Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2010

NHỮNG ĐỨC TÍNH TỐT

Những đức tính tốt để bạn sống có Chúa hiện diện là:
1/ Không nghĩ xấu, nói hành bất cứ ai.
2/ Không giận dữ, oán hờn ai mà bỏ cuộc.
3/ Không cằn nhằn, khó tính kêu ca.
4/ Không ba hoa kiêu ngạo khinh người.
5/ Không năng đầu ích kỷ cá nhân.
6/ Không phân biệt ghen ghét, ganh tỵ.
7/Không ngồi lê, la cà, mách lẻo.
8/ Không yêu sách, chi ly, biển lận.
9/ Không kỳ thị, giai cấp, khép kín.
10/ Không cư xử thiên vị bất công

08. GIÁO XỨ VŨ HÒA

07.HỌC TRÒ

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2010

06.SUY NIỆM CHÚA NHẬT II MÙA CHAY

Vinh Quang Của Chúa Giêsu

Trung tâm điểm của niềm tin Kitô giáo đó là cuộc tử nạn và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Chính vì thế mà hằng năm; Giáo Hội dành ra một thời gian dài để chuẩn bị cho đại lễ mừng kính trọng thể Đức Giêsu Kitô đã sống lại. Thời gian chuẩn bị đó kéo dài bốn mươi ngày mà chúng ta quen gọi là "mùa chay thánh".
"Mùa chay thánh" là mùa mà chúng ta thường nghĩ đến sự kiêng ăn và hãm mình. Thế nhưng nếu nhìn theo một hướng tích cực hơn nữa thì đây là một cơ hội để người Kitô hữu thay-đổi-cuộc-sống bằng sự biến đổi tâm hồn mình.
Không phải là ngẫu nhiên khi Giáo Hội trích Tin Mừng thánh Luca : (9, 28-36) để đọc trong Chúa Nhật thứ hai mùa chay. Bởi trình thuật này cho thấy sự nổi bật của chủ đề được nêu lên đó là sự "biến đổi".
Sự kiện Đức Giêsu lên núi cầu nguyện và bắt đầu mạc khải "Mầu-nhiệm-Vượt-Qua" bằng việc biến-đổi-hình-dạng với : "dung mạo Người bổng đổi khác và y phục Người trắng tinh chói lòa" như muốn nói lên rằng : Sự "hiển dung" này báo trước vinh quang sẽ đến với Đức Giêsu trong : "cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem" (Lc 9, ...31).
"Vinh quang của Đức Giêsu" (bên cạnh) sự rạng ngời vinh hiển của hai nhân vật Môsê và Êlia"(Lc 9, 31-32) có thể nhìn như một dấu chỉ nói lên rằng : Thiên Chúa luôn đồng hành bên người Con-của-Ngài. Đồng hành từ đau khổ đến vinh quang; từ ô nhục đến chỗ được siêu tôn; từ cái chết trên thập giá đến sự phục sinh vinh hiển.
Sự biến hình của Đức Giêsu như một ấn chứng dẫn đưa chúng ta đặt trọn niềm tin vào "mầu nhiệm vượt qua" nơi mà cái chết và sự sống lại của Ngài cho thấy "cuộc sống con người" sẽ không bị kết thúc trong quên lãng.
một chút tâm tình...
Chúng ta được thông phần vào "mầu nhiệm vượt qua" nhờ Bí tích thanh tẩy. Cùng với Đức Kitô - ta chết cho tội lỗi ngõ hầu có thể bắt đầu một cuộc sống mới trong ta.. Đây chính là sự biến đổi. Một biến đổi trong cuộc sống của người Kitô hữu. Một cuộc sống như Tông Đồ Phao-Lô đã nói : "Tôi sống nhưng không còn là tôi sống nữa. Nhưng là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20).
một phút suy tư...
Thế giới mà chúng ta đang sống là một phần của Nước Thiên Chúa - Vương Quốc của chân lý và tình yêu. Là người Kitô hữu - chúng ta tin rằng mọi sự cũng đang được "biến đổi". Với niềm tin vào Đức Kitô Phục sinh - "sự chết chỉ là sự biến đổi chứ không hề tiêu tan" (Kinh tiền tụng 1). Sự-biến-đổi đó được nuôi dưỡng bởi chính sự biến đổi của Đức Giêsu qua bí tích Thánh Thể - Mình Máu Thánh của Ngài.
Trong Thánh Lễ - chúng ta nối bước nhau lên "rước lễ". Có khác nào một đoàn dân đang lữ hành. Một cuộc lữ hành về "Trời Mới Đất Mới". Khi lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể cho thấy chúng ta đặt niềm tin vào lời hứa của Đức Giêsu : "Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại (biến đổi từ cái chết đến sự sống) vào ngày sau hết. (Ga 6,54).
SAIGON - MÙA CHAY 2010petrus.tran

