Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2010

Sứ điệp của ĐTC Benêđictô XVI nhân ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 25

Sứ điệp của ĐTC Biển Đức 16 nhân ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 25
sẽ cử hành ngày Chúa nhật Lễ Lá 28-3-2010

”Thưa Thầy nhân lành, con phải là gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (Mc 10,17)

Các bạn thân mến,

Năm nay chúng ta mừng kỷ niệm 25 năm thành lập Ngày Quốc Tế giới trẻ, mà Đấng Đáng Kính Gioan Phaolô 2 đã muốn như một cuộc hẹn hằng năm của các tín hữu trẻ trên toàn thế giới. Đây là một sáng kiến tiên tri đã mang lại nhiều thành quả dồi dào, giúp các thế hệ Kitô trẻ gặp gỡ nhau, lắng nghe Lời Chúa, khám phá vẻ đẹp của Giáo Hội và sống những kinh nghiệm nồng nhiệt về đức tin, làm cho nhiều người đi tới quyết định tận hiến cho Chúa Kitô.

Ngày Quốc Tế giới trẻ thứ 25 năm nay là một giai đoạn tiến về Đại Hội Giới Trẻ thế giới sẽ diễn ra vào tháng 8 năm 2011 tại Madrid, nơi mà tôi hy vọng sẽ có đông đảo các bạn đến sống biến cố hồng phúc này.

Để chuẩn bị cho cuộc cử hành ấy, tôi muốn đề nghị với các bạn một vài suy tư về đề tài năm nay: ”Thưa Thày nhân lành, con phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Mc 10,17), rút từ giai thoại Tin Mừng về cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với chàng thanh niên giàu có; đề tài này đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 bàn đến hồi năm 1985 trong một Lá Thư rất hay, lần đầu tiên được gửi đến giới trẻ.

1. Chúa Giêsu gặp chàng thanh niên

Phúc Âm thánh Marco kể lại: ”Trong khi Chúa Giêsu đi đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: ”Thưa Thầy nhân lành, con phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Chúa Giêsu đáp: ”Sao anh nói tôi là nhân lành? Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các giới răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy tôn kính cha mẹ”. Anh ta nói: ”Thưa Thầy, tất cả những điều đó, con đã tuân giữ từ thủa nhỏ. Chúa Giêsu đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: Anh chỉ thiếu một điều, là hãy bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”. Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải” (Mc 10,17-22).

Trình thuật này diễn tả sống động sự quan tâm đặc biệt của Chúa Giêsu đối với người trẻ, đối với các bạn, đối với những mong đợi, hy vọng của các bạn và chứng tỏ Chúa nồng nhiệt đích thân gặp các bạn và đối thoại với mỗi người trong các bạn. Thực vậy, Chúa Kitô dừng lại để trả lời câu hỏi của người đối thoại, biểu lộ sự hoàn toàn sẵn sàng đối với chàng thanh niên, và Ngài cảm động vì ước muốn nồng nhiệt của anh mong được nói với” Thầy Nhân Lành”. Qua đoạn Phúc Âm này, vị Tiền Nhiệm của tôi muốn khuyên mỗi người các bạn ”hãy phát triển cuộc đối thoại riêng với Chúa Kitô - một cuộc đối thoại có tầm quan trọng cơ bản và thiết yếu đối với một người trẻ” (Thư gửi giới trẻ, số 2).

2. Chúa Giêsu nhìn anh và đem lòng yêu mến

Trong trình thuật Phúc Âm, thánh Marcô nhấn mạnh điều này ”Chúa Giêsu nhìn anh và đem lòng yêu mến” (Xc Mc 10,21). Trong cái nhìn của Chúa có trọng tâm cuộc gặp gỡ rất đặc biệt và toàn thể kinh nghiệm Kitô giáo. Thực vậy, Kitô giáo trước tiên không phải là một nền luân lý, nhưng là cảm nghiệm Chúa Giêsu Kitô, Đấng đích thân yêu thương chúng ta, dù già hay trẻ, nghèo hay giầu; Ngài cũng yêu chúng ta khi chúng ta quay lưng lại với Ngài.

Khi bình luận về cảnh tượng này, ĐGH Gioan Phaolô 2 ngỏ lời với các bạn trẻ và thêm rằng: ”Cha cầu chúc các con cảm nghiệm được một cái nhìn như thế! Cha cầu chúc các con cảm nghiệm chân lý này: Chúa Kitô đang thương mến nhìn các con!” (Thư gửi giới trẻ, số 7). Một tình thương được biểu lộ trên Thập Giá một cách đầy đủ và trọn vẹn như thế, khiến thánh Phaolô kinh ngạc viết lên: ”Người đã thương yêu và nạp mình vì tôi” (Gl 2,20). Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 còn viết: ”Ý thức rằng Chúa Cha vẫn luôn yêu thương chúng ta trong Con của Ngài, và Chúa Kitô yêu thương mỗi người và mãi mãi, điều ấy trở thành một điểm vững chắc nâng đỡ toàn thể cuộc sống nhân trần của chúng ta” (Thư gửi giới trẻ, số 7), và giúp chúng ta vượt thắng mọi thử thách: sự khám phá tội lỗi chúng ta, đau khổ, nản chí.

Trong tình thương ấy có nguồn mạch toàn thể đời sống Kitô giáo và lý do nền tảng của công cuộc rao giảng Tin Mừng: nếu chúng ta thực sự đã gặp Chúa Giêsu, chúng ta không thể không làm chứng về Ngài cho những người chưa được gặp cái nhìn của Ngài!

3. Khám phá dự phóng đời sống

Nơi người trẻ trong Phúc Âm, chúng ta có thể nhận thấy một hoàn cảnh rất giống tình trạng mỗi người trong các bạn. Cả các bạn cũng có nhiều phẩm tính, nghị lực, ước mơ, hy vọng: đó là những nguồn tài nguyên các bạn có dồi dào! Chính tuổi trẻ của các bạn cũng là một sự phong phú lớn lao không những cho các bạn, nhưng còn cho cả người khác nữa, cho Giáo Hội và thế giới.

