín hữu đều là linh mục mà lễ Truyền Chức là phép Rửa Tội. Tuy nhiên, một số người đã được huấn luyện cách đặc biệt, trở thành mục sư để điều hợp cộng đoàn.
Công Giáo: Công nhận tất cả 7 bí tích do Chúa lập ra. Bí tích Thánh Thể gồm cả Lời Chúa, hiến tế hi sinh, và chia sẻ Mình Thánh, chứ không phải chỉ có Lời Chúa mà thôi. Mọi người cùng tham dự vào thiên chức linh mục của Chúa Kitô và là những phần tử của Nhiệm Thể của Ngài. Một số người được ơn gọi đặc biệt làm linh mục để cử hành Hiến Lễ Hi Sinh.
7. Sự Tiền Ðịnh (Predestination)
Tin Lành: Chúa đã chọn một số người vào Thiên Ðàng, còn những người khác bị vào hỏa ngục, dù có ăn ngay ở lành thế nào cũng không thể thay đổi được ý Chúa.
Công Giáo: Hoàn toàn không chấp nhận thuyết này, vì theo đó, con người không còn có lòng muốn tự do, ngược hẳn với tín lý.
Ngoài ra, người Tin Lành còn chối bỏ luyện tội, họ cho rằng sau khi chết, linh hồn hoặc lên thiên đàng, hoặc xuống hỏa ngục mà thôi. Mọi lời cầu nguyện cho kẻ chết đều không có ích gì cả. Họ cũng hủy bỏ việc sùng kính Ðức Mẹ và các Thánh.
NHỮNG HÒA ÐỒNG
Tinh thần hòa giải và hòa hợp hởi đi từ đầu thế kỷ XX đã đưa các giáo hội đến gần nhau hơn, không những chỉ qua lời nói và cử chỉ thân mật bề ngoài, nhưng cả trong thực hành nữa. Những bất đồng giữa Công Giáo và Tin Lành đã thực sự được thu hẹp hơn. Ðặc biệt trong những thập niên sau công đồng Vatican II, thánh lễ đã được cử hành bằng các ngôn ngữ địa phương. Nội dung các bài giảng đã được chuẩn bị và chú trọng cách đặc biệt. Phần tham gia của các tín hữu (đáp ca, thánh ca) cũng được để ý và phát triển hơn. Giáo dân đã tham gia nhiều hơn vào các công tác phụng vụ và mục vụ. Ở nhiều nơi, giáo dân đã chịu Mình Thánh qua cả hình Bánh và hình Rượu như linh mục. Các Thày Sáu Vĩnh Viễn, thường là những người đã lập gia đình, được kể vào hàng giáo sĩ và có quyền giảng, rửa tội, ban phép hôn phối và cử hành nghi thức an táng… Một chiều hướng mục vụ đặc biệt dành cho các cặp hôn nhân giữa Công Giáo và Tin Lành cũng đã được đề cập tới.
Mặt khác, đã có nhiều anh em Tin Lành nhìn lại vai trò của Ðức Mẹ trong đời sống của các Kitô hữu cách nghiêm chỉnh hơn. Họ cũng thay đổi nhãn quan về vai trò và quyền bính của Ðức Giáo Hoàng. Các nhà thần học Công Giáo và Tin Lành đã hội họp với nhau và tìm ra rất nhiều lãnh vực tương đồng giữa các giáo hội mà trước đây người ta đã không nghĩ tới.
Sau khi nhấn mạnh rằng phép Rửa Tội “tạo nên mối giây hiệp nhất tất cả những người đã được tái sinh.” (Sắc Lệnh Hiệp Nhất, ibid. III, 22), các nghị phụ công đồng đã khảo sát đời sống Kitô hữu của các anh em Tin Lành: “Ðời sống Kitô hữu của các anh em ấy được nuôi dưỡng bằng Ðức Tin vào Chúa Kitô và được duy trì nhờ ân sủng của phép Rửa Tội và nhờ nghe Lời Chúa; đời sống ấy biểu lộ trong kinh nguyện riêng, trong việc suy niệm Kinh Thánh, trong đời sống gia đình Kitô giáo, trong việc phụng sự của cộng đoàn tụ hợp để ngợi khen Thiên Chúa.” (ibid.)
