Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

PHÚC ÂM: Mt 2, 1-12
"Chúng tôi từ phương Đông đến thờ lạy Đức Vua".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu. Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Đông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Đông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Đức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Đấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta". Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người". Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình. Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG MỞ LÒNG RA CHO ĐẤNG CỨU THẾ
Có nhiều điểm quan trọng trong Bài Phúc Âm Lễ Hiển linh giúp ta đi tìm Chúa với ơn gọi qua tiếng lương tâm ngay lành. Lần lượt ta đọc thấy sự kiện các nhà đạo sĩ nhận thấy ngôi sao lạ như dấu chỉ đi tìm vua mới sinh, Đấng sẽ có quyền uy cao cả trên nhân loại; đến sự nham hiểm của vua Hêrôđê qua lớp son đạo đức giả bằng những lời bọc vỏ khiêm tốn đạo hạnh: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cùng đền triều bái Người!" Các đạo sĩ chắc sẽ vô cùng ngạc nhiên khi ngôi sao dừng lại trước máng cỏ nghèo hèn với hình ảnh một hài nhi được sinh trong hang bò lừa, và cha mẹ Ngài lại vô cùng nghèo khó! Nhưng các ông đã xác tín đây chính là vị Vua các ông đã dong duổi khổ cực đi tìm, và các ông đã thờ lạy Ngài bằng kính dâng những lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược. Và sự kiện sau cùng soi thấu lương tâm ngay lành: đó là điềm báo cho các ông hãy tìm lối khác về, vì Hêrôđê đang tìm hãm hại Hài Nhi. Những sự kiện trên xảy ra vào những ngày đầu đời của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế. Dĩ nhiên chúng ta sẽ nghĩ đến bàn tay can thiệp của Thiên Chúa trong việc Đấng Cứu Thế giáng trần, nên không để cho Hêrôđê có thể hãm hại Ngài. Điều đó đúng, vì thuộc chương trình cứu độ Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tuy nhiên, điều chúng ta đọc được qua sự kiện trên chính là học cách xử sự của các nhà đạo sĩ với Hài Nhi Giêsu. Trước hết muốn gặp được Đức Giêsu cần phải có tâm hồn ngay lành và sẵn sàng muốn gặp Chúa. Thứ đến phải can đảm vượt các khó khăn trên đường tìm kiếm Chúa. Và trên đường tìm Chúa, rất cần phải tỉnh thức để có thể lắng nghe tiếng Chúa muốn ta làm gì, bởi quanh ta tràn đầy những nguy hiểm và bóng tối dầy đặc của tội lỗi và Satan. Sau cùng, khi gặp được Chúa, phải mở lòng ra đón lấy Ngài. Ngài có thể hiện thân trong hình trẻ sơ sinh nghèo nàn, trong thân phận những người nghèo khó, cô đơn, đau khổ, vô gia cư, không chút tiếng tăm, hoặc trong những kẻ bị xã hội ruồng bỏ, kết án là tội nhân, rác rưởi; Ngài có thể hiện thân trong những kẻ rất gần ta nhưng thường bị ta quên lãng, làm ngơ hay cư xử thậm tệ. Đức Kitô đã sinh ra trong hoàn cảnh mà người đời khó có thể nhận ra Ngài là Vua trời đất, nhưng từ khi sinh ra cho đến lúc lìa trần trên cây thập tự, Ngài đã tìm hiện thân bằng tình thương trong những loại người bị xã hội kết án ruồng bỏ, nói chung là tội nhân trước mắt họ, nhưng lại trở thành con cái Chúa trước lòng nhân hậu của Đấng Cứu Thế. Hiển Linh chính là ánh sáng tình thương của Đấng Cứu Thế soi chiếu toàn thể nhân loại sau Tin Mừng Giáng Sinh báo tin Đấng Mesia cho dân Do Thái. Hãy đi tìm Chúa với ý ngay lành và mở lòng ra cho Ngài như các đạo sĩ, ta sẽ thấy Ngài và đón nhận được Ngài. Ngài là vua tình thương và đường cứu rỗi duy nhất cho ta đó.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

12 tháng 12/2010: CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM A




PHÚC ÂM: Mt 11, 2-11


"Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi một Đấng nào khác?"


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Gioan ở trong ngục nghe nói về các việc làm của Chúa Kitô. Ông sai môn đệ đến thưa Ngài rằng: "Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác?" Chúa Giêsu bảo họ: "Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó; và phúc cho ai không vấp ngã vì Ta". Khi những người được sai đến đã đi rồi, Chúa Giêsu liền nói với đám đông về Gioan rằng: "Các ngươi đi xem gì ở hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió ư? Vậy các ngươi đi xem gì? Một người ăn mặc lả lướt ư? Nhưng những người ăn mặc lả lướt thì ở nơi cung điện nhà vua. Vậy các ngươi đi xem gì? Một tiên tri ư? Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn một tiên tri nữa. Vì có lời chép về ông rằng: 'Này Ta sai sứ thần Ta đi trước mặt con, để dọn đường sẵn cho con'. Ta bảo thật các ngươi, trong các con cái người nữ sinh ra, chưa từng xuất hiện một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Giả; nhưng người nhỏ nhất trong nước trời còn cao trọng hơn ông".
Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG HOANG ĐỊA CUỘC ĐỜI
Có lúc tình cảm nuối tiếc thời lãng mạn xa xưa ấy lại bừng lên trong lòng ta khi âm thanh của những bài hát trữ tình Rumba, Bolero hay Slow Rock thoáng vọng bên tai! Chúng ta đã đánh mất một quá khứ thơ mộng tuyệt vời. Kẻ lạ ôm lấy quá khư ấy, len lén gặm nhấm trong đêm đen, rồi tặng cho những giá trị kỷ niệm bất hủ ấy cái tên Nhạc Vàng. May mắn cho ta được sống trong tự do để thả hồn bay theo quá khứ đời mình và uống cạn những tình khúc yêu đương thiết tha làm nên cuộc đời. Còn họ thì bị mê hoặc bởi tính phù thủy lãng mạn tự do ấy! Nhưng đó chỉ còn là kỷ niệm với ta, bởi cuộc sống hiện tại đôi khi cũng như những hoang địa trống vắng khô cằn. Ta chẳng vào đó, như lời Đức Kitô, để ngắm nhìn những cây sậy phất phơ trước gió, hay những bóng hình ảo tưởng lả lướt như những cám dỗ cuộc đời. Đời ta đã một phần được làm nên bằng quá khứ; còn hiện tại vẫn đang mải mê với những giá trị lẫn lộn như mê hoặc của tự do. Và để tìm những giá trị đích thực, có lẽ phải đặt cho mình câu hỏi của Đức Kitô: Thực sự các ngươi đi xem gì ở hoang địa? Hoang địa dĩ nhiên là vùng đất khô cằn hoang vu. Mà đã hoang vu thì đồng nghĩa với hoang dã. Nhưng hoang dã lại rất gần với thiên nhiên của Thượng Đế dành cho các tạo vật của Ngài. Đức Kitô mặc hình người đã một lần chọn hoang địa để tĩnh mịch chiến đấu và chiến thắng cám dỗ. Ngài đã trả lời cho những người Do Thái rằng: nếu chọn đến hoang địa thì chỉ nhìn và tìm thấy duy nhất một Đấng cao trọng hơn cả một tiên tri (tức Gioan Tiền Hô). Đấng ấy phủ đầy quyền năng có sức làm cho người mù được thấy, kẻ què được đi, người hủi được sạch, kẻ điếc được nghe và người nghèo khó được nghe giảng Tin Mừng. Nếu đã gọi cuộc đời mình là hoang địa của quá khứ và hiện tại, dĩ nhiên lúc nào cũng vấn vương bởi những khúc tình ca lãng mạn làm nên đời ta, và bị cuốn hút quay cuồng trước sức mạnh của cám dỗ, thì chỉ mỗi bóng hình cao trọng duy nhất có thể ngự trị hồn ta là Đấng làm tác giả của hoang địa hoang vu khô cằn. Ta có thấy được bóng hình Ngài nơi mình đang bị lẫn lộn mê hoặc giữa các giá trị tự do cuộc đời không? Coi chừng những bóng hình lả lướt hay những cây sậy èo ọt phất phơ trước gió, lại là nơi nương tựa cho ta thay vì Đấng là tác giả của bài trường ca sự sống trữ tình bất diệt! Hãy lắng đọng hỏi lại lòng mình: Các ngươi đang xem gì nơi hoang địa cuộc đời?
Raphael Xuân Nguyên

Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

28 tháng 11/2010: CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG NĂM A

BÀI ĐỌC I: Is 2, 1-5
"Thiên Chúa quy tụ các dân tộc trong nước Người, để hưởng bình an đời đời".

Trích sách Tiên tri Isaia. Điềm Isaia con trai của Amos đã thấy về Giuđa và Giêru-salem. Điềm sẽ xảy ra trong những ngày sau hết, là núi của nhà Chúa được xây đắp trên đỉnh các núi, và núi ấy sẽ cao hơn các đồi, và các dân nước sẽ đổ về đó. Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: "Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Chúa và lên nhà ?Thiên Chúa? của Giacóp. Người sẽ dạy chúng ta đường lối của Người, và chúng ta sẽ đi theo ý định của Người"; vì luật pháp sẽ ban ra từ Sion, và lời Chúa sẽ phát ra từ Giêrusalem. gười sẽ xét xử các dân ngoại và khiển trách nhiều dân tộc. Họ sẽ lấy gươm mà rèn nên lưỡi cày, lấy giáo rèn nên lưỡi liềm. Nước này không còn tuốt gươm ra đánh nước kia nữa; người ta cũng sẽ không còn thao luyện để chiến đấu nữa. Hỡi nhà Giacóp, hãy đến, và chúng ta hãy bước đi trong ánh sáng của Chúa.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 121, 1-2. 3-4a. 4b-5. 6-7. 8-9 Đáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: "Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa"

(c. 1). Xướng: 1) Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: "Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa". Hỡi Giêrusalem, chân chúng tôi đang đứng nơi cửa thành rồi.

2) Giêrusalem được kiến thiết như thành trì, được cấu tạo kiên cố trong toàn thể. Nơi đây các bộ lạc, các bộ lạc của Chúa tiến lên.

3) Theo luật pháp của Israel, để ngợi khen danh Chúa. Tại đây đã đặt ngai toà thẩm phán, ngai toà của nhà Đavít.

4) Hãy nguyện cầu cho Giêrusalem được thanh bình, nguyện cho những kẻ yêu mến ngươi được an ninh. Nguyện cho trong thành luỹ được bình an, và trong các lâu đài của ngươi yên ổn.

5) Vì anh em và bằng hữu của tôi, tôi nguyện chúc: bình an cho ngươi! Vì nhà Chúa là Thiên Chúa chúng ta, tôi khẩn cầu cho ngươi những điều thiện hảo.


BÀI ĐỌC II: Rm 13, 11-14 "Phần rỗi chúng ta gần đến".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma. Anh em thân mến, biết rằng thời này là lúc chúng ta phải thức dậy. Vì giờ đây, phần rỗi chúng ta gần đến, hơn lúc chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Chúng ta hãy từ bỏ những hành vi ám muội và mang khí giới ánh sáng. Chúng ta hãy đi đứng đàng hoàng như giữa ban ngày, không ăn uống say sưa, không chơi bời dâm đãng, không tranh chấp ganh tị. Nhưng hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô, và chớ lo lắng thoả mãn những dục vọng xác thịt.

Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Tv 84, 8 Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin tỏ lòng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho chúng con. - Alleluia.