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2010

05.ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ

Tương Quan Giữa Đức Tin Và Lý Trí Của Đức John Paul II
Quang Huyền, OFM
Trả lời các vấn nạn Darwin đã gây ra cho triết học và thần học hiện đại
Trong bối cảnh xã hội hiện đại, chúng ta chứng kiến sự tiến bộ không ngừng và còn có triễn vọng tiến xa mãi của khoa học. Không ai có thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà khoa học mang lại cho đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Tuy nhiên, dưới nhãn quan tư tưởng, chúng ta nhận thấy những phát minh khoa học ở thế kỷ XVI-XVII về thiên văn của Copernic, Kepler, Galilei, về Lực hấp dẫn của Newton và ở thế kỷ XIX về sinh vật học Darwin đã tạo ra không ít vấn nạn cho triết học và thần học trong mấy thế kỷ qua.
Trong bối cảnh đó, Đức John Paul II đã ban hành thông điệp “Đức Tin Và Lý Trí”, năm 1998. Trong Thông điệp này, ngài đề cập đến mối tương quan giữa đức tin và lý trí, bằng cách khẳng định chức năng và khả năng của lý trí đi tìm chân lý và chứng minh giá trị phổ quát của đức tin. Quan điểm này của ngài như phương cách soi sáng cho người Kitô hữu trong cách suy nghĩ về các giá trị mới của khoa học và cách thức làm thần học và triết học trong thời đại hôm nay.
Đúng 20 năm sau ngày ra đời của Thông Điệp Đức tin và lý trí, chúng ta thử khám phá lại tư tưởng của ngài và trả lời cho những vấn nạn mà thuyết Darwin đã làm “lung lay” nền thần học và triết học Kitô giáo trong mấy thập niên qua.
1. Mối Tương Quan Giữa Đức Tin Và Lý Trí.
Bằng lối tiếp cận lịch sử, Đức John Paul II đã phác họa một bức tranh khá rõ ràng về tương quan giữa đức tin và lý trí trong hành trình đi tìm kiếm chân lý. Đó là một tương quan mang tính hỗ tương: “Đức tin và lý trí được ví như đôi cánh giúp cho trí khôn con người vươn lên chiêm ngắm chân ly”. Theo ngài, chân lý mặc khải của thần học sẽ cung cấp “nội dung câu trả lời” và sự khôn ngoan của triết học sẽ cho “hình thừc câu hỏi”. Triết học và thần học có một mối quan hệ qua lại theo quy luật của vòng tròn trôn ốc, nghĩa là một khi triết học cung cấp nội dung câu hỏi, thần học trả lời nó và dẫn đến sự hiểi biết chân lý rõ ràng hơn, và lý trí triết học lại tiếp tục suy tư và có những tra vấn mới cao hơn và thần học lại tiếp tục tìm câu trả lời mới…, vòng tròn càng ngày càng đi lên và gần hơn với chân lý tối hậu (x. TĐ, Đức tin và lý trí, Số 105).
Trong lĩnh vực Phúc Am Hoá, con người tìm hiểu văn hoá của một dân tộc và tìm hiểu triết học của tôn giáo của dân tộc đó. Triết học sẽ đóng vai trò trung gian kết nối Lời Chúa với văn hoá địa phương. Theo cách hiểu này thì triết học chuẩn bị “cày xới” miếng đất mới, để cho thần học “gieo vãi” hạt giống chân lý Tin Mừng.
Đức John Paul II cũng quan tâm đến sự tách rời giữa đức tin và lý trí và hậu quả của nó trong việc tìm kiếm chân lý: “Sự tách rời ngày càng lớn hơn giữa đức tin và lý trí triết học” làm cho triết học sao nhãng việc tìm kiếm chân lý tối hậu. Tuy nhiên theo ngài, nếu xem xét tỉ mỉ hơn, người ta sẽ thấy ngay trong suy tư của những người đã góp phần nới rộng thêm hố ngăn cách giữa đức tin và lý trí đôi khi vẫn có những mầm mống tư tưởng quí báu khả dĩ đưa tới việc khám phá ra con đường chân lý, nếu được tiếp tục và phát triển với một tâm trí ngay thẳng” (Số 48).
Trong viễn ảnh đó, ngài nhắm đến việc kết hợp giữa đức tin và lý trí với lý do: “Đức tin và lý trí mà thiếu nhau đều bị làm nghèo đi và bị suy yếu. Bị tước mất những gì Mặc khải cống hiến, lý trí đã đi theo những con đường ngang khiến nó có nguy cơ sao lãng mục đích cuối cùng của mình. Còn đức tin thiếu lý trí, đã nhấn mạnh vào tình cảm và cảm nghiệm, và như thế nó liều mình không còn là một lời đề nghị phổ quát nữa”. Qua đó ngài mời gọi: “Đức tin và triết học phải tìm lại sự hiệp nhất sâu xa cho phép chúng hoà hợp với bản chất của mình mà vẫn tôn trọng tính tự lập của nhau. Đối lại với sự tuân phục [“parrhêsia”] của đức tin phải có sự táo bạo của lý trí”. (Số 48).
2. Các Vấn Nạn Mà Thuyết Darwin Đã Gây Ra Cho Triết Học Và Thần Học
Charles Darwin (1809-1882) là một nhà tự nhiên học người Anh. Sau chuyến khảo sát thực địa theo hành trình của tàu Beagle ở các vùng biển Nam Mỹ và nhất là ở trên quần đảo Galapagos, cộng thêm nhiều năm miệt mài nghiên cứu, ông đã đưa ra một học thuyết toàn diện về “Nguồn gốc của các loài do chọn lựa tự nhiên” vào năm 1859. Thuyết tiến hoá này đã tạo ra nhiều vấn nạn cho triết học và thần học Kitô giáo trong thời gian qua.