Chàng thanh niên giàu có hỏi Chúa Giêsu: ”Con phải làm gì?”. Giai đoạn hiện nay trong cuộc sống của các bạn là thời kỳ khám phá những hồng ân mà Thiên Chúa rộng ban cho các con và khám phá những trách nhiệm của các bạn. Cũng vậy, đây là giai đoạn thực hiện những chọn lựa cơ bản để xây dựng dự phóng cuộc sống của các bạn. Vì thế, đây là lúc các bạn hỏi mình về ý nghĩa đích thực của cuộc sống và tự hỏi: ”Tôi có thỏa mãn về cuộc sống của tôi hay không? Có thiếu cái gì nữa không?”

Như chàng thanh niên trong Phúc Âm, có lẽ các bạn cũng sống trong những hoàn cảnh bấp bênh, xáo trộn hoặc đau khổ, khiến các bạn khao khát một cuộc sống không tầm thường và các bạn tự hỏi: một cuộc sống thành đạt hệ tại điều gì? Tôi phải làm gì? Dự phóng cuộc sống của tôi có thể như thế nào? ”Tôi phải làm gì để cuộc sống của tôi có giá trị và ý nghĩa trọn vẹn?” (Ibid. số 3).

Các bạn đường sợ đương đầu với những câu hỏi như thế! Chúng không đè nặng các bạn, nhưng biểu lộ những khát vọng cao cả, hiện diện trong tâm hồn các bạn. Vì thế, hãy lắng nghe chúng. Những câu hỏi ấy đang chờ đợi những câu trả lời không hời hợt, nhưng có khả năng thỏa mãn những mong đợi đích thực của các bạn về sự sống và hạnh phúc.

Để khám phá dự án cuộc sống có thể làm cho các bạn thực sự hạnh phúc, các bạn hãy lắng nghe Chúa, Đấng có một dự phóng yêu thương cho mỗi người các bạn. Với lòng tín thác, các bạn hãy hỏi Chúa: ”Lạy Chúa, đâu là dự phóng Chúa là Đấng Tạo Hóa và là Cha dành cho cuộc đời của con? Đâu là ý Chúa? Con muốn chu toàn ý Chúa”. Các bạn hãy tin chắc Chúa sẽ trả lời cho các bạn. Các bạn đừng sợ câu trả lời của Chúa! ”Thiên Chúa lớn hơn trái tim của chúng ta và thấu suốt mọi sự” (1 Ga 3,20)

4. Hãy đến và theo Thầy!

Chúa Giêsu mời gọi chàng thanh niên giàu có hãy đi xa hơn việc thỏa mãn những khát vọng và dự phóng bản thân của anh và nói: ”Hãy đến và theo Thầy!” Ơn gọi Kitô giáo phát sinh từ một đề nghị yêu thương của Chúa và chỉ có thể được thực hiện nhờ một câu trả lời yêu thương: ”Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ của Ngài hiến toàn thân, không tính toán và so đo theo phàm nhân, nhưng với lòng tín thác không chút dè dặt nơi Thiên Chúa. Các thánh đón nhận lời mời gọi yêu sách ấy và ngoan ngoãn bước theo Chúa Kitô chịu đóng đinh và sống lại. Sự trọn lành của các vị, theo tiêu chuẩn đức tin, đôi khi thực là khó hiểu theo cái nhìn của con người. Sự trọn lành ấy hệ tại không đặt mình ở vị thế trung tâm nữa, nhưng quyết định đi ngược dòng sống theo Tin Mừng” (Biển Đức 16, bài giảng nhân lễ phong thánh, Oss. Rom., 12-13.10.2009, tr.6).

Hỡi các bạn quí mến, noi gương bao nhiêu môn đệ của Chúa Kitô, các bạn cũng hãy hân hoan đón nhận lời mời gọi theo Chúa, sống nồng nhiệt và phong phú trong thế giới này. Thực vậy, qua bí tích rửa tội, Chúa gọi mỗi người trong các bạn bước theo Ngài bằng những hành động cụ thể, yêu mến Ngài hơn mọi sự và phụng sự Ngài nơi các anh chị em mình. Rất tiếc là chàng thanh niên giàu có không đón nhận lời mời của Chúa Giêsu và ra đi trong buồn sầu. Anh ta không tìm được can đảm rời bỏ những của cải vật chất để tìm được điều thiện hảo lớn hơn do Chúa Giêsu đề nghị.

Sự buồn rầu của chàng thanh niên giàu có trong Phúc Âm là điều nảy sinh trong tâm hồn của mỗi người khi họ không có can đảm theo Chúa Kitô, thực hiện những chọn lựa đúng đắn. Nhưng không bao giờ quá trễ để trả lời Chúa.

Chúa Giêsu không bao giờ ngừng hướng cái nhìn yêu thương và mời gọi trở thành môn đệ của Ngài, nhưng Ngài đề nghị với một số người một sự chọn lựa quyết liệt hơn. Trong Năm Linh Mục này, tôi muốn khuyên các người trẻ và thiếu niên hãy chăm chú nếu Chúa mời gọi họ đón nhận một hồng ân trọng đại hơn, trong đời sống linh mục thừa tác, và sẵn sàng quảng đại, hăng hái đón nhận dấu hiệu yêu thương đặc biệt ấy, cùng với một linh mục, với vị linh hướng, bắt đầu hành trình phân định cần thiết. Rồi, hỡi các bạn trẻ nam nữ quí mến, các bạn đừng sự nếu Chúa gọi các bạn vào đời sống tu trì, đời đan tu, thừa sai hoặc thánh hiến đặc biệt: Ngài biết ban niềm vui sâu xa cho những người can đảm đáp lại!

Ngoài ra, tôi cũng mời tất cả những người cảm thấy ơn gọi sống đời hôn nhân hãy đón nhận ơn gọi ấy trong đức tin, dấn thân đặt những nền tảng vững chắc để sống một tình yêu lớn lao, chung thủy và cởi mở đón nhận sự sống, là sự phong phú và ân phúc cho xã hội và cho Giáo Hội.