PHÚC ÂM: Mt 24, 37-44

"Hãy tỉnh thức để sẵn sàng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu. Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Trong thời ông Noe xảy ra thế nào, thì lúc Con Người đến cũng như vậy. Cũng như trong những ngày trước đại hồng thuỷ, người ta ăn uống, dựng vợ gả chồng, mãi đến chính ngày ông Noe vào tàu mà người ta cũng không ngờ, thình lình đại hồng thuỷ đến và cuốn đi tất cả, thì khi Con Người đến, cũng sẽ xảy ra như vậy. Khi ấy sẽ có hai người đàn ông đang ở ngoài đồng, một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi. Và có hai người đàn bà đang xay bột, một người được tiếp nhận, còn người kia bị bỏ rơi. Vậy hãy tỉnh thức, vì không biết giờ nào Chúa các con sẽ đến. "Nhưng các con phải biết điều này, là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông ta sẽ canh phòng, không để cho đào ngạch khoét vách nhà mình. Vậy các con cũng phải sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG BẤT NGỜ


Những vần thơ "bất ngờ trời vào thu" hay "bất chợt tình yêu đến" được chuyển thành những dòng nhạc trữ tình lãng mạn cũng bất ngờ làm rung động tim ta. Nhưng đó chỉ là những tác động tâm lý biến đổi mang theo ý nghĩa nào đó phù hợp với tâm trạng thi nhân hay khách đa tình, hoặc có khi ẩn giấu bâng khuâng nơi kẻ thất tình! Mà thực, đời người nói chung đều được gói ghém trong hai chữ bất ngờ. Bất ngờ một sự sống hiện hữu trong tôi và bạn, cho dù chẳng bất ngờ tý nào trong sự quan phòng của Thượng Đế. Thế rồi cũng bất ngờ đời tôi và bạn biến đổi không ngừng theo thời gian cho phù hợp với các giai đoạn đời người. Có những bất ngờ đem đến niềm vui, nhưng cũng đầy dẫy những bất ngờ mang lại dấu ấn đau khổ khôn nguôi. Một khi đã đặt cho tên Bất Ngờ, thì chẳng ai có thể đoán nổi nó sẽ ra sao. Bằng suy nghĩ và lý luận, ai cũng biết giai đoạn sau cùng của cuộc đời sẽ tận cùng bằng sự chết; nhưng chẳng tài nào biết được cách nào và khi nào thần chết sẽ đến gõ cửa lòng ta! Thôi thì cứ gọi nó bằng tên Bất Ngờ để quen dần với nó và có thể làm bạn với nó không chừng. Và một khi quen dần với những bất ngờ cuộc đời, tôi cũng như bạn sẽ không cần thắc mắc tại sao trong Phúc âm, Đức Kitô lại thích dùng hai tiếng bất ngờ để cảnh tỉnh hồn ta. Sự bất ngờ của đời người mà Đức Kitô nhắc đến không phải là những tai nạn tiêu diệt hạnh phúc, nhưng là những bằng chứng xác thực giúp họ mở rộng con mắt đức tin và cõi lòng rộng rãi đón nhận sự thật. Con tàu Noê đâu dễ gì hoàn tất trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng ít ra cũng phải cả trăm năm đời người, thế mà thiên hạ chẳng thèm đặt câu hỏi tại sao Noê đã khùng điên tiêu xài cuộc sống vào con tàu xem ra vô nghĩa với họ. Hai người đàn ông cùng làm ruộng và hai người đàn bà cùng xay bột là hình ảnh bình thường của cuộc sống; thế nhưng một trong hai người đàn ông cũng như đàn bà được tiếp nhận, và hai người còn lại bị bỏ rơi, là một sự bất ngờ không ai đoán được. Nếu hiểu theo định luật sự sống, thì là điều đương nhiên, nhưng nếu nhìn trong khía cạnh đạo đức, thì sự bất ngờ ấy chính là sự quan phòng của Thiên Chúa. Một khi sự bất ngờ nằm trong quan phòng của Thiên Chúa, thì nó không còn là bất ngờ nữa, nhưng sẽ biến thành sự thật có thể giải thoát, mà cũng có thể kết án. Bất ngờ trời vào thu là định luật xuay vần vũ trụ; bất chợt tình yêu đến là định luật cuốn hút của tình yêu; còn bất ngờ Con Người đến là chân lý đặt nhân loại trong tình trạng tỉnh thức và bàn cân công lý. Hãy mang lấy tâm trạng thi nhân, để dùng con mắt đức tin xuyên thấu thời gian phá đi những bất ngờ, nhờ đó ta sẽ luôn sống trong trái tim yêu đương của Thiên Chúa.

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Sứ điệp của Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010

SỨ ĐIỆP CỦA ĐẠI HỘI DÂN CHÚA VIỆT NAM 2010
1. Trong Năm Thánh 2010 nhân kỷ niệm 350 năm thiết lập hai địa phận tông tòa đầu tiên và 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã triệu tập Đại hội Dân Chúa, từ ngày 21 đến 25 tháng 11 năm 2010, tại Trung tâm mục vụ Tổng giáo phận Tp. HCM. Hiện diện tại đại hội, có 32 giám mục, 300 đại biểu linh mục, tu sĩ, giáo dân thuộc 26 giáo phận và các dòng tu trên cả nước. Đại hội hân hạnh đón tiếp các vị đại diện đến từ các Giáo hội Canada, Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, Thái Lan, và đại diện các cộng đoàn công giáo Việt Nam hải ngoại. Từ khắp mọi miền đất nước quy tụ về đây như anh chị em dưới một mái nhà, đây chính là thời điểm của ân sủng và kinh nghiệm quý báu Chúa ban cho Hội Thánh tại Việt Nam. Xin dâng lời tạ ơn Thiên Chúa về hồng ân cao quý này. Đồng thời, ý thức rằng trong suốt thời gian Đại hội, được anh chị em tín hữu công giáo tại Việt Nam cũng như hải ngoại luôn đồng hành trong lời cầu nguyện và qua những ý kiến đóng góp cho Đại hội, xin gửi đến mọi người lời cảm ơn chân thành nhất.
2. Đại hội Dân Chúa được khai mạc trọng thể vào ngày lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ, 21-11-2010, tại Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Sàigòn với sự tham dự đông đảo của anh chị em tín hữu. Cử hành lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ để khai mạc Đại hội giúp chúng tôi xác tín hơn vào sứ mạng của Hội Thánh. Chúa Kitô đã thiết lập Nước Thiên Chúa là “vương quốc của sự thật và sự sống, vương quốc thánh thiện và toàn phúc, vương quốc công chính, yêu thương và an bình” [1]. Hội Thánh Chúa Kitô có mặt trong lịch sử nhân loại với sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa trong quyền năng của Thánh Thần. Cũng thế, Hội Thánh Chúa Kitô tại Việt Nam có sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa, tiếp nối sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô, góp phần kiến tạo nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên quê hương đất nước này.
3. Sứ mạng đó đòi hỏi Hội Thánh phải đổi mới không ngừng để thực sự là Hội Thánh Chúa Kitô giữa lòng quê hương Việt Nam. Chúng tôi xác tín rằng Hội Thánh tại Việt Nam không phát xuất từ sáng kiến và nỗ lực của con người nhưng hoàn toàn phát xuất từ Thiên Chúa, sống nhờ Ngài và hướng tới Ngài [2]. Vì thế, trong mọi hoàn cảnh, điều quan trọng nhất vẫn là củng cố, canh tân, đào sâu mối hiệp thông của mỗi người tín hữu cũng như của mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn với Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và cử hành Thánh Thể. Cử hành Thánh Thể phải thực sự trở thành tâm điểm trong đời sống Hội Thánh tại Việt Nam. Để được như thế, cử hành Thánh Thể cần được nối dài bằng cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, đào sâu chân lý đức tin. Ước mong rằng trong những năm sắp tới, Hội Thánh tại Việt Nam sẽ đẩy mạnh việc phổ biến và học hỏi Lời Chúa bằng những phương thế khác nhau, để Lời Chúa thực sự trở thành của ăn nuôi dưỡng tâm hồn, kim chỉ nam và ánh sáng soi dẫn mọi quyết định và chọn lựa của các tín hữu.
4. Đại hội cũng xác tín rằng để thực sự là Hội Thánh của Chúa Kitô nhập thể và nhập thế, Hội Thánh tại Việt Nam phải nhập thể vào văn hóa và lịch sử của dân tộc mình. Trong hơn 4 thế kỷ hiện diện tại Việt Nam, Hội Thánh đã góp phần không nhỏ vào đời sống và sự phát triển của đất nước. Chính những người công giáo đầu tiên đã tạo ra chữ quốc ngữ mà mọi người Việt Nam hiện đang sử dụng. Các trường công giáo đã đào tạo biết bao nhân tài cho đất nước. Cũng chính người công giáo đã đem những giá trị nhân văn thấm vào đời sống xã hội như tôn trọng sự sống và phẩm giá con người, sự bình đẳng, tình bác ái, tinh thần phục vụ, hi sinh. Tiếp nối công trình của cha ông, Hội Thánh ngày nay cũng phải dấn thân vào việc xây dựng đất nước về mọi mặt: văn hóa xã hội, cũng như kinh tế chính trị, vì ý thức rằng: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, đối với người Công giáo, không những là một tình cảm tự nhiên phải có, mà còn là một đòi hỏi của Phúc âm” [3]. Khi dấn thân xây dựng xã hội trần thế, Hội thánh “không hề muốn thay thế Chính Quyền, nhưng chỉ mong rằng trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng lẫn nhau, Hội thánh có thể góp phần mình vào đời sống của Đất nước, nhằm phục vụ tất cả mọi người dân” [4]. Đó cũng là lời chứng cho mọi người thấy vẻ đẹp đích thực của Tin Mừng như Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắn nhủ tất cả chúng ta, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em phải chứng tỏ rằng người công giáo tốt cũng là người công dân tốt” [5].
5. Hội Thánh tại Việt Nam còn phải canh tân chính mình qua nỗ lực xây dựng Hội Thánh như một gia đình, trong đó mọi người hiệp thông với nhau như anh chị em một nhà, bình đẳng với nhau trên nền tảng ơn gọi làm người và làm con Chúa, chia sẻ cùng một sứ mạng và trách nhiệm dù được thể hiện trong những bậc sống và nhiệm vụ khác nhau. Sự hiệp thông này vừa là đòi hỏi vừa là lời chứng cần thiết mà Hội Thánh phải bày tỏ trước mặt mọi người như Chúa Giêsu đã thiết tha cầu nguyện: “Xin cho họ nên một như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong Chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21). Trong những ngày Đại hội, chúng tôi cảm nghiệm được bầu khí hiệp thông huynh đệ này khi mọi thành phần Dân Chúa sống chung với nhau như anh chị em trong một gia đình, cùng lắng nghe tiếng Chúa qua cầu nguyện, chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm và suy tư về Hội Thánh qua các bài thuyết trình, tham luận và hội thảo, với thao thức xây dựng Hội Thánh như lòng Chúa mong muốn. Sự hiện diện của đại diện các Giáo Hội chị em lại mở rộng hơn nữa chân trời hiệp thông trong Hội Thánh Chúa Kitô. Ước mong bầu khí huynh đệ này được trải rộng và thấm sâu vào đời sống Hội Thánh tại Việt Nam ở mọi cấp độ, trong mỗi gia đình, mỗi giáo xứ, mỗi dòng tu, mỗi giáo phận. Để bày tỏ khuôn mặt Hội Thánh như một gia đình, đại hội kêu gọi mọi thành phần Dân Chúa hợp tác chặt chẽ với nhau trong tình hiệp nhất yêu thương. Xin anh chị em giáo dân tích cực tham gia vào đời sống và sứ mạng của Hội Thánh bằng những khả năng chuyên môn Chúa ban cho mình. Các gia đình công giáo được mời gọi giữ vững và củng cố ơn gọi hôn nhân Kitô giáo, xây dựng gia đình như Hội Thánh tại gia, cái nôi của sự sống, mái ấm của tình thương và ngôi trường đầu tiên đào tạo con người toàn diện. Đối với các bạn trẻ, xin các bạn nhiệt thành tham gia vào những sinh hoạt của Hội Thánh để đem sức sống và sự tươi trẻ cho đời sống Hội Thánh. Gia đình và giáo xứ phải quan tâm đặc biệt đến việc giáo dục các đức tính nhân bản cho thiếu nhi, để sau này trở nên những con người hữu ích cho xã hội và Hội Thánh. Ước mong các tu sĩ thực sự trở nên dấu chỉ và chứng nhân sống động của tình yêu vô điều kiện mà Thiên Chúa dành cho con người, nhất là những người bé mọn trong xã hội. Đại hội nhấn mạnh vai trò của các giám mục và linh mục trong Hội Thánh. Công cuộc canh tân Hội Thánh cần được bắt đầu từ hàng linh mục, vì thế ước mong các giám mục và linh mục Việt Nam không chỉ là người quản trị giỏi nhưng trước hết là người của Chúa và là những mục tử nhân lành, biết gắn bó với Chúa Giêsu trong cầu nguyện để có thể phục vụ cộng đoàn theo gương Thầy chí thánh, biết tôn trọng và phát huy vai trò người giáo dân trong tinh thần đối thoại và cộng tác.
6. Để thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trong hoàn cảnh ngày nay, Hội Thánh phải là chất xúc tác của nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên đất nước Việt Nam. Trong hai thập niên vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, có nhiều điều đáng lo ngại cho tiền đồ của dân tộc. Nạn phá thai, ly dị, ma túy, mãi dâm, sự gia tăng cách biệt giầu nghèo, tình trạng bất công, bóc lột, tham nhũng, tàn phá môi sinh… tất cả đang có chiều hướng gia tăng và là những dấu hiệu cụ thể của “nền văn hóa sự chết”. Xác tín rằng Tin Mừng là “men của tự do và tiến bộ, nguồn của tình huynh đệ, của khoan dung và hòa bình” [6], nên hơn ai hết, người công giáo Việt Nam có sứ mạng kiến tạo nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương trên đất nước này, đồng thời sẵn sàng đối thoại chân thành và cộng tác lành mạnh với mọi người thiện chí, không phân biệt tôn giáo hay chính kiến, nhằm phục vụ sự phát triển toàn diện của mọi người trong xã hội [7], nhất là những người nghèo khổ và bị bỏ rơi. Trong tinh thần đó, chúng tôi đề nghị Chính quyền Việt Nam mở rộng cánh cửa cho các tôn giáo tham gia vào việc giáo dục học đường và y tế cộng đồng, vì ích lợi của người dân và của cả dân tộc.
7. Đối chiếu với sứ mạng cao cả đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu: “Anh em phải là muối cho đời, ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13.14), chúng tôi nhìn nhận mình còn nhiều lỗi lầm thiếu sót, vì thế khiêm tốn xin Chúa và anh chị em trong cũng như ngoài Hội Thánh tha thứ cho. Hội Thánh cũng nhớ đến biết bao khổ đau, bất công, bách hại đã phải chịu trong suốt chiều dài lịch sử của mình, không phải để nuôi dưỡng oán thù nhưng để tha thứ và cầu nguyện cho những người đã bách hại Hội Thánh, theo gương Chúa Kitô là Đấng đã hoàn tất công trình cứu chuộc trong sự khó nghèo và bị bách hại [8]. Các thánh tử đạo Việt Nam vừa là gương mẫu vừa là động lực thúc đẩy Hội Thánh thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trên quê hương đất nước mình. 8. Đại hội Dân Chúa Việt Nam kết thúc nhưng lại mở ra cho những bước chân hi vọng, niềm hi vọng được khơi nguồn và hoàn tất nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Tất cả những ý kiến của Đại hội sẽ được đúc kết thành những đề nghị, là chất liệu chính của văn kiện hậu Đại hội, nhằm đưa ra những định hướng và kế hoạch mục vụ của Hội Thánh Việt Nam trong những năm sắp tới. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến (Kh 22,20). Đây vừa là lời cầu xin vừa diễn tả niềm khao khát và hi vọng của Đại hội. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ La Vang và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin Chúa ngự đến trong tâm hồn mỗi người chúng con và biến đổi chúng con thành môn đệ đích thực của Chúa. Xin Chúa ngự đến trong mỗi gia đình công giáo, để gia đình trở thành cộng đoàn thờ phượng Chúa, hiệp nhất yêu thương nhau và cùng nhau làm chứng cho Tin Mừng Nước Trời. Xin Chúa ngự đến và hiệp nhất tất cả chúng con trong cùng một sứ mạng yêu thương và phục vụ, quyết tâm xây dựng nền văn hóa sự sống và văn minh tình thương, để dung nhan Chúa bừng sáng trên quê hương Việt Nam chúng con. Maranatha, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến. Làm tại Trung tâm mục vụ Tổng giáo phận Tp. HCM., Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 2010
[1] Kinh Tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua.
[2] Xem Bênêđictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2010. Cũng xem Tài Liệu Làm Việc, số 2.
[3] Thư chung 1980 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.
[4] Bênêđictô XVI, Huấn từ dành cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam dịp Ad Limina 2009.
[5] Như trên.
[6] Bênêđictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2010.
[7] Bênêđictô XVI, Thông điệp Bác Ái trong Chân Lý, số 4-6.
[8] Hiến chế tín lý về Giáo Hội Ánh Sáng Muôn Dân, số 8.
Đại hội Dân Chúa Việt Nam 2010(Nguồn: http://daihoidanchua.net/

Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2010

Chúa Nhật 33 Thường Niên, Năm C

SỬA SOẠN CHO NGÀY SAU HẾT MÀ KHÔNG AI BIẾT
Chúa Nhật 33 Thường Niên, Năm C
Ml 3,19-20; 2 Tx 3,7-12; Lc 21,5-19

Phụng vụ lời Chúa vào cuối năm phụng vụ đặt trước mắt người tín hữu viễn tượng của việc Chúa đến lần thứ hai vào ngày thế mạt. Khi chọn đoạn Thánh Kinh từ sách Malakhi, Giáo Hội muốn nhắc nhở cho người tín hữu về ngày của Chúa, ngày mà mặt trời công chính (Ml 3,20a) sẽ được chiếu sáng trên những kẻ kính sợ Người. Còn bài Phúc Âm đưa ra những hình ảnh về: Chiến tranh, loạn lạc (Lc 21,9), động đất, ôn dịch, đói kém, những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao (c.10), khiến người ta lầm tưởng rằng ngày chung cuộc (c.9), là ngày sau hết đã đến gần.Khi bàn về ngày sau hết, tác giả Thánh Kinh thường nại đến loại ngôn ngữ khải huyền, nghĩa là ngôn ngữ hay mẫu tư tưởng biểu tượng khó hiểu về ngày sau hết. Sách Đanien, một phần sách Êdêkien, sách Khải huyền, phần bàn về ngày cánh chung trong Phúc Âm Mát-thêu, Mác-cô và Luca, gợi lại những tai hoạ với những hình ảnh tàn phá xẩy ra trong vũ trụ như chiến tranh, động đất, bão tố, lụt lội và chết chóc.Những hình ảnh tàn phá mà các tác giả Thánh Kinh dùng để nói về ngày sau hết đã có thể xẩy ra trong quá khứ ở đâu đó trên thế giới rồi, chứ không hẳn được tiên đoán sẽ xẩy ra trong tương lai. Văn chương khải huyền được giả sử viết trước khi tai hoạ sẽ đến để cảnh giác người đọc, nhưng thực ra được viết sau khi tai hoạ xẩy ra. Ngày sau hết cũng được mô tả bằng hình ảnh khải huyền trong sách Malakhi: Ðốt cháy như hoả lò (Ml 3,19) và bằng hình ảnh biểu tượng: Mặt trời công chính (Ml 3,20a). Như vậy những hình ảnh tàn phá trong ngôn ngữ khải huyền, không hẳn nói về những biến cố sẽ xẩy ra trong ngày sau hết. Nói cách khác, ngôn ngữ khải khuyền không nhằm tiên đoán tương lai. Ý nghĩa của ngôn ngữ khải huyền chỉ có dụng ý là để cảnh giác người nghe và người đọc rằng sẽ có ngày sau hết và Thiên Chúa sẽ thống trị. Ngày sau hết là điều sẽ xẩy ra và là điều người tín hữu phải tin. Còn ngày sau hết xẩy ra như thế nào thì không hẳn như được diễn tả trong ngôn ngữ khải huyền. Việc dùng ngôn ngữ khải khuyền chỉ nhằm mục đích là để cảnh tỉnh những tâm hồn lơ là về đời sống nội tâm hoặc những tâm hồn chỉ đam mê sự đời mà thôi (1).Như vậy thì không phải hễ có chiến tranh, động đất và tai hoạ xẩy ra là ngày sau hết sắp đến. Ðền thờ Giêsusalem đã bị phá huỷ. Nhiều người đương thời cũng đã chứng kiến cảnh chiến tranh, động đất, thiên tai, nhưng người ta vẫn sống, thế giới vẫn tồn tại. Vậy thì lời Chúa dùng ngôn ngữ khải huyền trong Phúc Âm hôm nay muốn nhắc nhở cho người tín hữu rằng sẽ có ngày sau hết. Tuy nhiên khi thấy những tai hoạ xẩy đến thì không có nghĩa là ngày sau hết đã gần.Thánh Phaolô đã nhận ra lỗi lầm đó nơi một số tín hữu Thêxalônica. Họ nghĩ rằng ngày sau hết gần đến, nên họ chỉ ăn không ngồi rồi để đợi chờ và còn sống vô kỷ luật nên đã bị thánh Phaolô cảnh giác, bảo họ: Hãy ở yên mà làm việc (2Tx 3,12). Và đó là quan niệm bi quan, chán đời, không thực tế. Trong quá khứ, có nhóm giáo phái Kitô giáo tại Hoa Kỳ tiên đoán ngày tận thế sẽ đến vào khoảng thời gian từ 21-3-1843 đến 21-3-1844 (2). Qua thời gian đó, không có gì xẩy ra, họ lại đề nghị năm khác cho ngày tận thế.Trước khi bước sang thiên niên kỷ thứ ba, người ta cũng nghe những tin giật gân từ những tiên tri giả tung ra và được những cơ sở truyền thông loan tải, cho rằng sẽ có tai hoạ xẩy ra và rồi ngày tận thế sẽ đến vào năm 2000. Có những người nhẹ dạ, tìm đến nhà thờ xin nhiều nước thánh để rảy hầu xua đuổi ma quỉ (1Pr 5,8) và ra tiệm mua nhiều nến để đốt trong những ngày họ cho là đen tối sắp đến (Ge 2,10; Ge 4,15; Mt 24,29; Mk 13,24). Trong Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu bảo: Anh em đừng có theo họ (Lc 21,8). Về vấn đề kỹ thuật, người ta bàn nhiều đến Y2K vào năm 2000 trong máy vi tính. Người ta sợ sang năm 2000 máy vi tính không in ra số tiền lương hay những dữ kiện khác được. Sợ là vì trước đó thay vì ghi bốn số của năm nọ năm kia vào máy vi tính như năm 1999, người ta chỉ ghi hai số cuối cho lẹ là ’99. Sang năm 2000, thi người ta sợ là máy vi tính có thể đọc là năm 1900 hay năm của số không. Do đó máy cũng không in ra được gì, không in ra được tiền lương, không ra được món hàng để đặt mua.Là người Công giáo, ta tin Chúa Cứu Thế sẽ đến vào ngày thế mạt như người tín hữu tuyên xưng sau khi truyền phép Thánh Thể: Chúng con loan truyền việc Chúa chịu chết và tuyên xưng việc Chúa sống lại, cho tới khi Chúa lại đến. Sự việc Chúa đến lần thứ hai là đối tượng của đức tin của người Công giáo. Trong tất cả những lần đàm thoại về ngày thế mạt (cánh chung), Chúa Giêsu không bao giờ ám chỉ về thời gian khi nào ngày sau hết (tận thế) sẽ đến. Vậy ngày tận thế có thể được hiểu là ngày sau hết của đời sống mỗi người ở trần thế, hoặc là ngày tận cùng của thế giới. Nếu hiểu ngày tận thế là ngày cuối cùng của cuộc sống mỗi ngườì ở trần thế, thì ngày tận thế chính là cái chết của mỗi người, ngày Chúa gọi mỗi người ra khỏi thế gian đến trước toà thẩm phán. Khi nào ngày cuối hết của mỗi người hay khi nào ngày cuối hết của thế giới xẩy ra, và xẩy ra thế nào, không hẳn là điều quan trọng. Ðiều quan trọng là người tín hữu sửa soạn cho ngày đó. Làm thế nào để sửa soạn cho ngày sau hết? Trước hết người ta phải thanh toán nợ nần với Chúa và với tha nhân bằng cách làm hoà với Chúa qua bí tích cáo giải. Nếu có gia tài đáng kể, người ta cần viết di chúc để con cháu khỏi tranh chấp tố tụng lẫn nhau. Dù gia tài nhỏ bé, người ta cũng nên viết di chúc để con cháu biết ý mà tổ chức cho tang lễ của mình. Người cẩn thận còn liệt kê xem ai làm gì trong tang lễ nữa.Trong khi sống giữa thời gian, thời gian sau khi Chúa đến lần thứ nhất trong lịch sử loài người và thời gian trước khi Người sẽ trở lại trong vinh quang để kết thúc lịch sử loài người, người tín hữu không được giả bộ làm ngơ. Nếu trung thực với lòng mình, ta phải nhận thức rằng ta vẫn còn thời giờ cho việc phát triển đời sống nội tâm, và đời sống đức tin, và phát triển mối liên hệ với Chúa. Với đức tin, người tín hữu phải coi những thiên tai như động đất, bão tố, lụt lội, dịch tả .. và những tai hoạ do loài người gây nên như chiến tranh, tai nạn, khủng bố gây đổ nát, thiêu huỷ và chết chóc cho hàng trăm, hàng ngàn người như là những dấu hiệu Chúa muốn nói với ta điều gì đó. Phải chăng Chúa muốn bảo ta phải sửa soạn tâm hồn sẵn sàng để đến trước toà Chúa vì ta không biết ngày giờ nào ta phải đối diện với tử thần, ngày tận thế của đời sống cá nhân mỗi người. Các tác giả Thánh Kinh dùng ngôn ngữ khải huyền nói về chiến tranh, động đất, hoả hoạn, lụt lội .., chết chóc để cảnh giác những tâm hồn lơ là, hay đam mê sự đời. Vậy những người chứng kiến chính những thiên tai như lụt lội, hoả hoạn, động đất, chiến tranh, chết chóc trong thời đại mình đang sống có biết tự đề cao cảnh giác không?Lời cầu nguyện xin đừng quên sửa soạn cho ngày sau hết:Lạy Chúa, Chúa là khởi thuỷ và cùng đích của mọi loài mọi vật.Chúa cầm giữ vận mạng con người trong tay.Xin dạy con biết sửa soạn tâm hồn đến trước toà Chúa.Cũng xin chỉ cho con biết sống mỗi ngày,như là ngày cuối hết của đời con,để con được sống trong bình an và ơn nghĩa với Chúa. Amen.____________________________1. Xem thêm Stuhlmueller, Carrol. ‘Post-exilic Period: Spirit, Apocalyptic in Jerome Biblical Commentary. Prentice – Hall, Inc. Englewood Cliffs, New Jersey 1968. Sections 20,21-24.2. Festinger, Leon, etc. When Prophecy Fails. New York, N.Y. : Harper & Row, 1964. pp. 12-30.
Lm Trần Bình Trọng