Thử thách Phương pháp làm triết học và thần học.
Nếu phương phát cổ truyền của triết học là suy diễn, đi từ những chân lý siêu hình như : hữu thể, bản chất của Thượng Đế…để đi đến những kết luận về chân lý. Thì Darwin đã chú trọng đến phương pháp quy nạp, đi từ những nghiên cứu thực địa, khảo cổ, các quan sát…để đi đến một kết luận khoa học. Theo đó, phương pháp suy diễn chỉ có chỗ đứng tương đối trong khi làm triết học mà thôi.
Còn đối với phương pháp làm thần học: từ lâu Giáo Hội đã sử dụng hai phương pháp làm thần học là Trường phái chủ trương hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen và trường phái chủ trương hiểu Kinh Thánh theo nghĩa ẩn dụ và biểu tượng. Thuyết Tiến hoá thử thách trường phái thứ nhất.
Thử thách thuyết tạo dựng.
Darwin trong thuyết tiến hoá cho rằng sự sống trong vũ trụ có được là do sự chọn lựa tự nhiên một cách tình cờ từ các “cơ chế sống”. Sự sống còn của các loài không cần có một ý định bên ngoài, cũng không cần một thứ tự hay một sự phác họa nào. Không cần đến “tác giả”, “tác phẩm” chỉ tuân theo luật tự nhiên và cạnh tranh sinh tồn, không có thứ tự, tất cả chỉ là ngẫu nhiên. Do đó, vũ trụ và muôn loài hiện hữu và tồn tại tự mình, không cần đến Thượng Đế. Trong khi đó, thần học tạo dựng cho rằng tạo dựng là hành vi tự do của Thiên Chúa, Đấng làm cho hiện hữu tất cả những gì chưa bao giờ hiện hữu (St 1,1; Rm 4,7) và vũ trụ được tạo thành trong thời gian (x.Thời sự thần học, số 44, trang 77). Đây là một trong những biểu hiện quyền năng vô biên của Thiên Chúa, bởi vì chỉ có người mới có khả năng ban hiện hữu cho vạn vật, khởi đi từ tình trạng phi hiện hữu. Và ngài tiếp tục quan phòng vũ trụ.
Vấn đề Con Người.
Theo quan điểm thuyết tiến hóa của Darwin, các sinh vật đa dạng ngày nay là kết quả của một quá trình tiến hoá lâu dài. Do đó, con người cũng không bị loại trừ, con người cũng nằm trong qui trình tiến hoá đó, con người tiến hoá từ vật chất và con người chỉ là con vật bậc cao mà thôi.
Quan niêm này đi ngược lại quan điểm Giáo Hội về con người cho rằng: “Con người được Thiên Chúa tạo dựng giống hình ảnh Người” và “Thân xác con người dự phần vào phẩm giá và hình ảnh Thiên Chúa. Là thân thể con người, vì nó do linh hồn sống động và tất cả nhân vị con người sẽ được trở thành đền thờ của Chúa Thánh Thần trong thân xác Đức Kitô. (x. GLCG, Số 69) và “linh hồn cũng là cái thâm sâu nhất, giá trị nhất trong con người, và Thiên Chúa đã dựng nên linh hồn con người cách trực tiếp và nó bất tử” (x. GLCG, Số 70).
Vấn đề đạo đức.
Theo Darwin, mọi loài trong vũ trụ luôn phải đấu tranh sinh tồn và loài nào mạnh, có nhiều ưu điểm loài đó thắng và tồn tại. Con người cũng thực hiện chiến lược cạnh tranh sinh tồn, vô hình chung, con người cách nào đó hành động như một bản năng. Vậy liệu con người có tự do chọn lựa trong các hành động của mình không? Và con người có được phép vì sự sinh tồn của mình mà huỷ hoại đồng loại không? Nếu vậy, chúng ta sẽ giải thích như thế nào quan điểm của Kitô Giáo về tình yêu thương của Chúa, khi tất cả loài người là do Chúa tạo ra và yêu thương không loại trừ ai.
3.Trả Lời Các Vấn Nạn Mà Thuyết Darwin Đã Tạo Ra Cho Triết Học Và Thần Học Hiện Đại
Nghiên cứu các vấn nạn một cách có phê phán.
Theo quan điểm của Đức John Paul II, chúng ta bình tĩnh và nghiên cứu các vấn nạn này một cách kỹ càng và có phê phán không nên hấp tấp loại trừ một cách vội vàng. Nghĩa là khi có sự hiểu biết nhờ suy tư của lý trí và sự hướng dân của đức tin, chúng ta sẽ bác bỏ những gì làm tổn hại đến chân lý đức tin. Đối với vấn đề của Darwin thử thách vấn đề tạo dựng là loại bỏ Thiên Chúa là “Tác Giả” ở trên, chúng ta có thể phủ định nó vì nó đi ngược lại với niềm tin về Thiên Chúa Tạo dựng và Quan phòng. Nhưng chúng ta có thể chấp nhận tiến hóa, như đó là một phương cách của Thiên Chúa dùng. Chính Đức John Paul II cũng đã “chấp nhận cả tạo thành và tiến hoá, nhưng linh hồn không phải là sản phẩm của tiến hoá”. Nghĩa là chấp nhân sự tiến hoá của con người về thể xác. Điều này không đi ngược lại với niềm tin của người Kitô hữu khi họ nghĩ rằng: “Nếu thân xác con người đã được kết tinh từ một chuỗi dài của những biến hóa đổi thay xảy ra ở nơi một giống loài, thì các tín hữu sẽ coi hiện tượng tiến hóa đó là phương cách Thiên Chúa dùng để làm nên thân xác loài người”(HTTH, số 37).