5. Hướng về đời sống vĩnh cửu

”Con phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”. Câu hỏi này của chàng thanh niên trong Phúc Âm có vẻ xa vời đối với những bận tâm của nhiều người trẻ ngày nay, vì như Vị Tiền Nhiệm của tôi đã nhận xét, ”chúng ta chẳng phải là thế hệ mà thế giới và sự tiến bộ trần thế chiếm trọn chân trời cuộc sống sao?” (Thư gửi giới trẻ, số 5). Nhưng câu hỏi về ”sự sống đời đời” xuất hiện đặc biệt trong những lúc đau thương của cuộc sống, khi chúng ta bị mất người thân cận hoặc khi chúng ta sống kinh nghiệm thất bại.

Nhưng ”sự sống đời đời” mà chàng thanh niên giàu có nói đến là gì? Chúa Giêsu giải thích điều này khi Ngài nói với các môn đệ và quả quyết: ”Thầy sẽ gặp lại các con và tâm hồn các con sẽ vui mừng và không ai có thể tước đoạt niềm vui của các con” (Ga 16,,22). Đó là những lời cho thấy một đề nghị phấn khởi về hạnh phúc vô tận, về niềm vui được tràn đầy tình thương của Chúa mãi mãi.

Việc tự hỏi về tương lai chung kết đang chờ đợi mỗi người chúng ta mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống, vì nó hướng dẫn dự phóng cuộc sống về những chân trời không bị giới hạn và phù du, nhưng bao la và sâu xa, làm cho ta yêu mến thế giới, vốn được Thiên Chúa yêu thương dường nào, hiến thân cho việc phát triển thế giới ấy, nhưng luôn giữ niềm tự do và niềm vui phát sinh từ đức tin và từ đức cậy. Đó là những chân trời giúp chúng ta không tuyệt đối hóa những thực tại trần thế, cảm thấy rằng Thiên Chúa chuẩn bị chúng ta đến một viễn tượng lớn lao hơn, và lập lại như thánh Augustino: ”Chúng ta cùng mong ước quê hương thiên quốc, chúng ta khao khát quê hương thiên quốc, chúng ta cảm thấy mình là lữ khách trên trần thế này” (Chú giải Phúc Âm thánh Gioan, Bài giảng 35, 9). Mắt hướng nhìn về sự sống vĩnh cửu, chân phước Pier Giorgio Frassati, qua đời năm 1925, lúc mới 24 tuổi, đã nói: ”Tôi muốn sống thực chứ không sống vất vưởng!” và trên tấm hình chụp một cuộc leo núi, gửi cho một người bạn, chân phước viết: ”Hướng lên cao”, ám chỉ sự trọn lành Kitô giáo, nhưng cũng ám chỉ đời sống vĩnh cửu.

Các bạn trẻ thân mến, tôi khuyên các bạn đừng quên viễn tượng này trong dự phóng đời sống các bạn: chúng ta được kêu gọi sống vĩnh cửu. Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta để mãi mãi ở với Ngài. Ngài sẽ giúp các bạn mang lại một ý nghĩa trọn vẹn cho những chọn lựa của các bạn và mang lại phẩm chất cho cuộc đời các bạn.

6. Các giới răn, con đường yêu thương đích thực

Chúa Giêsu nhắc nhở chàng thanh niên giàu có về 10 giới răn như những điều kiện cần thiết để ”được sự sống đời đời làm gia nghiệp”. Các giới răn là những điểm tham chiếu thiết yếu để sống trong tình yêu thương, để phân biệt rõ ràng thiện ác và kiến tạo một dự phóng cuộc sống vững chắc và lâu bền. Cả các bạn, Chúa Giêsu cũng hỏi xem các bạn có biết các giới răn không, các bạn có quan tâm huấn luyện lương tâm của mình theo luật Chúa và mang ra thực hành hay không.

Chắc hẳn đây là những câu hỏi đi ngược dòng so với não trạng ngày nay vẫn đề nghị một thứ tự do không bị các giá trị, luật lệ và các qui luật khách quan ràng buộc, và kêu mời phủ nhận mọi giới hạn được đề ra cho những ước muốn trong lúc này. Nhưng loại đề nghị như thế, thay vì dẫn đến tự do đích thực, chỉ dẫn con người đến chỗ trở thành nô lệ cho chính mình, cho các ý muốn nhất thời, cho những thần tượng như quyền hành, tiền bạc, lạc thú vô độ và những cám dỗ của thế giới, làm cho họ không còn khả năng theo ơn gọi yêu thương bẩm sinh nữa.

Thiên Chúa ban cho chúng ta các giới răn vì Ngài muốn giáo dục chúng ta về tự do đích thực, vì Ngài muốn cùng với chúng ta xây dựng một Vương quốc tình thương, công lý và hòa bình. Nghe và mang các giới răn ra thực hành không có nghĩa là trở nên tha hóa, nhưng tìm được con đường tự do và yêu thương đích thực, vì các giới răn không giới hạn hạnh phúc, nhưng chỉ dẫn cách tìm được hạnh phúc. Đầu cuộc nói chuyện với chàng thanh niên giàu có, Chúa Giêsu đã nhắc nhở rằng luật do Thiên Chúa ban là tốt lành, vì Thiên Chúa là Đấng Tốt Lành.

7. Chúng tôi cần các bạn

Ngày nay ai sống thân phận người trẻ thì thường phải đương đầu với nhiều vấn đề phát sinh từ nạn thất nghiệp, thiếu những tham chiếu lý tưởng chắc chắn và viễn tượng cụ thể cho tương lai. Đôi khi người ta có cảm tưởng bất lực đứng trước những khủng hoảng và sự trôi dạt ngày nay. Tuy có khó khăn, nhưng các bạn đừng nạn chí và đừng từ bỏ những ước mơ của mình! Trái lại hãy vun trồng trong tâm hồn những ước muốn cao thượng về tình huynh đệ, công lý và hòa bình. Tương lai nằm trong tay người nào biết tìm kiếm và thấy được những lý do mạnh mẽ để sống và hy vọng. Nếu các bạn muốn, thì tương lai nằm trong tay các bạn, vì những năng khiếu và sự phong phú mà Chúa giữ trong tâm hồn mỗi người trong các bạn, được uốn nắn nhờ cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, có thể mang lại hy vọng đích thực cho thế giới! Chính niềm tin vào tình thương của Chúa làm cho các bạn mạnh mẽ và quảng đại, mang lại cho các bạn can đảm thanh thản tiến bước trên đời đời và đảm nhận trách nhiệm gia đình và nghề nghiệp. Hãy dấn thân xây dựng tương lai của các bạn qua những hành trình nghiêm túc của sự huấn luyện bản thân và học hànhk để phục vụ công ích một cách khéo léo và quảng đại.