Chủ Nhật, 7 tháng 11, 2010

7 tháng 11/2010: CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN NĂM C

BÀI ÐỌC I: 2 Mcb 7, 1-2. 9-14
"Vua vũ trụ sẽ làm cho chúng tôi được sống lại trong cuộc sống đời đời". Trích sách Macabê quyển thứ hai. Trong những ngày ấy, có bảy anh em bị bắt làm một với mẹ mình, và bị vua cho đánh bằng roi da và roi gân bò, bắt ép ăn thịt heo mà lề luật đã cấm. Nhưng người anh cả của chúng tâu vua rằng: "Bệ hạ còn hỏi han và muốn dò xét chúng tôi làm chi? Chúng tôi sẵn sàng chịu chết hơn là phạm đến lề luật Thiên Chúa đã truyền cho tổ phụ chúng tôi". Khi sắp thở hơi cuối cùng, người con thứ hai tâu vua rằng: "Hỡi vua độc ác kia, vua chỉ cất mất mạng sống chúng tôi ở đời này, nhưng Vua vũ trụ sẽ làm cho chúng tôi, là những kẻ đã chết vì lề luật của Người, được sống lại trong cuộc sống đời đời". Sau khi người con thứ hai chết, thì đến người con thứ ba chịu cực hình, tên lý hình bảo cậu le lưỡi, cậu liền le lưỡi, dõng dạc giang hai tay ra và nói một cách tin tưởng rằng: "Tôi được Trời ban cho các phần thân thể này, nhưng giờ đây vì lề luật của Thiên Chúa, tôi khinh chê chúng, bởi tôi trông cậy rằng Người sẽ ban lại cho tôi các phần thân thể ấy". Nhà vua và những kẻ tuỳ tùng của ông lấy làm bỡ ngỡ thấy lòng mạnh bạo của cậu trẻ coi các cực hình như không. Người con thứ ba chết rồi, thì người ta bắt người con thứ tư chịu cùng một cực hình. Lúc sắp chết, cậu nói rằng: "Thà chịu chết do tay người đời mà trông cậy Thiên Chúa sẽ cho sống lại thì hơn: Phần vua, vua sẽ không được sống lại để sống đời đời đâu".

Ðó là lời Chúa.

ÐÁP CA: Tv 16, 1. 5-6. 8b và 15 Ðáp: Lạy Chúa, khi thức giấc, con no thỏa nhìn chân dung Chúa (c. 15b).

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin nghe điều chính nghĩa của con, xin để ý đến lời con kêu cứu, lắng tai nghe tiếng con thốt ra tự cặp môi chân thành.

2) Bước con đi bám chặt đường lối của Ngài, chân con đã không hề xiêu té. Con kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời con, lạy Chúa, xin lắng tai về bên con, xin nghe rõ tiếng con.

3) Xin che chở con trong bóng cánh của Ngài. Phần con, nhờ công chính, sẽ được thấy thiên nhan, khi thức giấc, con no thỏa nhìn chân dung Chúa.


BÀI ÐỌC II: 2 Tx 2, 15 - 3, 5

"Chúa làm cho lòng anh em bền vững trong mọi việc làm và lời nói tốt lành". Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Thêxalônica. Anh em thân mến, nguyện xin Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và Thiên Chúa là Cha chúng ta, Ðấng đã thương yêu chúng ta và dùng ân sủng của Người mà ban cho chúng ta sự an ủi đời đời và lòng cậy trông tốt lành, xin Người khuyên bảo và làm cho lòng anh em bền vững trong mọi việc làm và lời nói tốt lành. Anh em thân mến, ngoài ra, xin anh em hãy cầu nguyện cho chúng tôi, để lời Thiên Chúa chóng lan tràn và được vinh hiển như việc đã thể hiện nơi anh em, và để chúng tôi thoát khỏi tay những kẻ lầm lạc và xấu xa: vì không phải hết mọi người đều có lòng tin. Nhưng Thiên Chúa là Ðấng trung thành, Người sẽ làm cho anh em được kiên vững và gìn giữ anh em khỏi sự dữ. Chúng tôi tin tưởng anh em trong Chúa: những điều chúng tôi truyền dạy, anh em hiện đang thi hành và sẽ còn thi hành. Nguyện xin Chúa hướng lòng anh em đến tình yêu Thiên Chúa và lòng kiên nhẫn của Ðức Kitô.

Ðó là lời Chúa.

ALLELUIA: Lc 21, 36 Alleluia, alleluia! - Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể thoát khỏi những việc sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người. - Alleluia.


PHÚC ÂM: Lc 20, 27-38

"Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống". Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, có mấy người thuộc phái Sađốc, là những người chối không tin có sự sống lại, đến gần Chúa Giêsu hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, Môsê đã viết cho chúng tôi: Nếu ai có một người anh cưới vợ, rồi chết đi mà không có con, thì người em phải cưới người vợ goá đó, để cho anh mình có kẻ nối giòng. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ rồi chết mà không có con. Người kế tiếp cưới vợ goá đó, rồi cũng chết không con. Người thứ ba cũng cưới người vợ goá đó. Và tất cả bảy người đều cưới như vậy và đều chết mà không để lại người con nào; sau cùng người thiếu phụ đó cũng chết. Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ ai trong các người ấy? vì tất cả bảy người đều lấy người ấy làm vợ". Chúa Giêsu trả lời họ rằng: "Con cái đời này cưới vợ, lấy chồng, song những ai sẽ xét đáng được dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết, thì sẽ không cưới vợ lấy chồng. Họ sẽ không thể chết nữa: vì họ giống như thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa: vì họ là con cái của sự sống lại. Về vấn đề kẻ chết sống lại, thì Môsê đã cho biết điều ấy trong đoạn nói về Bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa Abraham, Thiên Chúa Isaac, và Thiên Chúa Giacóp. Nhưng Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống. Vì mọi người đều sống cho Chúa".

Ðó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG TỰ DO VĨNH CỬU
Người ta thi vị hoá sự chết và gọi chết là đi xuống ngàn đời, một sự xa cách thăm thăm ngàn trùng với sự sống. Quả thực chết luôn đối nghịch với sống, bởi người chết luôn im lặng bí mật, chỉ người sống mới ồn ào tranh cãi, nói năng. Và thực tế là không ai muốn chết cả, vì chết là ngõ cụt của mọi ước mơ, hy vọng và hạnh phúc đang nắm bắt trong tầm tay của sự hiện hữu. Đối với phái Sađốc trong Phúc âm hôm nay, vấn đề không phải là chết, nhưng là không tin có sự phục sinh của sự chết nơi con người. Họ có thể được gán cho danh xưng hệ phái hiện sinh luôn day dứt và thao thức với sự sống hiện tại, để từ đó tỏa ra nỗi khát vọng hưởng thụ vội vã mảnh đời mau qua trong những chụp bắt hoặc nắm bắt hữu hình. Nhưng đó lại là ngõ cụt của sự hiện hữu. Ngược lại, Đức Kitô xác định minh nhiên về sự sống, nhất là sự sống lại trường tồn của đời người, chẳng những bằng niềm tin vào Ngài, mà còn bằng thực tế phục sinh nơi thân xác của Ngài sau khi đã yên giấc trong mộ ba ngày. Riêng trong bài Phúc âm hôm nay, Ngài mở ra cho con người sự bừng sáng của sự hiện hữu trường tồn: Khi sống lại, người ta không còn cưới vợ gả chồng, nhưng sẽ sống như các thiên thần trong Nước Thiên Chúa. Ở cuộc sống hiện tại, người ta không muốn mất đi sự sống được gắn liền với các "khâu" cuộc đời mà họ đã xây dựng. Thực ra, nó chỉ là những gì quá nhỏ bé nếu đem so với thế giới bao la như mênh mông vô tận. Những người Sađốc nêu vấn nạn không tin vào sự sống lại với Chúa Giêsu, ngoài cái "trick" sau này cô sẽ là vợ ai trong bảy anh em cô đã lấy làm chồng ở đời này, quả thực còn tố cáo nỗi khát vọng hưởng thụ của con người chỉ có trong tầm tay hôm này. Như thế, ta có thể nói, sự giới hạn của sự sống trong thân xác chính là cản trở mở ra thế giới bao la siêu việt và vĩnh cửu. Nên sự chết từ đó sẽ không còn là việc đi xuống ngàn đời hoặc im lặng thăm thẳm ngàn trùng, nhưng sẽ là sự giải thoát sống động và chân thật cái giới hạn tù đày của thân xác đời này. Việc sống như các thiên thần của con người sau sự phục sinh của họ mà Chúa Giêsu mạc khải chính là sự vô biên của sự sống bất tận. Người ta sẽ không còn bị lệ thuộc bởi vật chất "tro bụi" trong thân xác nữa, nhưng sẽ tự do trong suốt vượt mọi biên giới của sự sống hiện tại. Chúa Kitô phục sinh là hiện thân của sự tự do này. Bởi thế, khi ngắm nhìn người chết, ta sẽ thấy nỗi bình yên vô tận và quyền năng của tinh thần bất tử đang bao bọc chính ta. Người ta có thể gọi đó là tự do vĩnh cửu, vì nó luôn sống động, di chuyển và biến hóa trong sự phục sinh với Đức Kitô, và nhất là hòa tan trong sự sống thật của Thiên Chúa, để có thể luôn sống trong trạng thái "như các thiên thần".