Khám phá những mầm chân lý.
Theo Đức John Paul II ở trong các khám phá mới này luôn mang những mầm chân lý: “Trong suy tư của những người đã góp phần nới rộng thêm hố ngăn cách giữa đức tin và lý trí đôi khi vẫn có những mầm mống tư tưởng quí báu khả dĩ đưa tới việc khám phá ra con đường chân lý, nếu được tiếp tục và phát triển với một tâm trí ngay thẳng” (Số 48). Ở chỗ khác ngài nói mạnh hơn: “Cả những lý thuyết sai lầm này đôi khi cũng chứa đựng một vài yếu tố chân lý”(số 54). Theo quan điểm này chúng ta có thể nhận thấy một số điều bổ ích trong thuyết Darwin. Trong phương pháp làm thần học những người theo thuyết tiến hoá phủ nhận việc hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen. Nếu bình tỉnh nhìn lại ta thấy có sự cứng nhắc, máy móc và nhiều khi sai lầm khi hiểu một số trình thuận Kinh Thánh theo mặt chữ. Ví dụ trong trình thuật sáng thế, Chúa dùng đất nặn ra Adam, rút sườn làm ra Eva…Ngày nay Giáo Hội dùng phương pháp liên ngành trong khi nghiên cứu và chú giải Kinh Thánh, như một sự đón nhận nào đó với tiến hoá tri thức nhân loại và không ngược với thuyết tiến hoá. Kết quả là khoa chú giải Kinh Thánh tiến xa và có nhiều đóng góp cho đời sống đức tin hơn.
Thảo luận và đánh giá lại các chân lý triết học và thần học.
Đức John Paul II rất nhạy cảm trong vấn đề đối thoại, nên ngài nhận ra vai trò tra vấn của các tư tưởng và quan điểm của khoa học, dù nó đi ngược với một số giá trị chân lý đức tin. Nhưng nó vẫn có tác dụng tra vấn các giá trị của triết thần mà chúng ta đã chấp nhận. Trong thử thách thuyết tạo dựng: Chúng ta nhận thấy Kinh Thánh không tìm cách giải thích vũ trụ vận hành như thế nào. Đó là công việc của các nhà khoa học, nhưng chỉ nhằm trả lời các câu hỏi: tại sao vũ trụ hiện hữu? Tại sao có sự tiến hoá như thế?..., nhằm xác định ranh giới của thần học và khoa học.
Những “hố sâu” còn bỏ ngõ.
Trên thực tế, chúng ta dễ dàng đón nhận những bổ túc của khoa học trong việc đào sâu và tìm ý nghĩa cho chân lý niềm tin và niềm tin soi sáng cho khoa học tìm kiếm những chân lý mới.
Nhưng chúng ta thấy vẫn còn đó những “hố sâu” mà thuyết tiến hoá không thể có câu đáp án. Trong vấn đề tạo dựng, thuyết tiến hoá chủ trương rằng có sự “tiến hoá mù”, không cần cứu cánh, không cần “tác giả” và quá trình tiến hoá là liên tục. Vậy ta phải giải thích như thế nào khi không thể tìm thấy một sinh vật tiến hoá vượt con người ? Những năng lượng đầu tiên cực nhỏ để tạo điều kiện cho Big Bang nỗ và lần lượt hình thành nguyên tư, vũ trụ, sự sống, con người…là do ai tạo ra nó? Ở những bế tắc của thuyết tiến hoá và như những học thuyết khác, khoa học chỉ nại đến yếu tố thời gian. Nhưng đã qua rồi mấy thế kỷ hoàng kim của khoa học, con người vẫn không có câu trả lời về những vấn trên.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận thấy có nhiều vấn nạn mà khoa học tra vấn niềm tin của Người Kitô hữu. Ví dụ, thần học giải thích rằng linh hồn con người là cho Chúa phú ban, thì các khoa học gia sẽ thắc mắc rằng: Khi nào thì Chúa ban linh hồn cho con người? Nó ở đâu trong con người?... Chúng ta chưa thể lý giải các vấn nạn đó cách thuyết phục nếu không nại vào niềm tin.
Kết Luận.
Mối quan hệ hỗ tương giữa đức tin và lý trí của Đức John Paul II cho chúng ta có những câu trả lời mang tính tích cực về các vấn nạn của khoa học. Thực vậy, nếu hiểu về chân lý đức tin truyền thống của chúng ta luôn “tĩnh”, nghĩa là không bị thử thách, luôn cố định, thì hẳn nó sẽ mang tính máy móc và nghèo nàn. Ngược lại, mỗi khi đức tin bị thử thách và chúng ta tìm được câu trả lời sẽ giúp cho niềm tin của chúng ta sống động và sâu sắc hơn. Nó như một “lý thuyết tiếp cận”, giúp chúng ta giải quyết các vấn nạn mà khoa học hiện đại đã gây ra cho triết học và thần học. Đồng thời nó cũng giúp cho các Kitô hữu thoát khỏi các cách hiểu mang tính “cứng nhắc” theo nghĩa đen về một số điều trong Kinh Thánh, nhằm mở lòng ra đón nhận và đối thoại với những thử thách mà khoa học mới đặt ra cho cho niềm tin của mình về các chân lý đức tin.
Thực vậy, giữa khoa học và đức tin, vẫn còn đó những “hố sâu” không thể “lấp đầy” trong khoảng thời gian ngắn. Nhưng đó sẽ là những “chất liệu”, những “câu hỏi mở”, kích thích suy tư và nỗ lực khám phá chân lý của các nhà khoa học, các nhà thần học và mỗi người Kitô hữu chúng ta hôm nay.
Quang Huyền, OFM
URL: http://danchuausa.net/than-hoc/tuong-quan-giua-duc-tin-va-ly-tri-cua-duc-john-paul-ii/