Trong Thông điệp mới đây về sự phát triển nhân bản toàn diện, Caritas in veritate (Bác ái trong chân lý), tôi đã liệt kê một số thách đố hiện nay, rất cấp thiết và quan trọng đối với cuộc sống của thế giới này: đó là sự sử dụng các tài nguyên trái đât và tôn trọng môi sinh, sự phân chia đúng đắn các của cải và sự kiểm soát các cơ cấu tài chánh, tình liên đới với những nước nghèo trong khuôn khổ gia đình nhân loại, cuộc chiến chống nghèo đói trên thế giới, thăng tiến phẩm giá lao công của con người, phục vụ nền văn hóa sự sống, kiến tạo hòa bình giữa các dân tộc, đối thoại liên tôn, sử dụng đúng đắn các phương tiện truyền thông xã hội.

Đó là những thách đố mà các bạn được kêu gọi trả lời để xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn. Đó là những thách đố đòi một dự phóng cuộc sống có nhiều yêu sách và làm say mê, trong đó cần đặt tất cả những phong phú của các bạn theo kế hoạch của Thiên Chúa dành cho mỗi người trong các bạn. Đây không phải là thực hiện những cử chỉ anh hùng hoặc ngoại thường, nhưng là hành động bằng cách làm cho những năng khiếu và khả năng của mình được sinh lợi, dấn thân tiến bộ liên tục trong tin yêu.

Trong Năm Linh Mục này, tôi mời gọi các bạn hãy tìm hiểu cuộc đời các thánh, đặc biệt là các thánh linh mục. Các bạn sẽ thấy rằng Thiên Chúa hướng dẫn họ và họ đã tìm được con đường của mình, ngày này qua ngày khác, trong niềm tin, cậy, mến. Chúa Kitô kêu gọi mỗi người các bạn dấn thân với Ngài và đảm nhận những trách nhiệm của mình để kiến tạo nền văn minh tình thương. Nếu các bạn sống theo Lời Chúa, thì cả con đường của các bạn cũng sẽ chiếu sáng rạng ngời và dẫn các bạn đến những mục tiêu cao cả, mang lại vui mừng và ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống.

Xin Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội, tháp tùng các bạn qua sự che chở của Mẹ. Tôi hứa nhớ đến cạc bạn trong kinh nguyện và thân ái chúc lành cho các bạn.

Vatican ngày 22 tháng 2 năm 2010

+ Biển Đức XVI, Giáo Hoàng
(LM. Trần Đức Anh, OP, chuyển ý)

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2010

14 tháng 3/2010: CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY NĂM C

BÀI ĐỌC I: Gs 5, 9a. 10-12
"Dân Chúa tiến vào đất Chúa hứa và mừng Lễ Vượt Qua". Trích sách Giosuê. Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Giosuê rằng: "Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!" Con cái Israel tạm trú tại Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cách đồng Giêricô. Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản năm đó của xứ Canaan. Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7 Đáp: Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao (c. 9a).
Xướng: 1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui.
2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ.
3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn.

BÀI ĐỌC II: 2 Cr 5, 17-21

"Thiên Chúa đã nhờ Đức Kitô giao hoà chúng ta với mình". Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô. Anh em thân mến, nếu ai ở trong Đức Kitô, thì người đó sẽ là một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới. Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Đấng đã nhờ Đức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Đấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Đức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Đức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Đấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa. Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Lc 15, 18 Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha.