Lm. Raphael Xuân Nguyên

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

Chúa Nhật XXX Thường Niên C

Được Nên Công Chính

Lc 18:9-14: 9 Với những kẻ tự tín rằng mình là công chính và khinh miệt người khác, Ngài nói ví dụ này: 10 "Hai người lên Ðền thờ cầu nguyện, một người là Biệt phái, và người kia là một người thu thuế. 11 Người Biệt phái đứng sững mà cầu nguyện nơi mình thế này: "Lạy Thiên Chúa, tôi đội ơn Người, vì tôi không phải như những người khác, gian tham, bất lương, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia. 12 Mỗi tuần tôi ăn chay hai lần, tôi nộp thuế thập phân về hết mọi vật tôi mua". 13 Còn người thu thuế đứng lẻn đàng xa, không dám ngước mắt lên trời, nhưng đấm ngực mà rằng: "Lạy Thiên Chúa, Xin khấng thương tôi là đứa tội lỗi!" 14 Ta bảo các ngươi: Người này xuống về nhà thì đã được giải án tuyên công, khác với người kia! Vì phàm kẻ nào nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, còn kẻ hạ mình xuống sẽ được nhắc lên".

Trong văn mạch chung bàn về việc lại đến của Con Người, dụ ngôn người Pharisêô và người thu thuế không bàn đến sự kiên trì cầu nguyện như đoạn trước nữa (18:1-8), mặc dù có nói đến sự cầu nguyện của người thu thuế (18:13), mà thái độ nội tâm phải có để có thể đến với Thiên Chúa khi Nước của Người đến. Điều nầy liên kết đoạn nầy với đoạn kế tiếp, nói đến việc Chúa Giêsu muốn các trẻ nhỏ đến gần Người (18:15-17). Đoạn nầy được phân chia như sau: - Dẫn vào dụ ngôn và mục đích (c. 9); - Câu chuyện của người Pharisêô và thu thuế (c. 10-13); - Kết luận (c. 14). Chủ đề chính của đoạn là bàn về sự công chính (c. 9.11.14). Chữ “dikaios” “dikaioō” đóng khung đoạn nầy. Dụ ngôn trình bày hình ảnh của người Pharisêô tự cho mình không thuộc hạng những người bất chính, và người thu thuế nhìn nhận mình là người tội lỗi. Tuy nhiên, cuối cùng Chúa Giêsu cho thấy ai sẽ được Người tuyên bố là công chính.

Dẫn vào dụ ngôn và mục đích (c. 9)

Chúa Giêsu tiếp tục kể dụ ngôn, và lý do của dụ ngôn được nêu ra ngay từ đầu (x. 18:1; 19:11) là “nhắm vào”, pros, (x. 20:19) những người “tự tin là mình công chính và khinh miệt những người còn lại”. Đối tượng của dụ ngôn, được xác định và hạn chế, ám chỉ những người Pharisêô (x. 16:14-15). Một đàng họ lấy sự công chính như là nền tảng cho họ để tin vào chính mình; “hoti” dịch là “bởi vì”, sự công chính được xem như là sự kiện. Sự “công chính” nầy sẽ được hiểu như thế nào, và sẽ được kể ra trong lời của người Pharisêô (18:11-12). Động từ peithō, từ gốc có nghĩa là “buộc vào”. Động từ nầy, có epi theo sau, có nghĩa là “lệ thuộc”. Những người được nói đây lệ thuộc hay buộc mình vào chính bản thân họ, dựa trên sự công chính của họ. Khác với người thu thuế, dựa vào Thiên Chúa. Đàng khác, họ “khinh miệt những người còn lại” (c. 9b). Động từ “exoutheneō”, có nghĩa rất mạnh là “khinh miệt”, là xem người khác không ra chi, chế nhạo họ (x. 23:11) và loại bỏ họ (x. Cv 4;11). “Loipos”, những người còn lại. Như thế, dựa trên sự công chính, những người nầy đặt mình tách ra khỏi “những người còn lại”, và khinh miệt họ.

Dụ ngôn người Pharisêô và người thu thuế

Các câu 10-13 trình bày câu chuyện, ngắn gọn, đối xứng mà không cân bằng. Sau ghi nhận sự kiện chung là cả hai người lên đền thờ cầu nguyện (c. 10), Luca dành hai câu trình bày thái độ và những gì người Pharisêô nói về chính mình (cc. 11-12); trong khi về người thu thuế chỉ trong một câu (c. 13). Trái lại, trong câu kết luận, Luca chú tâm nhiều hơn trên người thu thuế (c. 14). Mục đích lên đền thờ là để cầu nguyện (x. 1:10; 2:37; Cv 3:1). Hành trình ngược lại là về nhà (c. 14a). Đền thờ là nơi dành cho mọi người đến để cầu nguyện và thờ phượng Thiên Chúa (2:27); nên không có phân biệt nào cả giữa hai người “một người là… người kia là”; họ chỉ khác nhau ở cuối dụ ngôn (c. 14). Tuy nhiên, đền thờ là nơi có tính xã hội, người Pharisêô cũng muốn tỏ vai trò và quyền hành của họ (x. 20:1); ở đây sự công chính của họ.

Người Pharisêô (cc. 11-12)

Về mỗi người, Luca trình bày tư thế khi cầu nguyện, thái độ và nội dung lời cầu nguyện của họ. Người Pharisêô đứng, histēmi. Động từ nầy chắn hẳn ám chỉ tư thế đứng thẳng, hướng về người đang đối thoại (x. 19:8). Đứng cầu nguyện là tư thế thường thấy giữa người do thái (1 Sam 1:26; 1 V 8:14, 22; Mt 6:5; Mc 11:25). Vì người thu thuế “đứng đàng xa” trong đền thờ, có nghĩa là người Pharisêô đứng phía trước. Khi cầu nguyện, ông kể lể rất dài (động từ ở thể quá khứ chưa hoàn thành). Ở đây có một khó khăn về bản văn: nếu pros heauton (c. 11a) đi theo động từ “đứng”, nó nghĩa là người Pharisêô “đứng riêng”, so sánh với người thu thuế đứng “đàng xa”. Nếu pros heauton đi theo động từ “cầu nguyện”, có nghĩa là người Pharisêô “tự nói với chính mình”. Tuy nhiên, điểm chung trong cả hai trường hợp là người Pharisêô tách mình ra khỏi người khác và cả Thiên Chúa nữa.

Người Pharisêô nói về đời sống đạo đức của mình. Ho Theos, ở thể nominative được hiểu như vocative “Lạy Chúa!”. Ông tạ ơn về những điều đang diễn ra trong đời sống của ông (động từ “tạ ơn” ở thì hiện tại). Dẫn vào danh sách đầu tiên (c. 11b), ông đặt mình tách khỏi số “những người còn lại”, loipoi (cc. 9.11). Ông không “giống như” họ, hay không “như” người thu thuế. “Những người còn lại” nầy như thể đều bị xem là trộm cắp, bất chính, ngoại tình; người thu thuế là thí dụ điển hình cho những người như thế. Sự phân biệt của ông phản ánh suy nghĩ của người thời đó về những người nầy (5:29-30; 7:34; 15:1). Trong danh sách thứ hai (c. 12), ông liệt kê những việc đạo đức cá nhân đang làm để chứng minh ông “không giống như” những người khác. Cả hai động từ “ăn chay” và “đóng góp” đều ở thì hiện tại. Ông đưa ra hai việc tiêu biểu mà người Pharisêô thường làm và hãnh diện về những việc đó: ăn chay (x. 5:33; Mt 9:14); đóng góp cho đền thờ (11:42; Mt 23:23). Sabbaton, ở đây hiểu là một “tuần lễ”, chứ không phải là ngày sabbát, khó có thể hiểu là ăn chay hai lần trong một ngày sabbát. Những điều người Pharisêô kể ra đây thuộc về luật buộc chung. Người nầy hãnh diện vì ông chu toàn tất cả và xem đó như công nghiệp của ông.

Người thu thuế (c. 13)

Tư thế, thái độ và lời cầu nguyện của người nầy khác hẳn với người Pharisêô. “Đứng đàng xa” không chỉ xác định khoảng cách không gian, mà còn cho thấy nơi của người đang đứng đó không phải là chỗ chính và quan trọng. Người phú hộ trong âm phủ (16:23), Phêrô ngoài dinh thượng tế (22:54), những người biết Chúa và các phụ nữ xa nơi Chúa chịu treo trên thánh giá (23:49). Như thế, vị trí “đằng xa” của người thu thuế chắc chắn không phải là ở phần chính trong đền thờ như vị trí người Pharisêô đang đứng. Ông “không muốn ngay cả ngước mắt lên trời”. Luca dùng từ phủ định “ouk…oude” để nhấn mạnh ước muốn của ông. “Ngước mắt lên trời” là để nhìn thấy phúc lành (6:22); ơn cứu độ (16:23; 21:28) và vinh quang của Thiên Chúa (Cv 1:9). Người thu thuế từ chối cách quyết liệt điều nầy vì biết mình không xứng đáng chút nào trước mặt Thiên Chúa. Hành vi “đấm ngực” là dấu hiệu tang chế (x. 8:52), hay thống hối (23:48). Giống như người Pharisêô, người thu thuế kêu cùng Thiên Chúa: “Lạy Chúa! ”, nhưng nội dung khác hẳn “Xin tỏ lòng khoan nhân với tôi, một người tội lỗi”. Động từ “hilaskomai” có nghĩa là “nguôi giận” “giao hòa với ai”. Khi ở thể thụ động, động từ có nghĩa là “tỏ ra quảng đại”, “tỏ lòng thương xót”. Thiên Chúa thường là chủ ngữ của hành động nầy. Người thu thuế xin Thiên Chúa tỏ lòng khoan nhân đối với ông và tha thứ cho ông là người tội lỗi. Tiếng kêu cầu nầy vọng lại lời cầu xin của các hối nhân trong các Thánh vịnh (24:11; 79:9). Như thế, người thu thuế vừa nhận biết Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ, vừa nhận biết mình tội lỗi, nên ông đã có thái độ và hành động xứng hợp; đồng thời đã tìm kiếm lòng thương xót chữa lành và giao hoà từ nơi Người.