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2010

04.Sứ điệp mùa chay 2010 của Đức Thánh Cha

VATICAN. Sáng 4-2-2010, ĐHY Paul Cordes, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum (Đồng Tâm), đã mở cuộc họp báo để giới thiệu sứ điệp của chay của ĐTC với chủ đề ”Công lý của Thiên Chúa được biểu lộ qua niềm tin nơi Chúa Kitô” (Rm 3,21-22).Hiện diện tại cuộc họp báo còn có giáo sư Hans-Gert Poettering, người Đức, nguyên chủ tịch Nghị Viện Âu Châu, và Đức ông Giampietro Dal Toro, Phó Tổng thư ký Hội đồng Tòa Thánh Đồng Tâm.Trong sứ điệp, ĐTC kêu gọi đi xa hơn định nghĩa cổ điển về công lý, công bằng phân phối, theo đó, ”công lý là trả cho mỗi người những gì thuộc về họ” (dare cuique suum). Ngài nhấn mạnh rằng định nghĩa này không cứu xét đầy đủ ”điều gì” cần trả cho mỗi người. ”Điều mà con người cần hơn cả không thể được luật pháp bảo đảm cho họ. Để được hưởng cuộc sống sung mãn, con người còn cần một cái gì sâu xa hơn và điều ấy chỉ có thể được ban nhưng không cho họ: chúng ta có thể nói rằng con người sống bằng tình thương mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể thông ban cho họ, khi tạo dựng nên con người giống hình ảnh của Ngài”.ĐTC cũng phân tích căn cội của bất công trong xã hội, nó đến từ chính nội tâm của con người, chứ không phải từ những cơ cấu bên ngoài như nhiều ý thức hệ tân thời vẫn chủ trương và theo họ ”để cho công lý hiển trị, chỉ cần loại bỏ những nguyên nhân bên ngoài ngăn cản sự thực thi công lý”. ĐTC viết: ”Bất công, kết quả của sự ác, không phải chỉ có căn cội bên ngoài mà thôi, nó bắt nguồn từ trái tim con người, nơi có những mầm mống sự đồng lõa huyền nhiệm với sự ác.. Con người cảm thấy trong mình có một hấp lực lạ thường khiến cho họ co cụm vào mình, coi mình ở bên trên và chống lại người khác: đó là lòng ích kỷ, hậu quả của tội nguyên tổ”.Trong phần kế tiếp của Sứ điệp, ĐTC trình bày về Chúa Kitô, Công Lý của Thiên Chúa. ”Công lý này đến từ ơn thánh, trong đó không phải con người tu chính, chữa lành bản thân và tha nhân. Sự kiện sự đền tội diễn ra trong máu của Chúa Giêsu có nghĩa là không phải những hy lễ của con người giải thoát họ khỏi gánh nặng của tội lỗi, nhưng là cử chỉ yêu thương của Thiên Chúa.. Nhờ hoạt động của Chúa Kitô, chúng ta có thể bước vào công lý cao cả hơn, công lý của tình thương (Rm 13,8-10), công lý của người ngày cảm thấy mình là con nợ hơn là chủ nợ, vì họ đã nhận được nhiều hơn những gì họ có thể mong đợi”. Nói khác đi, chính ơn cứu độ trong Chúa Kitô là nền tảng công lý của con người.Trong cuộc họp báo, ĐHY Cordes nhận định rằng Sứ điệp mùa chay của ĐTC là một lời thách thức ý chí chúng ta hãy tín thác và tin tưởng nơi Thiên Chúa, và từ bỏ thái độ tự cô lập mình, xa lìa Thiên Chúa.ĐHY Cordes cũng tố giác tình trạng bất công nhan nhản trên thế giới đặc biệt tại Phi châu, như Thượng HĐGM Phi châu kỳ 2 hồi tháng 10 năm ngoái tại Roma, đã nêu rõ. ĐHY bác bỏ những lập luận vu khống cho rằng các tín hữu Kitô đứng về phía những người giàu có và chống lại đức công bình phân phối, và thậm chí còn thủ lợi bằng cách bảo vệ trật tự xã hội bất công. Chủ trương như thế là chối bỏ sự đóng góp của Kitô giáo trong việc thăng tiến an sinh và phẩm giá của con người như lịch sử Giáo Hội và xã hội đã chứng tỏ qua bao thế kỷ.Về phần giáo sư Poettering, cũng là Chủ tịch Quỹ Adenauer, ông tuyên bố rằng ”Chúng ta lại cần phải có một tinh thần liên đới Âu Châu. Và hơn bao giờ hết, chúng ta cần tinh thần ấy đối với tất cả các dân tộc và các nền văn hóa trên thế giới này”.Ông Poettering kêu gọi giới chính trị hãy đón nhận Sứ điệp của Đức Thánh Cha và nhấn mạnh rằng ”sự liên đới nội bộ giữa các nước Âu Châu và tình liên đới đối ngoại với thế giới là hai nghĩa vụ xã hội và luân lý quan trọng nhất mà Liên hiệp Âu Châu cần đáp ứng. Điều này không phải chỉ thể hiện qua việc cung cấp tiện ích vật chất, - tuy chúng quan trọng. Trước tiên, phải có một sự canh tân tinh thần mà Liên hiệp Âu Châu cần xác định”. Ông cũng kêu gọi thực thi tình liên đới cụ thể, chứ không trừu tượng. Một điều hiển nhiên là ”Ngày nay các nước giàu ngày càng giàu thêm và nước nghèo càng nghèo thêm” (SD 4-2-2010)G. Trần Đức Anh OP