PHÚC ÂM: Lc 15, 1-3. 11-32
"Em con đã chết nay sống lại".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, những người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng; thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Người kia có hai con trai. Đứa em thưa với cha rằng: 'Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con'. Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả của mình, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó, và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ cặn bã heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó hồi tâm lại và tự nhủ: 'Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói. Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha" '. Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu... Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa'. Nhưng người cha bảo đầy tớ: 'Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng: vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất, nay lại tìm thấy'. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình. "Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: 'Đó là em cậu đã trở về, và cha cậu đã giết bê béo, vì thấy cậu ấy về mạnh khoẻ'. Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào. Nhưng anh trả lời: 'Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn. Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đàng điếm, nay trở về thì cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó'. Nhưng người cha bảo: 'Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy' ". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG KHÁT VỌNG VÀ THỎA MÃN
Khát vọng luôn diễn tả một thực tế túng thiếu trong đời sống nhân loại. Khát vọng càng cao và càng dài, sẽ thấy mọi nhu cầu và của cải vật chất cũng như tinh thần càng ngắn lại. Kết qủa là tâm hồn con người sẽ không thể được thỏa mãn do các nỗ lực và hưởng thụ trong cuộc sống mình. Người con hoang trong dụ ngôn Người Cha Nhân Lành là biểu tượng cho sự khát vọng nhân loại. Có thể nói, hưởng thụ để thỏa mãn khát vọng đời sống con người nói chung là một nhu cầu chính đáng, bởi nó luôn tìm hướng về sự thỏa mãn tuyệt đối mà tự nó không thể tìm thấy. Người con hoang đi tìm hưởng thụ là con đường riêng để thỏa mãn khát vọng của anh, nhưng vì giới hạn của những gì anh có đã không thể làm thỏa mãn khát vọng của mình. Phúc âm kể rằng anh tiêu xài phung phí hết của cải trong việc ăn chơi xa hoa đàng điếm. Việc ăn chơi này biểu lộ ý muốn muốn được thỏa mãn khát vọng thể xác và nhu cầu sinh lý. Các thứ nhu cầu này khi vừa được thỏa mãn, liền kêu gọi đòi được tăng thêm, và như thế không có cách nào có thể lấp đầy khát vọng bằng vật chất, ngoại trừ tìm về với những nhu cầu tinh thần, thiêng liêng, hay đúng hơn là tìm về với nguồn hạnh phúc vô biên có thể làm thỏa mãn mọi thứ khát vọng là chính Thiên Chúa. Qủa thực, người con hoang sau khi đã hết chỗ nương tựa bên ngoài, khi đã đến cuối đường hầm của đen tối khát vọng, anh mới nhìn thấy chút ánh sáng tình yêu loé lên từ lòng nhân từ và sự giàu sang của cha mình. Phải, chỉ cần một chút ánh sáng tình yêu thôi cũng tràn đầy hy vọng giúp anh can đảm trở về. Cho dù từ nay không xứng đáng được làm con, chỉ cần mang thân phận người đầy tớ, anh cũng không ngại đứng lên tìm về nhà Cha, vì anh biết chút niềm hy vọng và tình yêu ấy có thể cứu anh khỏi tình trạng đen tối thê thảm của mình. Kết qủa của sự trở về với Cha nhân lành đã trả lại nguyện vẹn thân phận làm con cho anh. Có lẽ không còn hạnh phúc nào lớn lao hơn khi được nằm gọn trong vòng tay yêu thương đầy trìu mến của Cha, và được sống trong nhà Cha yêu dấu mà anh đã làm mất! Người con hoang xúc động cúi đầu tạ ơn Cha và hân hoan mặc áo mới bước vào dự tiệc linh đình mà Cha dọn ra đãi con trở về. Khát vọng hạnh phúc của anh đã được thỏa mãn. Thánh Luca cũng kết thúc câu chuyện của anh. Phải, chỉ tìm về nhà Chúa và sống trong tình yêu của Ngài mới thấy được giới hạn của các nhu cầu vật chất, và sự vô hạn của tình yêu và hạnh phúc có thể làm thỏa mãn mọi khát vọng của con người. Cha nhân lành là Thiên Chúa yêu thương vẫn chờ những con hoang nhân loại trở về. Ngài luôn kiên nhẫn với tự do của chúng ta. Lm. Raphael Xuân Nguyên

ĐỊNH NGHĨA DÂN CHỦ

DÂN CHỦ LÀ GÌ?

Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 9/1998ÐỊNH NGHĨA DÂN CHỦChính phủ của nhân dânDân chủ có thể là một từ quen thuộc với nhiều người, nhưng nó là một khái niệm vẫn bị hiểu sai và sử dụng sai khi các chế độ chuyên chính và các chính thể quân sự độc tài lợi dụng để kêu gọi sự ủng hộ của quần chúng bằng cách tự gắn cho mình cái mác dân chủ. Tuy thế, sức mạnh của tư tưởng dân chủ cũng đã tạo nên những biểu hiện sâu sắc nhất và nhanh chóng nhất trong lịch sử của ý chí và trí tuệ con người: từ Pericles thời Aten cổ đại tới Vaclav Havel ở Cộng hòa Séc hiện đại, từ Tuyên ngôn Độc lập của Thomas Jefferson năm 1776 tới các bài diễn văn cuối cùng của Andrei Sakharov năm 1989.Theo định nghĩa trong từ điển, dân chủ “là chính phủ được thành lập bởi nhân dân trong đó quyền lực tối cao được trao cho nhân dân và được thực hiện bởi nhân dân hoặc bởi các đại diện được bầu ra từ một hệ thống bầu cử tự do”. Theo Abrham Lincoln, dân chủ là một chính phủ “của dân, do dân và vì dân”.Tự do và dân chủ thường hay được sử dụng thay lẫn nhau nhưng hai từ này không đồng nghĩa với nhau. Dân chủ thực tế là một tập hợp những tư tưởng và nguyên tắc về tự do và cũng bao gồm một tập hợp các thông lệ và các thủ tục đã được đúc kết lại từ quá trình lâu dài, thường không bằng phẳng, của lịch sử. Một cách ngắn gọn, dân chủ là sự thể chế hóa tự do. Trên cơ sở này chúng ta có thể định rõ được các nguyên tắc cơ bản đã được thử thách qua thời gian đối với một chính phủ lập hiến, vấn đề nhân quyền, vấn đề bình đẳng trước pháp luật mà bất cứ một xã hội nào được gọi là dân chủ theo đúng nghĩa của nó cũng cần phải có.Các thể chế dân chủ được phân ra hai loại cơ bản: trực tiếp và đại diện. Trong nền dân chủ trực tiếp, mọi công dân, không cần thông qua trung gian là các đại diện được bầu hay chỉ định, có thể tham gia vào quá trình đưa ra các quyết định cho các vấn đề xã hội. Một hệ thống như thế rõ ràng chỉ có thể thực hiện được với một số tương đối ít người, ví dụ như trong một tổ chức cộng đồng hay một hội đồng bộ lạc nào đó hay một đơn vị cấp cơ sở của một liên đoàn lao động, khi mà các thành viên có thể gặp gỡ nhau trong một phòng họp để bàn bạc, thảo luận các vấn đề và đi tới quyết định bằng sự đồng thuận hoặc theo nguyên tắc biểu quyết theo đa số. Những người Aten cổ đại, những người lập ra thể chế dân chủ đầu tiên, đã thực hiện kiểu dân chủ trực tiếp với một hội đồng bao gồm số lượng thành viên từ 5.000 đến 6.000 người- có thể đây là số lượng tối đa để có thể tập hợp được ở một địa điểm và thực hiện sự dân chủ trực tiếp.Xã hội hiện đại, với quy mô và tính phức tạp của nó, ít có cơ hội cho dân chủ trực tiếp. Ngay như ở vùng đông bắc Hoa Kỳ, nơi mà cuộc họp thị trấn New England đã thành một truyền thống thiêng liêng, thì hiện nay hầu hết các cộng đồng đã phát triển lớn tới mức không thể tập hợp được tất cả cư dân ở một nơi để tiến hành biểu quyết trực tiếp cho các vấn đề có tác động tới cuộc sống của chính họ.Ngày nay, dù là đối với một thị trấn 50.000 người hay một đất nước trên 50 triệu người, hình thức dân chủ phổ biến nhất là hình thức dân chủ đại diện trong đó công dân bầu ra các công chức là những người đưa ra các quyết định chính trị, xây dựng pháp luật và quản lý các chương trình vì lợi ích công cộng. Nhân danh nhân dân, các công chức đó phải cân nhắc kỹ càng các vấn đề công cộng phức tạp theo một quá trình có tính hệ thống và chu đáo, quá trình này đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và sức lực mà thường không thể thực hiện được đối với một số đông các công dân đơn lẻ.Có nhiều cách rất khác nhau để bầu ra các vị công chức. Ví dụ, ở cấp quốc gia, các nhà lập pháp có thể được chọn lựa từ các khu vực bầu cử mà mỗi khu vực bầu cử bầu một đại diện ứng cử duy nhất. Theo một cách khác gọi là hệ thống đại diện theo tỷ lệ, mỗi đảng chính trị được đại diện trong cơ quan lập pháp theo tỷ lệ đạt được trong tổng bầu cử quốc gia. Bầu cử tại tỉnh hay địa phương cũng có thể theo cách bầu cử quốc gia hoặc bằng cách nhẹ nhàng hơn thông qua sự đồng thuận của các nhóm thay cho bầu cử. Dù được bầu theo cách nào thì các vị công chức trong nền dân chủ đại diện cũng phải hoạt động và làm việc nhân danh nhân dân và luôn phải chịu trách nhiệm cho các hành động của họ trước nhân dân.Nguyên tắc đa số và quyền thiểu sốCác nền dân chủ là các hệ thống trong đó mọi công dân được tự do đưa ra các quyết định chính trị theo nguyên tắc đa số. Nhưng nguyên tắc đa số cũng chưa phải là dân chủ: ví dụ, không ai có thể gọi một hệ thống là công bằng hoặc bình đẳng nếu hệ thống đó chấp nhận cho 51% dân số đàn áp 49% dân số còn lại với nhân danh đa số cả. Trong một xã hội dân chủ, nguyên tắc đa số phải được ràng buộc với sự đảm bảo cho các quyền con người của cá nhân, các quyền này, đến lượt nó, lại đóng vai trò bảo vệ quyền lợi cho các nhóm thiểu số dù đó là dân tộc ít người, nhóm tôn giáo hay chính trị hoặc chỉ đơn giản là những người thua cuộc trong tranh luận về một vấn đề lập pháp nào đó. Các quyền của thiểu số không phụ thuộc vào ý nguyện của bên đa số và cũng không thể bị loại bỏ bởi biểu quyết đa số. Các quyền lợi của thiểu số được bảo vệ bởi vì các luật và định chế dân chủ bảo vệ quyền lợi cho mọi công dân.Diane Ravitch, một học giả, tác giả và là cựu Trợ lý Bộ trưởng Giáo dục Hoa Kỳ đã viết trong một bản tham luận cho hội thảo giáo dục tại Ba Lan: “khi một thể chế dân chủ kiểu đại diện hoạt động đúng theo hiến pháp mà hiến pháp đó có quy định giới hạn cho quyền lực của chính phủ đồng thời đảm bảo các quyền cơ bản cho mọi công dân, thì chính phủ đó được gọi là nền dân chủ lập hiến. Trong một xã hội như thế, các nguyên tắc đa số và các quyền thiểu số được bảo vệ bởi luật và thông qua sự thể chế hóa các điều luật”.Đây chính là các thành phần cơ bản cho mọi thể chế dân chủ hiện đại cho dù nó có thể thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử, văn hóa hay kinh tế. Mặc dù có nhiều sự khác biệt rất lớn giữa các dân tộc và xã hội, các yếu tố cơ bản như chính phủ lập hiến, nguyên tắc đa số kết hợp với quyền thiểu số, quyền cá nhân và nguyên tắc pháp quyền đều có thể tìm thấy ở Canađa và Costa Rica, Pháp và Bốtsoana, Nhật Bản và Ấn Độ.Xã hội dân chủDân chủ không chỉ là một tập hợp các quy định của hiến pháp và các thủ tục để xác định cách thức hoạt động cho chính phủ. Trong một thể chế dân chủ, chính phủ chỉ là một thành phần cùng tồn tại trong một kết cấu xã hội bao gồm rất nhiều các định chế khác nhau, các đảng chính trị, các tổ chức và các hiệp hội. Tính chất đa dạng này được gọi là đa nguyên và thể chế dân chủ đó quy định sự tồn tại, tính pháp lý hay quyền lực của các tổ chức và các định chế khác trong một xã hội dân chủ không phụ thuộc vào chính phủ.Trong một xã hội dân chủ luôn có hàng ngàn các tổ chức tư nhân hoạt động ở cấp địa phương hay quốc gia. Rất nhiều trong số các tổ chức đó đóng vai trò trung gian giữa các cá nhân và các định chế của chính phủ hay các tổ chức xã hội phức tạp khác mà họ cũng là một thành phần, hoặc thực hiện các vai trò, nhiệm vụ mà chính phủ không được giao và tạo cơ hội cho các cá nhân thực hiện quyền và trách nhiệm của mình với tư cách là công dân của một thể chế dân chủ.Các nhóm này thể hiện quyền lợi của thành viên của họ theo rất nhiều cách: ủng hộ các ứng cử viên vào các vị trí trong các cơ quan công quyền, tranh luận các vấn đề và cố gắng tạo ảnh hưởng lên các quyết định chính trị. Chỉ thông qua các nhóm như thế, các cá nhân mới có được con đường để tham gia một cách có ý nghĩa vào cả chính phủ và các cộng đồng của chính họ. Có rất nhiều ví dụ cho các nhóm như thế: các tổ chức nhân đạo và nhà thờ, các nhóm môi trường và thân hữu, các hiệp hội kinh doanh và các liên đoàn lao động.Trong một xã hội chuyên quyền, các tổ chức như thế bị kiểm soát, phải có giấy phép hoạt động và bị theo dõi hoặc phải báo cáo với chính phủ. Trong một thể chế dân chủ, quyền lực của chính phủ được xác định rõ ràng và bị giới hạn chặt chẽ bởi luật. Kết quả là các tổ chức tư nhân như thế được tự do, không bị chính phủ kiểm soát; mà ngược lại, rất nhiều các tổ chức đó vận động chính phủ và tìm cách nâng cao trách nhiệm của chính phủ đối với các hành động của chính phủ. Một số tổ chức khác quan tâm tới các vấn đề nghệ thuật, thực hiện đức tin tôn giáo, nghiên cứu học thuật hoặc các vấn đề khác có thể tiếp xúc ít hay hoàn toàn không tiếp xúc với chính phủ.Trong một xã hội dân chủ có nhiều nhóm khác nhau, các công dân đều có thể khai thác mọi khả năng tự do và trách nhiệm đối với vấn đề tự quản lý mà không bị sức ép của bất kỳ bàn tay quyền lực nào của nhà nước.CÁC CỘT TRỤ CỦA NỀN DÂN CHỦQuyền tối cao của nhân dân.Chính phủ được thành lập dựa trên sự nhất trí của người dân.Nguyên tắc đa số.Các quyền thiểu số.Đảm bảo các quyền cơ bản của con người.Bầu cử tự do và công bằng.Bình đẳng trước pháp luật.Thực hiện đúng luật.Hiến pháp đặt ra các giới hạn quyền lực của chính phủ.Đa nguyên về chính trị, kinh tế và xã hội.Thúc đẩy các giá trị của dung hòa, thực dụng, hợp tác và thỏa hiệp. Trích nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_whatisdemocracy_i.html

Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2010

SUY NIỆM LỜI CHÚA

7 tháng 3/2010: CHÚA NHẬT III MÙA CHAY NĂM C

BÀI ĐỌC I: Xh 3, 1-8a. 13-15 "Đấng hiện hữu sai tôi đến với anh em". Trích sách Xuất Hành. Trong những ngày ấy, Môsê chăn chiên cho ông nhạc là Giêtrô, tư tế xứ Mađian. Ông lùa đoàn chiên qua sa mạc, đến núi Horeb là núi của Thiên Chúa. Thiên Chúa hiện ra với ông trong ngọn lửa cháy từ giữa bụi gai. Ông nhìn thấy bụi gai bốc lửa, nhưng không bị thiêu rụi. Môsê nói: "Ta hãy lại xem cảnh tượng kỳ lạ này, vì sao bụi gai không bị thiêu rụi". Thiên Chúa thấy ông lại xem, từ giữa bụi gai Người gọi ông: "Môsê! Môsê!" Ông thưa: "Dạ con đây!" Chúa nói: "Ngươi đừng đến gần đây. Hãy cởi dép ở chân ra, vì chỗ ngươi đang đứng là nơi thánh". Chúa lại nói: "Ta là Thiên Chúa của Tổ phụ ngươi. Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp". Môsê che mặt, vì không dám nhìn Thiên Chúa. Chúa nói: "Ta đã thấy dân Ta phải khổ cực ở Ai-cập. Ta đã nghe tiếng chúng kêu than kẻ đốc công áp bức. Ta biết nỗi đau khổ của chúng, nên Ta xuống cứu chúng thoát khỏi tay người Ai-cập và đưa ra khỏi đất ấy đến miền đất tốt tươi rộng lớn, đất tràn trề sữa và mật". Môsê thưa với Thiên Chúa rằng: "Này con sẽ đến với con cái Israel và bảo họ: Thiên Chúa của tổ phụ anh em đã sai tôi đến với anh em. Nếu họ hỏi con: 'Tên Người là gì?', con sẽ nói sao với họ?" Thiên Chúa nói với Môsê: "Ta là Đấng Tự Hữu". Chúa nói: "Ngươi sẽ bảo con cái Israel thế này: 'Đấng Tự Hữu sai tôi đến với anh em' ". Thiên Chúa lại nói với Môsê: "Ngươi sẽ bảo con cái Israel thế này: 'Thiên Chúa của tổ phụ anh em, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp sai tôi đến với anh em'. Đó là danh Ta cho đến muôn đời, đó là danh Ta phải ghi nhớ qua mọi thế hệ". Đó là lời Chúa.


ĐÁP CA: Tv 102, 1-2. 3-4. 6-7. 8 và 11 Đáp: Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót (c. 8a). Xướng: 1) Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá quên mọi ân huệ của Người. 2) Người đã thứ tha cho mọi điều sai lỗi, và chữa ngươi khỏi mọi tật nguyền. Người chuộc mạng ngươi khỏi chỗ vong thân, Người đội đầu ngươi bằng mão từ bi, ân sủng. 3) Chúa thi hành những sự việc công minh, và trả lại quyền lợi cho những người bị ức. Người tỏ cho Môsê được hay đường lối, tỏ công cuộc Người cho con cái Israel. 4) Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân. Nhưng cũng như trời xanh cao vượt trên trái đất, lòng nhân Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người.


BÀI ĐỌC II: 1 Cr 10, 1-6. 10-12 "Đời sống dân chúng đối với Môsê trong hoang địa được viết ra để răn bảo chúng ta". Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô. Anh em thân mến, tôi không muốn để anh em không hay biết điều này, là tất cả cha ông chúng ta đã được ở dưới áng mây, đi ngang qua biển và tất cả nhờ Môsê mà được thanh tẩy, dưới áng mây và trong lòng biển; tất cả đã ăn cùng một thức ăn thiêng liêng, và uống cùng một thức uống thiêng liêng. Thật vậy, tất cả đã uống nước phát xuất từ tảng đá thiêng liêng đi theo họ: tảng đá ấy chính là Chúa Kitô. Tuy nhiên, không phải phần đông trong họ đã sống đẹp lòng Chúa, vì họ đã bị gục ngã trong hoang địa. Bao nhiêu sự kiện đó nêu gương cho chúng ta, để chúng ta đừng chiều theo những dục vọng xấu xa như những người đó đã chiều theo. Anh em đừng lẩm bẩm kêu trách như một số người trong bọn họ đã làm, và đã vong mạng bởi tay một sứ thần huỷ diệt. Những việc đó đã xảy đến cho họ để làm gương, và đã được ghi chép để răn bảo chúng ta là những người đang sống trong thời đại cuối cùng. Thế nên, ai tưởng mình đang đứng vững, hãy ý tứ kẻo ngã. Đó là lời Chúa.


CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: 2 Cr 6, 2 Này là lúc thuận tiện, này là ngày cứu độ.


PHÚC ÂM: Lc 13, 1-9

"Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy". Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, có những kẻ thuật lại cho Chúa Giêsu về việc quan Philatô giết mấy người Galilê, làm cho máu họ hoà lẫn với máu các vật họ tế sinh. Ngài lên tiếng bảo: "Các ngươi tưởng rằng mấy người xứ Galilê bị ngược đãi như vậy là những người tội lỗi hơn tất cả những người khác ở xứ Galilê ư? Ta bảo các ngươi: không phải thế. Nhưng nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy. Cũng như mười tám người bị tháp Silôe đổ xuống đè chết, các ngươi tưởng họ tội lỗi hơn những người khác ở Giêrusalem ư? Ta bảo các ngươi: không phải thế. Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy". Ngài nói với họ dụ ngôn này: "Có người trồng một cây vả trong vườn nho mình. Ông đến tìm quả ở cây đó mà không thấy, ông liền bảo người làm vườn rằng: 'Kìa, ba năm nay ta đến tìm quả cây vả này mà không thấy có. Anh hãy chặt nó đi, còn để nó choán đất làm gì!' Nhưng anh ta đáp rằng: 'Thưa ông, xin để cho nó một năm nay nữa, tôi sẽ đào đất chung quanh và bón phân; may ra nó có quả chăng, bằng không năm tới ông sẽ chặt nó đi'". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG TAI NẠN VÀ SÁM HỐI


Mỗi ngày nhân loại đều chứng kiến nhiều tai nạn lớn nhỏ khác nhau xảy đến ở nhiều phần đất khác nhau trên thế giới. Có những nơi không có động đất thì chịu đựng lũ lụt thiên tai tàn phá; có những nơi không gặp thiên tai thì hằn lên những vết thương và chết chóc của chiến tranh và khủng bố... Ít năm trước đây, dân nước Iran đã kinh hoàng trước cuộc động đất 6.6 tàn phá hơn ba phần tư thành phố Bam cổ lịch sử ở phía nam thủ đô Tehran, với nhiều phần thành phố tồn tại trong khoảng 2000 năm đã biến mất, chôn vùi đi cả ba bốn chục ngàn nhân mạng và số người bị thương vô số kể. Cũng mới đây, Nước Mỹ đã chứng kiến cảnh lũ lụt tàn phá tiểu bang Louisiana, và vài ba tiểu bang khác ở phía nam nước này một cách kinh hoàng nhất trong lịch sử của họ. Người ta nhớ lại lời Chúa Giêsu phán trong Phúc âm hôm nay liên quan đến hình phạt của mấy người ở Giêrusalem và mười người bị tháp Siloê đổ xuống đè chết, và tự hỏi những tai nạn đã và đang xảy ra cho con người có phải là hình phạt của Thiên Chúa không? Căn cứ vào Sách Sáng Thế ký, thì sau khi nguyên tổ phạm tội, số phận đau khổ và chết chóc chính là hình phạt con người phải chịu vì tội mình gây ra; như thế có thể nói mỗi tai nạn và sự chết đều nằm chung trong hình phạt của Thiên Chúa. Giả như không có tội tổ tông, thì họ đã không biết đến sự chết! Điều quan trọng Chúa Giêsu phán không phải là hình phạt và cái chết, mà là chịu hình phạt chết trong tình trạng đã ăn năn hay chưa: Nếu các ngươi không ăn năn hối cái, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị hủy diệt như vậy! Nhờ vào Lời Chúa, người ta có thể nhìn các dấu chỉ tai nạn xảy ra đó đây như những cảnh tỉnh cho cuộc sống chính mình. Thân phận mỏng giòn yếu đuối và tội lỗi của con người đều giống nhau. Chúa Giêsu bảo đừng nghĩ những người bị tai nạn chết chóc ở chỗ này tội lỗi hơn những người may mắn hơn ở chỗ khác. Sự nguy hiểm không phải là những tai nạn gây ra chết chóc, mà là tình trạng tỉnh bơ sống nhởn nhơ trong tội của mình, vì tội chẳng những làm thể xác chết, mà nhất là tạo ra sự chết muôn đời cho linh hồn. Nhưng điều vô cùng an ủi cho thân phận con người là luôn được Thiên Chúa yêu thương, cho dù đã lỡ phạm tội. Vì lòng Chúa vô cùng nhân hậu bao dung, nên Ngài sẵn sàng dành đủ thời giờ đợi chờ con người ăn năn sám hối. Chúa Giêsu muốn ám chỉ dụ ngôn người trồng cây vả về sự kiên nhẫn của tình thương Thiên Chúa. Tuy nhiên, dù tình thương Chúa bao dung ngút ngàn, số phận con người lại không đủ dài so với tình thương ấy nếu chưa kịp ăn năn. Người trồng cây vả mặc cả với chủ thêm một năm nữa chăm bón cho nó trổ hoa kết trái. Thời gian một năm cây vả đời người qua đi như một nháy mắt; nhưng một nháy mắt sám hối ăn năn chắc cũng đủ sinh hoa kết trái trên Nước Trời. Khi bước vào con đường sám hối, ta sẽ nhận ra sự quan phòng cuộc sống con người nằm trong tình thương bao la của Thiên Chúa đó. Lm. Raphael Xuân Nguyên