Với “con cái trong nhà” các nghị phụ đã ân cần nhắc nhở: “Ngày nay, ở nhiều nơi trên thế giới, nhờ Ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, rất nhiều cố gắng nhằm tiến tới hiệp nhất đầy đủ, theo ý muốn của Chúa Giêsu Kitô đang được thực hiện bằng kinh nguyện, lời nói, việc làm, nên Công Ðồng này khuyến khích tất cả mọi người Công Giáo hãy nhận ra những dấu chỉ thời đại, hãy khéo léo tham gia vào công cuộc hiệp nhất này.” (ibid.I,4).
LM. Phaolô Nguyễn Văn Tùng
Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011
Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Mépu 15/2/2011
“Ân huệ tình yêu tuyệt diệu
Trọn đời cảm mến tri ân”
Ý nghĩa của hai câu đối được treo trên cung thánh đã được Đức Cha Giuse quảng diễn trong bài giảng lễ qua ba niềm vui cảm tạ: nhớ ơn các vị tiền bối, vui mừng với ngôi giáo đường mới, nơi Chúa chọn để hiện giữa Dân Người và mời gọi Dân Chúa tiến bước trên cánh đồng truyền giáo. Ngôi giáo đường khang trang này gợi nhớ bao nhiêu công lao của các vị tiền bối đã đang góp công xây dựng giáo xứ này, từ những ngày đầu gian khổ qua bao thăng trầm của lịch sử, cho đến hôm nay giáo xứ trưởng thành. Vui mừng hơn nữa là ngôi thánh đường bao tháng ngày mơ ước đã thành hiện thực, giữa cánh đồng xanh bao la của vùng đất Mépu. Từ đây Thiên Chúa đã có một địa chỉ cố định, khi nhà thờ được cung hiến, dấu hiệu của sự hiện diện của Thiên Chúa trên vùng đất này. Niềm vui cuối cùng là tính truyền giáo của buổi lễ hôm nay, cũng như của cả cộng đoàn giáo xứ Mépu, đang vui sướng khẳng định vị trí của mình nhờ ngôi thánh đường khang trang đẹp đẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho sứ mệnh loan báo Tin Mừng.
Nhà thờ mới có tổng diện tích trên 700 m2, chứa khoảng 600 chỗ ngồi.
Ngược dòng lịch sử, từ năm 1960, nhà thờ Mépu chỉ là một căn nhà lá thô sơ, nơi cố Lm Hoàng Kim Điền quản xứ Huy Khiêm đến dâng thánh lễ hằng tuần cho khoảng 800 giáo dân gốc Quảng Nam, Quảng Trị đến vùng đất Mépu lập nghiệp. Năm 1962, cố Lm Antôn Mai Khắc Cảnh quản xứ tiên khởi xây dựng nhà thờ, nhưng năm 1964 bị đổ nát do chiến tranh, giáo dân tản cư lánh nạn. Sau năm 1975, giáo dân trở về quê cũ, nhưng nhà thờ không còn, muốn dự lễ phải về Võ Đắt, Gia An hay Phương Lâm xa xôi đến trên 20 cây số. Năm 1977, với phong trào kinh tế mới, vùng đất Mépu đón tiếp thêm nhiều gia đình từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên về đây sinh sống. Số giáo dân tăng đến con số trên 1000 người, sinh hoạt tôn giáo trở thành một nhu cầu rất lớn. Từ năm 1990, giáo họ Mépu trực thuộc Giáo xứ Võ Đắt, bà con giáo dân tự động tổ chức các giờ kinh, phụng vụ Lời Chúa. Từ năm 1994, giáo dân Mépu mới được lãnh nhận