03.THƯ MỤC VỤ MÙA CHAY 2010


Kính gửi: Anh em linh mục, chủng sinh;
Anh chị em tu sĩ và giáo dân GP Phan Thiết
Anh chị em thân mến,
Mùa Chay năm nay đến sớm. Trong khi đời sống dân sự đang tưng bừng hưởng tuần nghỉ Tết, thì nhịp sống tôn giáo đã chính thức bước vào một chu kỳ mới với mầu tím biểu trưng cho chiều sâu trầm lắng đức tin. Mùa xuân đang còn, Mùa Chay đã đến. Sự trùng hợp giữa ngày thứ tư Lễ Tro và ngày mùng bốn Tết Canh Dần có thể gợi lên một ý nghĩa tích cực: Mùa Chay cũng là một mùa xuân. Nếu Mùa xuân cho tiết trời thay đổi, cho vạn vật xinh tươi, cho con người đổi mới, thì Mùa Chay với việc chay tịnh được yêu mến thực hiện, với kinh nguyện được dâng lên sớm tối, với hành vi sám hối được thực thi chuyên chăm và với việc bác ái được siêng năng thực hành, cũng sẽ đem đến cho đời sống tôn giáo những nét xuân trẻ tươi mới. Mùa Xuân đổi mới đất trời; Mùa Chay đổi mới lòng người.
Mùa Chay năm nay là thời điểm đặc biệt của Năm Thánh 2010, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam kêu gọi canh tân đời sống, nhằm làm mới lại những mối liên hệ đa chiều của nhịp sống đức tin, từ mối liên hệ bổn phận đối với phần rỗi bản thân, sang mối liên hệ tin yêu hiếu thảo đối với Thiên Chúa, và biểu lộ qua mối liên hệ sẻ chia bác ái đối với tha nhân, cũng như mối liên hệ trách nhiệm mang tính thời sự hơn bao giờ hết là bảo vệ và tôn trọng thiên nhiên. Như vậy, việc canh tân đời sống trong Mùa Chay với những ý nghĩa sâu lắng vốn có, đã trở thành chọn lựa của mọi tín hữu, để khi vui hưởng hồng ân Chúa ban trong Năm Thánh, cũng tùy từng thời khắc của năm Phụng Vụ mà nỗ lực góp phần canh cải đời sống về mặt nội tâm cũng như về mặt xã hội.
Với ý nghĩa trên, Mùa Chay năm nay gọi đến một ý chí thực hành. Mỗi người trong cương vị và bậc sống mình, hãy quyết tâm canh tân đời sống. Mỗi ngày nỗ lực làm một việc lành (như dự lễ và rước lễ hoặc dâng lời nguyện tắt khi có thể), chuyên chú làm một việc thiện (như quan tâm giúp đỡ người khác, nhất là những người nghèo khổ) và bền bỉ thực hiện những cử chỉ đẹp đối với tha nhân, cách riêng đối với địa bàn thiên nhiên nơi mình đang sống (như tuân giữ luật lệ giao thông và giữ gìn vệ sinh môi trường). Được như thế, Mùa Chay là một thời gian tích cực giúp mọi người sống tinh thần đổi mới cách tròn đầy.
Xin mượn khẩu hiệu của Giờ Trái Đất năm nay (27.03.2010) để nói lên quyết tâm của từng người chúng ta trong Mùa Chay này: “Hành động nhỏ cho thay đổi lớn”. Mỗi ngày, hãy làm những việc lành, việc thiện, việc đẹp, nhỏ thôi nhưng bền bỉ, để sẽ có ngày thấy đời mình được thăng hoa đổi mới. Trong khi đợi chờ mừng Đại lễ Phục Sinh, cầu chúc mọi thành viên trong gia đình Giáo Phận một Mùa Chay thánh đức. Thân mến trong tình yêu Chúa Kitô và vòng tay từ ái của Mẹ Maria.
+ Giuse Vũ Duy Thống
GM Gp Phan Thiết

Thứ Sáu, 5 tháng 2, 2010

02.SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI NHÂN NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI LẦN THỨ 44


SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA BÊNÊĐICTÔ XVI NHÂN NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI LẦN THỨ 44

« Linh mục và việc mục vụ trong thế giới kỹ thuật số : những phương tiện truyền thông mới phục vụ Lời Chúa »

(Chúa Nhật 16/05/2010)

Anh chị em thân mến,

Đề tài của Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội sắp đến – « Linh mục và việc mục vụ trong thế giới kỹ thuật số : những phương tiện truyền thông mới phục vụ Lời Chúa » – , thật thích hợp được lồng vào trong hành trình của Năm Linh Mục, và đặt lên hàng đầu suy tư về một lãnh vực mục vụ rộng lớn và tế nhị như lãnh vực của truyền thông và của thế giới kỹ thuật số, trong đó người linh mục được ban tặng những khả năng mới mẻ thực thi thừa tác vụ phục vụ Lời Chúa của mình. Từ rất lâu đời, những phương tiện truyền thông hiện đại thuộc về những phương tiện thông thường được các cộng đoàn giáo hội sử dụng để diễn đạt trong những giới hạn của lãnh thổ riêng của họ và, rất thường, để thiết lập những hình thức trao đổi trên quy mô rộng lớn hơn, nhưng việc mở rộng của chúng gần đây và ảnh hưởng đáng kể của chúng luôn làm cho việc sử dụng chúng trong thừa tác vụ linh mục trở nên quan trọng và hữu ích hơn.