Kết luận (c. 14) mở đầu với lời “Tôi nói với các ông” (7:26.28; 11:8; 12:5, …) để nhấn mạnh uy quyền trong dạy dỗ và phán quyết của Chúa Giêsu. Người thu thuế bây giờ được đặt lên trước. Ông được Chúa Giêsu tuyên bố là “được nên ông chính”, trong khi người Pharisêô xem là người tiêu biểu cho hạng người bất chính (c. 11). Còn người Pharisêô tự xem mình là người “công chính” (c.1), không được kể là công chính trước mặt Thiên Chúa; họ có thể được xem là công chính trước mặt con người (x. 16:15). Phần thứ hai của câu kết luận (c. 14b), lập lại câu kết của trình thuật 14:8-11. Áp dụng của nó có khác đi. Luca xem người Pharisêô đã nâng mình lên trước mặt Thiên Chúa, khi ông kể ra những điều ông đã tuân giữ theo lề luật. Ông xem đó là sự công chính của riêng ông, và không cần gì đến Thiên Chúa cả! Trong khi người thu thuế được xem là người hạ mình trước mặt Thiên Chúa, vì ông đã thống hối và cầu xin Thiên Chúa làm cho ông nên công chính.

Điều Thiên Chúa cần nơi con người là lòng thống hối để được Người làm cho nên công chính. Việc tuân giữ lề luật không làm cho con người nên công chính khi không nhận biết Đấng Công Chính và nhận sự thánh hoá từ nơi Người. Không dừng lại ở lề luật và cho mình là công chính vì đã tuân giữ chúng.

Lm. Luigi Gonzaga Đặng Quang Tiến

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

17 tháng 10/2010: CHÚA NHẬT 29 THƯƠNG NIÊN NĂM C

CHÚA NHẬT 29 THƯƠNG NIÊN NĂM C
BÀI ÐỌC I: Xh 17, 8-13
"Khi ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng trận".
Trích sách Xuất Hành. Trong những ngày ấy, người Amalec đến giao chiến với Israel tại Raphiđim, Ông Môsê nói với ông Giosuê rằng: "Ngươi hãy tuyển lựa các chiến sĩ ra chiến đấu với người Amalec: ngày mai tôi sẽ cầm gậy Thiên Chúa trong tay lên đứng trên đỉnh núi". Ông Giosuê thực hiện như lời ông Môsê đã dạy, và ra chiến đấu với người Amalec. Còn ông Môsê, Aaron và Hur thì đi lên đỉnh núi. Khi ông Môsê giơ tay lên, thì dân Israel thắng trận, còn khi ông hạ tay xuống một chút, thì người Amalec thắng thế. Bấy giờ tay ông Môsê mỏi mệt, người ta liền khiêng tảng đá kê cho ông ngồi, còn ông Aaron và ông Hur thì nâng đỡ hai tay ông. Bởi đó hai tay ông không còn mỏi mệt cho đến khi mặt trời lặn. Ông Giosuê dùng lưỡi gươm đánh đuổi người Amalec và quân dân nó.
Ðó là lời Chúa.
ÐÁP CA: Tv 120, 1-2. 3-4. 5-6. 7-8
Ðáp: Ơn phù trợ chúng tôi ở nơi danh Chúa, là Ðấng tạo thành trời đất (c. 2).
Xướng: 1) Tôi ngước mắt nhìn lên đỉnh núi cao, ơn phù trợ cho tôi sẽ từ đâu ban tới? Ơn phù trợ chúng tôi ở nơi danh Chúa, là Ðấng tạo thành trời đất.
2) Người chẳng để cho chân ngươi xiêu té; Ðấng bảo vệ ngươi, Người chẳng có ngủ say. Kìa Ðấng bảo vệ Israel, Người không thiếp giấc, không ngủ say.
3) Chúa sẽ bảo vệ thân ngươi, Chúa là Ðấng che chở ngươi ở bên tay hữu. Mặt trời sẽ không hại ngươi lúc ban ngày, và mặt trăng cũng chẳng hại ngươi về ban đêm.
4) Chúa sẽ gìn giữ ngươi khỏi mọi điều tai biến; Người sẽ bảo vệ linh hồn ngươi. Chúa sẽ bảo vệ ngươi khi đi và khi tới, ngay tự bây giờ và cho đến muôn đời.

BÀI ÐỌC II: 2 Tm 3, 14 - 4, 2
"Người của Thiên Chúa được hoàn hảo, để sẵn sàng thực hiện mọi việc lành".
Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi Timôthêu. Con thân mến, con hãy bền vững trong các điều con đã học hỏi và xác tín, vì con biết con đã học cùng ai, vì từ bé, con đã học biết Sách Thánh, và chính Sách Thánh đã dạy con sự khôn ngoan để con được cứu rỗi nhờ tin vào Ðức Giêsu Kitô. Tất cả Kinh Thánh đã được Chúa linh hứng, đều hữu ích để giảng dạy, biện bác, sửa dạy và giáo dục trong đàng công chính, ngõ hầu người của Thiên Chúa được hoàn hảo để sẵn sàng thực hiện mọi việc lành. Cha khuyến cáo con trước tôn nhan Thiên Chúa và Ðức Kitô, Ðấng sẽ thẩm phán kẻ sống và kẻ chết, nhân danh cuộc xuất hiện của chính Người và vương quốc của Người: Con hãy rao giảng lời Phúc Âm, hãy xúc tiến việc đó, dầu thời thế thuận lợi hay không thuận lợi; hãy thuyết phục, hãy khiển trách, hãy khuyên lơn với tất cả lòng kiên nhẫn và quan tâm giáo huấn.
Ðó là lời Chúa.
ALLELUIA: Ga 14, 23 Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". - Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 18, 1-8
"Thiên Chúa sẽ minh xử cho những kẻ người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng, mà rằng: "Trong thành kia, có một vị thẩm phán không kính sợ Thiên Chúa, cũng không kiêng nể người ta. Trong thành đó lại có một bà goá đến thưa ông ấy rằng: 'Xin ông minh oan cho tôi khỏi tay kẻ thù'. Trong một thời gian lâu dài, ông không chịu, nhưng sau đó ông nghĩ rằng: 'Mặc dầu ta không kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng kính nể người ta, nhưng vì bà goá này cứ quấy rầy ta mãi, nên ta sẽ xử cho bà ấy, kẻo bà ấy đến mãi làm ta nhức óc'". Rồi Chúa phán: "Các con hãy nghe lời vị thẩm phán bất lương nói đó. Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn, hằng kêu cứu với Người đêm ngày, mà khoan giãn với họ mãi sao? Thầy bảo các con, Chúa sẽ kíp giải oan cho họ. Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?"
Ðó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG KIÊN NHẪN CẦU NGUYỆN
Chắc hẳn không ai dám nghĩ đến và muốn câu sau cùng của Bài Phúc âm hôm nay sẽ thành sự thật: Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng? Nếu thế thì tất cả hạnh phúc đời này và đời sau sẽ tùy thuộc vào đức tin và việc thực hành đức tin của ta hôm nay. Một trong những việc thực hành ấy là sự kiên nhẫn cầu nguyện như Chúa Giêsu đã dạy về thái độ của bà góa quấy rầy vị thẩm phán bất lương. Ông này vì sợ nhức óc do những lời kêu ca của bà, nên đành phải minh oan cho bà! Ở đây có hai điều hữu ích trong việc thực hành đức tin, đó là sự kiên nhẫn cầu nguyện và việc nhận ra thời giờ cũng như cách thức Chúa nhận những lời cầu xin ấy. Về sự kiên nhẫn cầu nguyện diễn tả lòng tin nơi Chúa có thể coi như việc thờ phượng tung hô và tin tưởng liên lỉ vào quyền năng của Ngài. Những lời cầu hay ca ngợi của ta với Chúa có thể rất nhàm chán như những lời quấy rầy của bà góa với vị thẩm phán, nhưng sự kiên nhẫn ấy lại là việc tin tưởng tuyệt đối của ta nơi Chúa, bởi ngoài Ngài ra, chẳng ai có thể ban cho ta ơn cứu độ đời đời và hạnh phúc từng ngày hôm nay. Như Chúa Giêsu dạy, ta hãy kiên nhẫn quấy rầy Chúa, thế nào Ngài cũng cho điều ta cần. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn chính là nhận ra thì giờ và cách thức Chúa ban ơn lành cho ta. Thì giờ có thể coi như những điểm hẹn, những thời điểm trong cuộc đời; còn cách thức có thể xem như những gì tốt nhất cho cuộc sống. Những điểm hẹn hay thời điểm trong cuộc sống thì bàng bạc trải dài suốt cả đời ta. Chúng có thể là tích cực và tiêu cực, nghĩa là cả tốt lẫn rủi ro, bởi vì như thánh Phaolô nói tất cả đều tốt cho kẻ có lòng mến Chúa. Cuộc minh oan của vị thẩm phán cho bà góa chưa hẳn đã hoàn toàn may mắn, nên cần phải đợi chờ! Còn cách thức Chúa ban ơn lành lại quá xa vời với ý nghĩ nhân loại. Những gì ta nghĩ là cần là tốt cho mình, thì có khi Chúa lại không muốn như vậy. Nếu thế, Con Một Giêsu của Ngài đã không ngại chọn chết trên thập giá thay vì cách khác nhẹ nhàng hơn để cứu độ nhân loại. Về điểm này, ta phải nhận rằng mình bị giới hạn trong thân phận nhân loại, nên không thể hiểu được rõ ràng ý Chúa cho cuộc đời mình, chỉ biết rằng ý Chúa chắc chắn sẽ tốt hơn cho ta. Như Chúa Giêsu dạy, ta hãy kiên nhẫn cầu nguyện và tin tưởng vào Chúa, thế nào cũng được ơn cứu độ, điều mà ai cũng rất cần cho phút sau cùng của cuộc sống mình (Lc 21:19). Lm. Raphael Xuân Nguyên

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2010

22 tháng 8/2010: CHÚA NHẬT 21 THƯƠNG NIÊN NĂM C

ĐỌC I: Is 66, 18-21
"Chúng dẫn tất cả anh em các ngươi từ mọi dân tộc đến".

Trích sách Tiên tri Isaia. Đây Chúa phán: "Ta đã biết các việc làm và tư tưởng của chúng; Ta đến quy tụ mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ: chúng sẽ đến và nhìn thấy vinh quang của Ta. Ta sẽ đặt nơi chúng một dấu lạ, Ta sẽ sai một số trong những người được giải thoát đến các dân ngoài biển, bên Phi châu và Lyđia, là những dân thiện xạ, đến Ý-đại-lợi và Hy-lạp, đến những hòn đảo xa xăm, đến với những kẻ chưa nghe nói về Ta, và chưa thấy vinh quang của Ta. Chúng sẽ rao giảng cho các dân biết vinh quang của Ta, sẽ dẫn tất cả anh em các ngươi từ mọi dân tộc đến như của lễ dâng cho Chúa, họ cỡi ngựa, đi xe, đi võng, cỡi la, cỡi lạc đà, đến núi thánh của Ta là Giêrusalem, khác nào con cái Israel mang của lễ trong chén tinh sạch vào nhà Chúa, Chúa phán như thế. Trong những dân đó, Ta sẽ chọn các tư tế, các thầy Lêvi: Chúa phán như vậy". Vì chưng lời Chúa rằng: Cũng như Ta tạo thành trời mới, đất mới đứng vững trước mặt Ta thế nào, thì dòng dõi ngươi và danh tánh các ngươi sẽ vững bền như vậy".

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 116, 1. 2 Đáp:

Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15). Xướng: 1) Toàn thể chư dân, hãy khen ngợi Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người. 2) Vì tình thương Chúa dành cho chúng tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời.