các bí tích thường xuyên hơn, nhờ sự quan tâm của Cha Hạt trưởng và quí Cha trong vùng. Năm 1997, các thánh lễ chúa nhật và lễ trọng được cử hành trong sân nhà của một giáo dân. Mọi sinh hoạt tôn giáo lúc này vẫn chưa chính thức, vì thế khung nhà tiền chế làm nơi cử hành thánh lễ năm 2000, vừa dựng lên đã bị tháo dỡ. Năm 2006, Giáo Họ Mépu trực thuộc Giáo xứ Võ Xu, Cha Phaolô Nguyễn Văn Hạnh, quản xứ và quí Cha trong Hạt cũng thay nhau đến cử hành các bí tích cho Giáo họ. Tháng 11/2007, Giáo họ Mépu chính thức được công nhận cùng với ban điều hành giáo họ và xúc tiến việc mua đất xây dựng nhà thờ. Năm 2008, khung sắt tiền chế lại được dựng lên làm nhà nguyện tạm, để vừa dâng thánh lễ, học giáo lý và hội họp. Và cuối cùng ngày 12/1/2009, Giáo Họ Mépu hân hoan đón tiếp Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết, trên 20 Linh mục, đông đảo các Nữ Tu và trên 3000 giáo dân từ khắp nơi đến dâng thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Mépu. Và hôm nay trên cánh đồng lúa vàng của xã Mépu, ngôi thánh đường mơ ước đã hoàn thành, một mùa gặt mới đầy hứa hẹn.
Suốt 50 năm trôi qua, với bao thăng trầm, sức sống Mépu đã từng ngày vươn lên, cho đến hôm nay con số giáo dân là 2300 người, gồm Mépu 1, Mépu 2 và Sùng Nhơn. Giáo họ Mépu đã khẳng định được tầm vóc của mình. Vì thế trong niềm hân hoan phấn khởi với ngôi nhà thờ mới, Giáo Họ Mépu đã được Đức Giám Mục Giáo Phận chính thức nâng lên hàng Giáo Xứ với đầy đủ quyền lợi theo Giáo luật kể từ ngày 15/01/2011.
Nhờ lời bầu cử của Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, Bổn mạng của Giáo Xứ, nguyện chúc Giáo Xứ Mépu phát triển vững mạnh trong sứ mệnh chứng nhân cho Tình Yêu của Thiên Chúa trong cánh đồng lúa Mépu mênh mông.
Thảo Hương
Lễ Khánh Thành Nhà Thờ Nam Hà, GP Phan Thiết.
Khởi đầu thánh lễ, Cha Hạt Trưởng Đức Tánh đã long trọng đọc quyết định nâng giáo họ Nam Hà lên hàng Giáo Xứ.
Trên 18 năm lưu lạc với 29 gia đình buổi ban đầu khó khăn, hôm nay Nam Hà đã có điểm dừng, như ngày xưa Ba Vua đã từ phương xa đến và dừng lại ở Bê Lem gặp Chúa Hài Đồng. Ngôi giáo đường mới như địa điểm dừng chân, nơi đây Chúa đã chọn để hiện diện giữa dân Ngài. Từ hôm nay, đây là chỗ Dân Chúa lãnh nhận các bí tích, nơi Thiên Chúa qui tụ Dân Chúa để thi ân giáng phúc, như ngày xưa Chúa Giêsu đã đoái thương đến nhà Ông Gia Kêu, để “hôm nay nhà này được ơn cứu độ”. Nhưng nhà thờ chỉ là chỗ dừng chân để tiếp tục hành trình sứ vụ tông đồ của mỗi Kitô hữu. Vì thế, ngôi giáo đường khang trang nơi vùng đất vốn hoang vu, đã trở thành “phép lạ”. Thiên Chúa đã chọn vùng đất này để hiển linh, như tước hiệu Giáo Xứ đã chọn, vang lên tiếng gọi làm cho “Danh Cha cả sáng”.