Bổn phận hàng đầu của linh mục là loan báo Chúa Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người, và thông truyền ân sủng cứu độ đa dạng của Thiên Chúa xuyên qua các bí tích. Được triệu tập bởi Lời Chúa, Giáo Hội thừa nhận mình như là dấu chỉ và dụng cụ của sự hiệp thông mà Thiên Chúa thực hiện với con người và mỗi linh mục được kêu gọi để xây dựng sự hiệp thông đó trong Ngài và với Ngài. Đó là phẩm giá và vẻ đẹp rất cao trọng của sứ vụ linh mục trong đó được thể hiện cách đặc biệt lời khẳng định của thánh Phaolô : « Quả thế, Kinh Thánh nói : Bất kỳ ai tin vào Người sẽ không phải hối tiếc… Quả thế, tất cả những ai kêu cầu danh Chúa đều sẽ được cứu thoát. Thế nhưng, làm sao họ kêu cầu vị Chúa mà trước tiên không tin vào Ngài? Làm sao tin Đấng họ không được nghe? Làm sao nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao rao giảng, nếu không được sai đi? » (Rm 10, 11,13-15).

Để đưa ra những câu trả lời thích ứng với những câu hỏi ở giữa những biến chuyển văn hóa lớn lao mà thế giới của những người trẻ đặc biệt được cảnh báo, những con đường truyền thông được mở ra bởi những cuộc chinh phục công nghệ kỹ thuật giờ đây là một phương tiện không thể thiếu. Quả thế, khi nắm trong tay những phương tiện mang lại một khả năng diễn đạt hầu như vô hạn, thế giới kỹ thuật số mở ra những viễn ảnh hiện tại hóa đáng kể cho lời khích lệ của thánh Phaolô : « Vô phúc cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng ! » (1Cor 9, 16). Do đó, với việc phổ biến chúng, trách nhiệm loan báo không chỉ gia tăng, nhưng còn trở nên cấp bách hơn và đòi hỏi một sự dấn thân có động cơ và hữu hiệu hơn. Về phương diện này, người linh mục như là ở khởi đầu của một « lịch sử mới mẻ », bởi vì các công nghệ kỹ thuật hiện đại càng tạo nên những mối quan hệ mật thiết và thế giới kỹ thuật số càng mở rộng các biên cương của nó, thì người linh mục sẽ càng được mời gọi lưu tâm đến chúng về mặt mục vụ, gia tăng sự dấn thân của mình, để dùng các phương tiện truyền thông phục vụ Lời Chúa.

Tuy nhiên, việc mở rộng nhiều phương tiện truyền thông và « bảng các chức năng phong phú » của chúng có thể bao hàm nguy cơ của một việc sử dụng chủ yếu được gợi ý bởi đòi hỏi thuần túy là hiện diện ở đó, và, cách sai lầm, xem trang Web chỉ như là một nơi cần được chiếm ngữ. Trái lại, các linh mục được yêu cầu khả năng hiện diện trong thế giới kỹ thuật số trong sự trung thành liên lỉ với sứ điệp Tin Mừng, để thực thi vài trò người hướng dẫn cộng đoàn của họ, mà từ nay diễn đạt, thường luôn nhiều hơn nữa, giữa « những tiếng nói » đến từ thế giới kỹ thuật số, và loan báo Tin Mừng bằng cách dùng, bên cạnh những phương tiện truyền thống, phần cống hiến của thế hệ các phương tiện nghe nhìn mới (hình ảnh, vidéo, phim hoạt hình, blog, các trang web) mà biểu lộ những cơ hội đối thoại mới mẻ và ngay cả những dụng cụ không thể thiếu cho việc loan báo Tin Mừng và dạy giáo lý.

Xuyên qua những phương tiện truyền thông hiện đại, người linh mục sẽ có thể làm cho biết đến đời sống của Giáo Hội và giúp đỡ những con người hôm nay khám phá ra khuôn mặt của Chúa Kitô, bằng cách kết hợp cách sử dụng thích hợp và thông thạo những dụng cụ như thế, cũng được thủ đắc trong suốt thời gian đào tạo, bên cạnh một sử chuẩn bị thần học vững chắc và một linh đạo linh mục vững vàng, được nuôi dưỡng bởi cuộc đối thoại liên lỉ với Chúa. Hơn cả bàn tay của người điều khiển truyền thông, người linh mục, trong sự va chạm với thế giới kỹ thuật số, phải làm lộ ra tâm hồn thánh hiến của mình, để mang lại ‘linh hồn’ không chỉ cho sự dấn thân mục vụ, nhưng còn cho dòng truyền thông liên tục của « mạng lưới ».

Cũng trong thế giới kỹ thuật số, cần phải rõ rằng sự quan tâm yêu thương của Thiên Chúa trong Chúa Kitô dành cho chúng ta không phải là một điều của quá khứ hay là một công trình thông thái, nhưng là một thực tại cụ thể và hiện thực. Quả thế, việc mục vụ trong thế giới kỹ thuật số phải có thể cho con người của thời đại chúng ta, và cho nhân loại lầm lạc hôm nay, thấy « rằng Thiên Chúa gần gũi ; rằng trong Chúa Kitô, chúng ta hết thảy thuộc về nhau. » (Benoît XVI, Diễn từ cho Giáo Triều Rôma dịp chúc lễ Giáng Sinh : Nhật báo Osservatore Romano bằng tiếng Pháp, ngày 21 /12/ 2009, tr.8).