BÀI ĐỌC II: Dt 12, 5-7, 11-13 "Chúa sửa dạy ai là kẻ Người yêu mến". Trích thư gửi tín hữu Do-thái. Anh em thân mến, anh em đã quên lời yên ủi tôi nói với anh em, như nói với những người con rằng: "Hỡi con, con chớ khinh thường việc Chúa sửa dạy, và đừng nản chí khi Người quở trách con; vì Chúa sửa dạy ai là kẻ Người yêu mến, và đánh đòn kẻ mà Người chọn làm con". Trong khi được sửa dạy, anh em hãy bền chí. Thiên Chúa xử sự với anh em như con cái: vì có người con nào mà cha không sửa phạt. Ngày nay, hẳn ai cũng coi việc sửa dạy là nỗi buồn khổ, hơn là nguồn vui, nhưng sau này, nó sẽ mang lại hoa quả bình an công chính cho những ai được sửa dạy. Vì thế, anh em hãy nâng đỡ những bàn tay bủn rủn và những đầu gối rụng rời. Đường anh em đi, anh em hãy bạt cho thẳng, để người què khỏi bị trẹo chân, nhưng được an lành.

Đó là lời Chúa.

ALLELUIA: Ga 14, 23 Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.


PHÚC ÂM: Lc 13, 22-30

"Người ta sẽ từ đông chí tây đến dự tiệc trong nước Chúa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, Chúa Giêsu rảo qua các đô thị và làng mạc, vừa giảng dạy vừa đi về Giêrusalem. Có kẻ hỏi Người rằng: "Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ?" Nhưng Người phán cùng họ rằng: "Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi biết: nhiều người sẽ tìm vào mà không vào được. Khi chủ nhà đã vào và đóng cửa lại, thì lúc đó các ngươi đứng ngoài mới gõ cửa mà rằng: 'Thưa ngài, xin mở cửa cho chúng tôi'. Chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: 'Ta không biết các ngươi từ đâu tới'. Bấy giờ các ngươi mới nói rằng: 'Chúng tôi đã ăn uống trước mặt ngài và ngài đã giảng dạy giữa các công trường chúng tôi'. Nhưng chủ sẽ trả lời các ngươi rằng: 'Ta không biết các ngươi tự đâu mà tới, hỡi những kẻ làm điều gian ác, hãy lui ra khỏi mặt ta'. Khi các ngươi sẽ thấy Abraham, Isaac, Giacóp và tất cả các tiên tri ở trong nước Thiên Chúa, còn các ngươi bị loại ra ngoài, nơi đó các ngươi sẽ khóc lóc nghiến răng. Và người ta sẽ từ đông chí tây, từ bắc chí nam đến dự tiệc trong nước Thiên Chúa. Phải, có những người sau hết sẽ trở nên trước hết và những người trước hết sẽ nên sau hết". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG QUA CỬA HẸP
Có một vài hình ảnh cửa hẹp mà Chúa Giêsu hay nhắc đến, đó là cửa Đền Thờ Giêrusalem, nơi Ngài thường đi vào để tham dự các nghi thức thánh và giảng dạy. Cửa vào có một lối từ cuối dành cho mọi người mà thôi; hoặc cửa khác Chúa Giêsu nhắc nhiều hơn, đó là cửa chuồng chiên. Cửa này hẹp và chỉ có một lối cho cả đàn chiên vào; người chăn chiên thì gác tại cửa; hay một loại cửa khác nữa rất hạn chế và đòi hỏi người vào đúng giờ, đó là cửa phòng cưới. Mấy cô thiếu nữ khờ ngủ quên đã không được vào tiệc cưới với chàng rể ban đêm hơi giống với hình ảnh cửa hẹp của bài Phúc âm hôm nay. Trong thực tế của Nước Trời, cửa không làm bằng vật chất, nhưng là Lề Luật và các phương tiện nên thánh, đúng hơn là các phương tiện dẫn vào Nước Trời. Nước Trời đây phải hiểu theo nghĩa trong Phúc Âm mà Chúa Giêsu nói qua các dụ ngôn; do đó, Nước Trời vừa mang tính hữu hình, vừa tồn tại vĩnh cửu, và vì thế, nó vẫn tiếp tục cho đến ngày tận thế trong ý nghĩa loan báo Tin Mừng về Nước Trời. Người ta sẽ nhận ra ngay tính cách hẹp và rộng của Nước Trời nếu hiểu rõ ràng và chính xác ý nghĩa các Lề Luật, các phương tiện nên thánh và các giáo huấn của Chúa Giêsu. Điều quan trọng khác mà Chúa Giêsu nhắc trong Phúc âm hôm nay, đó là câu nói hơi có tính thất vọng: Các ngươi hãy cố gắng vào qua cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi biết: nhiều người sẽ tìm vào mà không vào được! Nếu đọc kỹ Phúc âm trước đó về hình ảnh những người đam mê của cải vật chất, sẽ hiểu tại sao các môn đệ lại hỏi Chúa: Lạy Thầy, phải chăng chỉ có một số ít sẽ được cứu độ? Và câu trả lời mang tính thất vọng kia sẽ trở thành thực tế, bởi vì tính cách hẹp của cửa không hệ tại cửa hẹp, mà hệ tại tấm lòng hay ý muốn của con người. Họ muốn vào mà không vào được, vì lòng họ còn đầy đam mê và những ý muốn bất chính, hoặc tâm hồn họ không hướng về Nước Trời, mà chỉ hướng về trần thế với đủ thứ cám dỗ đưa đến sa đọa và diệt vong. Họ tự đóng cửa Nước Trời chứ không phải Chúa, bởi họ khinh thường Lề Luật và các phương tiện nên thánh cũng như các giáo huấn mà Chúa đã truyền dạy! Có thể nói cuộc đời người Kitô hữu theo Chúa luôn là hành trình đi vào cửa hẹp của Nước Trời. Bước đến Nhà Thờ các ngày Chúa Nhật hay tham dự các Bí Tích... gợi họ những quyết tâm không ngừng trong việc chọn Chúa và Nước Trời. Khi chọn Chúa thì cửa Nước Trời sẽ mở; nhưng khi xa Chúa thì họ sẽ tự động đóng cửa ấy lại! Quả thực Chúa cần ta để Ngài ban ơn cứu độ; ngược lại ta rất cần Ngài để lãnh ơn cứu độ đó. Lm. Raphael Xuân Nguyên
Nghe Giảng

NHỮNG NGƯỜI LỮ HÀNH
Hỵ Nguyễn Văn Thuận 24 -

HỌC 1.