Hân hoan đón nhận hồng ân Thiên Chúa hôm nay, vị đại diện giáo xứ đã vui mừng nhìn lại lịch sử của giáo xứ và quá trình xây dựng nhà thờ như sau:
“Vào tháng 03 - 1993 nhà nước đưa dân từ miền Bắc thuộc Tỉnh Nam Hà vào lập nghiệp, trong đó có 29 hộ gia đình công giáo thuộc 2 giáo phận: Bùi Chu và Hà Nội.
Những ngày đầu tiên chúng con gặp rất nhiều khó khăn, rừng núi âm u, đường mòn lầy lội nhà thờ thì xa, nên việc tham dự Thánh lễ ngày chủ nhật cũng bị thất thường, lúc bấy giờ mọi người rất lo lắng và hoang mang về đời sống đạo. Đến tháng 04-1995 thì được Cha Phêrô Nguyễn Đình Sáng phụ trách Giáo xứ Chính Tâm, hướng dẫn quy tụ nhau lại lập thành một giáo khu, trực thuộc Giáo xứ Thánh Tâm. Thời gian sau, giáo khu được phát triển theo ngày tháng, và lấy tên là giáo họ Nam Hà. Trong 3 năm đầu không có nhà thờ, giáo họ chúng con rất lúng túng trong việc tổ chức đọc kinh và chia sẻ lời Chúa tại các tư gia. Đến tháng 12/1995 để thuận lợi cho việc đọc kinh cầu nguyện và cử hành Thánh lễ, giáo họ chúng con có mượn nhà của một giáo dân để làm nơi thờ tự. Đến tháng 01/1996 giáo họ được nhận lễ Chúa Hiển Linh làm bổn mạng và Thánh lễ đầu tiên được cử hành tại ngôi Nhà Tạm này.
Chúng con cũng xin có đôi lời dâng lên Đức cha Phaolô: Ngày 15/06/2007 Đức cha có đến thăm động viên và hướng dẫn chúng con xin giấy phép xây nhà thờ. Đến ngày 04/04/2008 được UBND Tỉnh và Sở xây dựng chấp thuận. Ngày 25/06/2008 lễ đặt viên đá đầu tiên do Đức cha Phaolô chủ sự, đến lúc này chúng con vẫn chưa có kinh phí để mua vật liệu. Công việc phải tạm ngưng, cha quản xứ phải tạo mọi điều kiện để ra nước ngoài hồi tháng 06/2008 để tìm kiếm các ân nhân giúp đỡ, tới tháng 09/2008 cha về nước và công việc xây dựng mới được tiến hành, cái khó lại bó cái khôn, lúc đó đất của nhà thờ chỉ có bề ngang 30m, thì có xây dựng xong cũng không thuận lợi cho việc đi lại và rước chung quanh Thánh đường, nên một lần nữa phải tạm dừng, để xin hoán đổi đất. Đến ngày 21/08/2009 mới được UBND Tỉnh và Sở xây dựng chấp thuận cho việc hoán đổi. Hiện nay đất của nhà thờ bề ngang 60m, dài 150m, tổng diện tích là 8.384m2 lúc này thuận tiện cho việc xây cất. Đến ngày 23/09/2008 bắt đầu khai móng. Thời điểm đó đã vào cao điểm mùa mưa, đất thì nằm ngay vị trí trũng nên không thể đào được, cha xứ lại cho ngưng thi công để chờ bớt mưa. Đến ngày 20/06/2010 công trình bắt đầu tiếp tục. Diện tích nhà thờ là 776m2 ngang 22m dài 40m cao 17m. Tháp chuông 26m.