Còn ai hơn linh mục, với tư cách là người của Chúa, có thể phát triển và đem vào thực hành, xuyên qua những khả năng của mình trong lãnh vực những phương tiện kỹ thuật số mới mẻ, một sự mục vụ cho thấy Thiên Chúa sống động và đang hành động trong thực tại thường ngày và trình bày sự khôn ngoan tôn giáo của quá khứ như là một kho tàng phong phú mà, cần múc lấy ở đó để sống ngày hôm nay cách xứng đáng và xây dựng tương lai cách đúng đắn. Nhiệm vụ của người làm việc trong các phương tiện truyền thông với tư cách là người được thánh hiến là nhiệm vụ mở ra con đường cho những cuộc gặp gỡ mới mẻ, bằng cách luôn đảm bảo phẩm chất của cuộc tiếp xúc của con người và sự quan tâm đối với những con người cũng như đối với những nhu cầu thiêng liêng đích thực của họ, bằng cách cho những người đang sống trong thời đại « kỹ thuật số » của chúng ta những dấu chỉ cần thiết để nhận ra Chúa ; bằng cách mang lại cơ hội vun trồng sự mong đợi và niềm hy vọng và cơ hội lĩnh hội Lời Chúa mà cứu độ và tạo điều kiện cho sự phát triển con người toàn diện. Như thế, Lời Chúa sẽ có thể băng qua giữa những ngã đường vô số được tạo nên do mạng lưới giao nhau của những đường cao tốc đang cày nên không gian mạng và khẳng định « quyền công dân » của Thiên Chúa cho dầu vào thời đại nào, để, xuyên qua những hình thức truyền thông mới mẻ, Ngài có thể tiến bước trên những con đường dài của thành phố và dừng lại ở ngưỡng cửa của những mái nhà và những tâm hồn để vẫn còn nói : « Này đây ta đứng trước cửa và gõ. Nếu ai nghe tiếng ta và mở cửa, thì ta sẽ vào nhà người ấy, ta sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với ta » (Kh 3, 20).

Trong sứ điệp năm ngoái, tôi đã khích lệ các vị hữu trách các doanh nghiệp truyền thông thăng tiến một nền văn hóa tôn trọng đối với phẩm giá và giá trị của nhân vị. Đó là một trong những con đường mà Giáo Hội được kêu gọi thực thi « việc phục vụ nền văn hóa » trên « châu lục kỹ thuật số » hôm nay. Với Tin Mừng trên tay và trong tâm hồn, cần phải tái khẳng định rằng cũng đến lúc tiếp tục chuẩn bị những con đường dẫn đến Lời Chúa, mà không chểnh mảng lưu tâm đặc biệt đến những ai đang ở trong hoàn cảnh tìm kiếm, và còn hơn nữa, không chểnh mảng canh chừng như là bước đầu tiên của việc loan báo Tin Mừng. Quả thế, việc mục vụ trong thế giới kỹ thuật số được mời gọi cũng lưu tâm đến những người không tin, những người nản chí và những người mang trong tâm hồn những ước muốn cái tuyệt đối và chân lý chóng qua, vì những phương tiện mới cho phép bước vào trong sự liên lạc với những tín hữu của mọi tôn giáo, với những người không tin và những người thuộc về các nền văn hóa khác. Như ngôn sứ Isaia đã đi đến chỗ hình dung một ngôi nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc (x. Is 56, 7), chúng ta có thể giả thiết rằng – như « hành lang của dân ngoại » trong Đền Thờ Giêrusalem – trang web cũng có thể mở ra một không gian cho những người mà Thiên Chúa còn vô danh đối với họ.

Việc phát triển những công nghệ kỹ thuật mới và, trong toàn bộ của nó, thế giới kỹ thuật số biểu thị một tài nguyên quý giá cho toàn thể nhân loại và cho con người trong tính độc đáo của hữu thể của nó, cũng như là một động viên cho việc gặp gỡ và đối thoại. Nhưng chúng cũng được giới thiệu cho các tín hữu như là một cơ hội lớn lao. Quả thế, không có con đường nào có thể và phải bị đóng lại đối với những ai, nhân danh Chúa Kitô Phục Sinh, dấn thân trở nên luôn gần hơn với con người. Do đó, những phương tiện truyền thông mới trước tiên mang lại cho các linh mục những viễn ảnh luôn luôn mới mẻ và bao la về mặt mục vụ, mà thúc đẩy các ngài làm nổi bật chiều kích phổ quát của Giáo Hội, vì một sự hiệp thông rộng lớn và cụ thể, trở nên những chứng tá, trong thế giới hôm nay, cho đời sống luôn luôn mới mẻ mà nảy sinh từ việc lắng nghe Tin Mừng của Chúa Giêsu, Người Con đời đời đã đến giữa chúng ta để cứu thoát chúng ta. Tuy nhiên, không được quên rằng sự phong nhiêu của thừa tác vụ linh mục, trước hết, phát xuất từ Chúa Kitô được gặp gỡ và lắng nghe qua đời sống cầu nguyện, được loan báo qua việc rao giảng và chứng tá bằng cuộc sống, được biết và yêu mến trong các Bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải.

Các linh mục rất quý mến, tôi lặp lại lời mời gọi nắm bắt cách khôn ngoan những cơ hội đặc biệt mà truyền thông hiện đại mang lại. Xin Chúa biến anh em thành những người loan báo say mê Tin Mừng ngay cả trong « công trường » do các phương tiện truyền thông hiện nay tạo nên.

Với những lời cầu chúc đó, tôi khẩn cầu sự bảo trợ của Mẹ Thiên Chúa và của Cha Sở Thánh xứ Ars xuống trên anh em và tôi ưu ái ban Phép lành Tòa Thánh cho mỗi một người.

Từ Vatican, ngày 24 tháng Giêng năm 2010, ngày lễ thánh Phanxicô Salê.

BÊNÊĐICTÔ XVI, Mục tử của các mục tử

Lm. Võ Xuân Tiến chuyển ngữ từ bản tiếng Pháp.