(…)
Đây là một công trình khiêm tốn mà giáo họ chúng con hôm nay đã tạm hoàn thành, và cũng là một ân huệ mà Thiên Chúa đã đoái thương đến cộng đoàn nhỏ bé chúng con.” (trích “Lược sử hình thành xây dựng nhà thờ Nam Hà”, Giuse Vũ Văn Trang, Chủ tịch HĐMVGX Nam Hà)
Sức sống của Nam Hà hôm nay đã thực sự “Hiển Linh”. Nguyện chúc Giáo Xứ Nam Hà ngày càng phát triển mọi mặt để cho Tin Mừng được loan báo trên vùng đất dồi dào cây trái của Huyện Đức Linh.
Bình Nguyên
Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2011
CHÚA NHẬT THỨ IV THƯỜNG NIÊN NĂM A

30 tháng 1/2011: CHÚA NHẬT THỨ IV THƯỜNG NIÊN NĂM A
SUY NIỆM TIN MỪNG NHỮNG MỆNH LỆNH YÊU THƯƠNG
Trong Phim Ben Hur, đạo diễn cố tạo ra khung cảnh vừa ngoạn mục, vừa phác họa thân phận bất lực của con người trên một ngọn đồi, để làm nổi bật Bài Giảng Trên Núi về Tám Mối Phúc Thật của Chúa Giêsu. Người ta có thể từ đó đọc được ý nghĩa phó thác cậy trông nhiều hơn vào tình thương Chúa, hoặc có khi cũng được an ủi yên vui khi tin thật vào những lời hứa của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, bản chất của Tám Mối Phúc Thật, vì là hiến chương Nước Trời, nên không hề có tính cách tiêu cực, mà thực sự là những mệnh lệnh yêu thương cho cuộc sống nhân loại hướng về Nước Trời. Thực vậy, những lời hứa của Chúa Giêsu như Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp; hoặc tương tự như Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an... không có nghĩa tiêu cực an ủi trong thân phận và hoàn cảnh buộc phải chịu vậy, để được một điều tốt hơn, bởi suy nghĩ cho kỹ, thì một khi đã mang thân phận con người sau tội tổ tông, có ai trong đời mà không buồn đau, nghèo khó, đói khát, yếu đuối, tội lỗi và phải chịu muôn phần cơ cực... Như thế những lời hứa của Chúa Giêsu chẳng những nói lên sự thật đời người trước các hậu quả của tội tổ tông, mà còn là những con đường buộc nhân loại phải đi ngược lại cái thân phận bị ảnh hưởng trong bản năng yếu đuối và tội lỗi của mình, để có thể hưởng được ơn cứu độ của Chúa. Thế nên một khi sống hiền lành, là tức khắc phải từ bỏ các khuynh hướng và hành động gian ác; một khi chịu cảnh buồn đau, thì lập tức thấy rõ hơn thân phận mình, rồi phó thác vào Chúa thì sẽ được Ngài an ủi đỡ nâng; một khi khát khao điều công chính, thì dĩ nhiên phải từ bỏ con đường bất công trong đời, để nép mình theo đường lối chính trực của Chúa; một khi biết xót thương người, là chính lúc phải khắc phục bản tính ích kỷ tiềm tàng sâu kín trong nội tâm ta, mới hiểu được niềm khao khát yêu thương của tha nhân cũng là của mình; một khi muốn tâm hồn trong sạch, phải can đảm lắm trước các cám dỗ tội lỗi và các khuynh hướng xấu xa; một khi biết ăn ở thuận hòa, phải luôn chiến thắng bản tính hiếu thắng và cái tôi không chịu nhường bước trước các mối lợi cho riêng mình; và một khi chấp nhận chịu bách hại vì Chúa, thì cũng chấp nhận cái chết như Chúa Kitô. Tất cả các mối phúc thật do đó trở nên những mệnh lệnh cho đời người Kitô hữu. Những mệnh lệnh này rất lạ lùng, vì mở đầu bằng lời chúc phúc, nên không còn mang tính bắt buộc, mà là những lời mời gọi yêu thương của Chúa Giêsu, để con người có thể đi vào con đường thánh thiện trên hành trình tiến về thiên quốc.