Thành quả của lòng khiêm tốn học hỏi. * Muốn tiến kịp, tiến nhanh, tiến vững trên đường hy vọng, con phải học (ĐHV 557). * Học để biết. Học để canh tân. Học để phục vụ. Học để yêu mến (ĐHV 560). * Không thông thạo, con dễ tự phụ và tuyên bố táo bạo. Trường hợp con có địa vị, con càng dễ ảo tưởng con thông thạo hơn nữa. Đại họa cho con và cho nhiều người vì sự bất lực ngạo nghễ của con (ĐHV 576). * Tài không đủ, phải có đức. Tài của con người kiêu căng, khó chịu, chỉ để xử dụng với máy móc và chất hóa học, chứ không để yêu thương thuyết phục người khác (ĐHV 577). Khi được bổ nhiệm làm Hồng Y Tổng Giám mục thành Milanô, Đức Cha Ratti (sau này là Giáo hoàng Piô XI) rất lấy làm băn khoăn, lo lắng; bởi vì tuy là một người rất thông minh thánh thiện, nhưng chuyên môn của ngài là ngành ngoại giao và đặc biệt là ngành thư viện (ngài đã quản thủ thư viện Vatican trong nhiều năm); các công việc mục vụ của giáo xứ, giáo phận đối với ngài thật là vấn đề rất mới! Bởi thế, khi mới về nhận giáo phận, trong suốt sáu tháng đầu, ngài đã khiêm tốn mời ông chủ tịch Công giáo Tiến hành ngày ngày đến Toà Giám mục dạy vẽ cho ngài về phong trào đó: tinh thần, cơ cấu, tổ chức, chi tiết của mỗi ngành cũng như những thành công và thất bại của phong trào trong thời gian trước. Thế rồi, chỉ 6 tháng sau "thầy dạy" của ngài "hết chữ", đành phải công nhận "học trò" đã bao quát, tổng hợp được mọi vấn đề, chiều sâu cũng như chiều rộng. Bây giờ Đức Hồng Y Ratti mới bắt đầu ngồi lại cùng các chiến sĩ hăng say trong giáo phận để vạch chương trình và ra sức thực hiện những quyết định độc đáo do ngài đề xướng. Công việc mục vụ được tiến hành cách mau lẹ, thành công, đem lại phấn khởi và niềm tin tưởng cho mọi người. Mấy năm sau, ngài được bầu làm Giáo Hoàng dưới danh hiệu là Piô XI. Trong suốt 17 năm trên ngôi Giáo Hoàng, ngài đã mạnh mẽ xúc tiến khắp nơi vấn đề Công giáo Tiến hành. Dưới sự hướng dẫn sáng suốt của ngài, một đà tiến mới mẻ đã đưa những tâm hồn trai trẻ nồng nhiệt lao mình vào các hoạt động tông đồ ngay giữa lòng trần thế, tại những môi trường kỳ diệu đang mở ra trước mắt họ giữa thập niên 1930-1940. Ai ai cũng cảm nghiệm một nguồn sinh lực tươi vui mới mẻ đang ào ạt thổi vào, làm rung chuyển cả Thân mình Hội Thánh, đến nỗi mọi người đều đồng thanh kính tặng ngài danh hiệu: "Giáo Hoàng của Công giáo Tiến hành ". Đứng trước sự kiện ấy, nhiều người lầm tưởng Đức Piô XI đã có một chuỗi đời dày đặc kinh nghiệm về Công giáo Tiến hành; có ngờ đâu thành quả ấy chính là con đẻ của một lòng khiêm tốn kiên trì học hỏi và của sự can đảm thực hiện đúng lúc, không quản ngại những khó khăn, gian khổ... 2. Trên ngôi Giáo Hoàng vẫn còn học hỏi. * Làm việc! Học và hành không lìa nhau. Con sẽ gần thực tế hơn, con sẽ thấy: nói dễ, làm khó; con sẽ bớt phê bình, con sẽ gia tăng xét mình (ĐHV 567). * Con hỏi "Học đến bao giờ?" - Học luôn mãi. Thế giới biến chuyển, tưởng sự hiểu biết của mình vô hạn (ĐHV 580). Đức Piô XII là một vị Giáo Hoàng rất thánh thiện, đạo đức đồng thời cũng là một bậc trí thức vĩ đại. Ngài vừa học vừa hành suốt đời. Hằng đêm, ngọn đèn cuối cùng của thành phố Roma bao giờ cũng là đèn phòng của Đức Piô XII. Nó chỉ lịm tắt khi đồng hồ thong thả gõ một tiếng. Đức Piô XII học trong sách vở, qua các chuyên gia, bác học cũng như từ những kinh nghiệm phong phú đã đang của cuộc sống. Nếu đọc lại các diễn văn của ngài, ta sẽ thấy ngài đề cập đến rất nhiều vấn đề một cách hết sức sâu sắc: từ những vấn đề tôn giáo, thần học, Thánh Kinh, đến các đề tài chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, xã hội, gia đình, nghề nghiệp, chiến tranh, hòa bình... Ai cũng biết 4 giờ chiều là lúc ngài đi bách bộ trong vườn Vatican và đọc lại bài diễn văn của những ngày sau. Đức Piô XII còn có biệt tài về ngoại ngữ. Những năm cuối cùng của cuộc đời, lúc ngài đã ngoài 80 tuổi, ngài vẫn còn học thêm nhiều ngoại ngữ. Trong các buổi triều yết, giáo dân rất lấy làm sung sướng ngạc nhiên mỗi lần nghe ngài nói thêm một ngoại ngữ mới. Các diễn văn của ngài là những tài liệu rất quý giá đã được Công đồng Vatican II tham khảo trích dẫn rất rộng rãi. Ngài thường nói: "Cám ơn Chúa đã cho cha sống đến ngày hôm nay, trong một thế giới biến chuyển nhanh chóng với nhiều đau thương phức tạp, vì nhờ đó, cha có dịp học hỏi mãi và dấn thân phục vụ nhiều hơn". 3. Phép lạ không chấm dứt nỗ lực. * Ai có mười nén phải làm lợi mười nén. Ai có năm nén phải làm lợi năm nén. Ai có một nén cũng phải làm lợi một nén (ĐHV 561). * Trách nhiệm càng cao mà thiếu khả năng nghề nghiệp càng khốc hại. Con muốn phó mạng trong tay một phi công, một bác sĩ không kinh nghiệm không? (ĐHV 564). Đọc truyện thánh Phanxicô Xaviê, ta thấy để đem Tin Mừng cho lương dân, có lúc Chúa ban cho thánh nhân nói thứ tiếng mà mọi người dân bản xứ ai cũng nghe như tiếng nói của mình; và cũng lắm khi "chân ướt chân ráo" đến một xứ lạ, ngài đã phải dùng thông ngôn để giảng đạo.Thế nhưng, chớ quên rằng thánh nhân đã phấn đấu rất nhiều để học thêm ngoại ngữ. Chính ngài đã đưa ra nguyên tắc sau đây cho các nhà truyền giáo thuộc quyền ngài: "Trong một thời gian nhất định, phải cố gắng học thuộc thổ ngữ của vùng mình phụ trách. Nếu ai lười biếng không đạt được yêu cầu, thì mặc dù ở trong tình trạng khan hiếm thừa sai, cũng phải gửi trả người ấy về lại Âu châu!". 4. Thiên tài phải đi đôi với đức hạnh. * Xem nghề nghiệp con là một ơn thiên triệu thực hiện ý Chúa giữa xã hội, con sẽ thánh hóa nghề con. (ĐHV 565). * Hy sinh cho nghề nghiệp, tận tụy với văn hóa, phục vụ khoa học, cao đẹp lắm; nhưng con nhớ đây là phương tiện, không phải là cùng đích (ĐHV 566). Những ai chuyên về điện và vô tuyến điện không thể không biết nhà bác học Marconi (1874-1937). Chính ông đã xây dựng hoàn chỉnh đài phát thanh Vatican và là một người bạn chí thân của Đức Piô XI. Người ta kể lại rằng, chính Marconi là người đầu tiên đã tìm ra "một thứ ánh sáng bí mật, có sức mạnh hủy diệt ghê hồn". Một hôm, ông mang phát minh ấy ra thí nghiệm cho nhà độc tài Phátxít Mussolini xem. Một cuộc tập trận giả có quân đội, vũ khí, chiến xa... được dựng lên. Ông Marconi và Mussolini cùng ngồi trong một chiếc xe ở đàng xa phía trước. Khi đã bố trí sẵn sàng đâu vào đấy, bàn tay Marconi nhẹ bấm vào nút phóng "tia sáng mới lạ" ấy ra thì... ghê rợn thay, toàn thể binh sĩ trong phạm vi luồng sáng chiếu qua đều ngã lăn ra chết, xe tăng, vũ khí lập tức ngưng hoạt động. Mussolini thích chí la lên: "Thành công mỹ mãn!" và yêu cầu nhà bác học Marconi trao ngay tất cả tài liệu về tia sáng ấy cho ông. Mussolini thầm nghĩ: "Với vũ khí này trong tay, từ nay ta sẽ bá chủ Âu châu và cả thế giới!" Ngược lại, Marconi một nhà bác học chân chính, có lương tâm Công giáo, thì lại nghĩ rằng: "Đây là một thành tựu lớn lao của khoa học, nhưng nếu mà sa vào tay những tên độc tài Phátxít thì nó trở thành vũ khí vô cùng khủng khiếp và sẽ đem lại nhiều hậu quả không sao lường được". Mấy ngày sau đó, Mussolini càng thúc giục, Marconi càng nhẩn nha kéo dài thời gian hứa hẹn thêm. Rồi ngày ngày nhà bác học leo lên một chiếc thuyền con lững lờ trôi dọc theo bờ biển... Từ xa người ta sẽ lầm tưởng đó là một khách thanh thản nhàn du; nhưng nhìn kỹ, họ sẽ thấy một khuôn mặt âu sầu đang trầm tư nghĩ ngợi: "Làm sao tôi có thể trao những công trình nghiên cứu khoa học ấy vào tay những tên độc tài Phátxít được!" Thế rồi, Marconi cuối cùng đã đi đến một quyết định can đảm. Không mấy ngày sau, người ta nghe tin ông chết một cách đột ngột, mang theo tất cả mọi bí mật xuống đáy mồ. Tuy màn bí ẩn vẫn bao trùm lên cái chết ấy, nhưng nguyên nhân và thủ phạm gây nên nó, ai cũng đoán ra được dễ dàng! 5. Khoa học phục vụ đức tin. * Giờ học là giờ cầu nguyện. (ĐHV 558). * "Hãy mến Chúa với tất cả quả tim con, với tất cả tâm hồn con, với tất cả sức lực con, với tất cả trí khôn con." Chưa học để phục vụ đúng mức, con chưa mến Chúa. (ĐHV 559). * Học đây không phải là vào lớp hay văn chương khoa học. Học là luyện khả năng của con, nghề nghiệp của con cho tinh vi, hiện đại (ĐHV 562). * Thanh niên, đời con đầy hy vọng, hăng say luyện đức và rèn tài. Bao nhiêu phấn khởi và tươi sáng vì con thao thức vươn lên lý tưởng tông đồ, môi trường của con. (ĐHV 570). * Lên phi cơ, nhìn xe cộ, nhà cửa, người ta, loài vật, như đồ chơi của lũ trẻ; lên nguyệt cầu mới thấy địa cầu nhỏ bé. Người càng học hỏi thông minh, càng khiêm tốn, càng muốn học thêm (ĐHV 571). * Nhiều người công giáo thông minh một khi sinh hoạt giữa xã hội lại giấu diếm tính cách công giáo của mình. Đó là hạng "công giáo sơ-mi", tiện đâu thay đó (ĐHV 574). Đầu thế kỷ XX này, các nhà khoa học, kỹ thuật đã bỏ dưới đáy biển một dây cáp nối liền Âu châu và Mỹ châu. Kể từ đó, để liên lạc, người ta không cần gởi thơ lâu ngày mà chỉ cần điện thoại ngay cho nhau là có thể thông báo tin tức trong vòng một vài phút. "Sẽ khánh thành đường điện thoại này bằng lời gì đây?, đó là câu hỏi mà các nhà khoa học đã đặt ra. Cuối cùng, lương cũng như giáo, tất cả đều nhất trí: Lời nói đầu tiên của Đại Tây Dương sẽ là: "Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bình an dưới thế cho người (thiện tâm) Chúa thương". Ngày 21.7.1969, lúc Neil Armstrong, con người đầu tiên đặt chân lên mặt nguyệt cầu, các nhà khoa học đã muốn đặt trên ấy một vài kỷ niệm cho thế hệ mai sau. Họ đã mời các vị Nguyên Thủ quốc gia mỗi người viết một bức thông điệp ngắn để họ ghi khắc vào một chiếc dĩa nhỏ đặc biệt, làm bằng chất silicon mầu xám. Các bức thông điệp đều được chụp và thu nhỏ lại chỉ còn bằng cái chấm nỏ xíu, phải dùng kính hiển vi mới đọc được. Thông điệp của Đức Thánh Cha Phao lô VI khởi đầu với câu nhập đề trong Tin Mừng Thánh Gioan: "Lúc khởi nguyên đã có Lời, và Lời ở nơi Thiên Chúa và Lời là Thiên Chúa... Mọi sự đã nhờ Người mà thành sự, và không Người thì đã không gì thành sự" (Jn 1,1-3). Đoạn tiếp theo là thánh vịnh thứ 8, một thánh vịnh ca tụng vinh quang Thiên Chúa Tạo Hoá: "Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con. Lẫy lừng thay danh Ngài toàn cõi trái đất. Uy phong Ngài vượt quá trời cao. Ngắm trời xanh tay Ngài sáng tạo. Muôn trăng sao Chúa đã an bài. Thì con người là chi mà Chúa còn nhớ đến? Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm? So với Thần Linh, Ngài không thể thua là mấy. Ban vinh dự huy hoàng làm mũ triều thiên. Kiệt tác của Ngài, Ngài cho làm bá chủ. Muôn loài muôn sự Ngài đặt cả dưới chân... Lạy Chúa, là Thiên Chúa chúng con. Lẫy lừng thay danh Ngài toàn cõi đất". Tưởng cũng nên biết là khi Đức Thánh Cha theo dõi những bước chân đổ bộ nguyệt cầu của con người đầu tiên, ngài đã ban phép lành Toà Thánh cho phi hành đoàn Apollo XI bằng những lời lẽ như sau: "Danh dự, chào mừng và phép lành cho các con, những người chinh phục nguyệt cầu, ngọn đèn của đêm tối, của giấc mơ... " Khoa học không đối nghịch với đức tin, nếu được xử dụng với thiện chí và tâm hồn ngay thẳng, vì cả khoa học và đức tin đều kiếm tìm các chân lý từ Thiên Chúa là Chân lý tuyệt đối, tuyệt hảo. Một trong những bằng chứng hiển nhiên nhất là khoa học chú giải Thánh Kinh được tiến triển mạnh mẽ trong những thập niên gần đây phần lớn là như những phát minh khám phá của khoa học. Như các nhà khảo cổ đã khai quật nhiều di tích trong phạm vị Thánh địa và đã xác đinh được những điều Thánh Kinh ghi lại về các điểm cũng như các sự kiện xảy ra ngày trước. Đặc biệt nhất là khám phá ra rất nhiều bản sao Thánh Kinh tại các hang động Qumrân bên bờ biển chết từ năm 1947. Cũng nhờ khoa học kỹ thuật, mà các kỹ sư, kiến trúc sư, các nhà khảo cổ và sử học theo lệnh Đức Piô XII, đã đào sâu dưới Đền thờ Thánh Phêrô, ngay tại bàn thờ chính, và đã khám phá cũng như kết luận một cách chính xác sự kiện mộ thánh Phêrô (xác) và thánh Phaolô (đầu) chôn ở đây, theo đúng truyền thống Hội Thánh đã tin nhận suốt 20 thế kỷ qua. Một trong những đóng góp đáng kể của khoa học vào lãnh vực đức tin trong thế kỷ 20 này là việc phát hiện ra mặt thực của dấu vết in trên bức khăn liệm thành Torinô nước Ý. Bức Khăn Liệm này là một thánh tích mà người ta cho rằng đã dùng để liệm xác Chúa Giêsu. Nó có in nhiều vết máu và thân thể lờ mờ của một kẻ bị đóng đinh. Người ta vẫn tôn sùng nó từ bao thế kỷ và đến năm 1898 thì nó đã được khoa học khám phá cách đặc biệt. Năm đó nó được chụp ra ảnh lần đầu tiên. Và khi rửa tấm phim, nhà nhiếp ảnh chính thức đã thấy hiện ra trên tấm phim hình một con người với những đường nét, góc cạnh, màu sắc của một bức ảnh thật. Người ta lúc ấy mới khám phá ra rằng các dấu vết in trên khăn liệm chỉ là mặt trái (âm bản) của một hình người thôi. Và từ đó trở đi, nhờ tấm phim của bức khăn (mà đúng ra phải gọi là một bức hình thật), các nhà khoa học đã có dịp nghiên cứu tấm khăn tường tận và thấy các dấu vết trên nó hoàn toàn phù hợp với những điều mà Thánh Kinh mô tả về Chúa Giêsu và về cuộc khổ nạn của Người. Họ đã dùng khoa nhiếp ảnh, giải phẫu, sinh lý, hoá học mà cho ta thấy khuôn mặt thật của Chúa Giêsu và biết được chi tiết cuộc khổ nạn Phục sinh của Người cách đây 2000 năm vậy. 6. Học để phục vụ các linh hồn. * Muốn cách mạng thế giới, phải có ơn Chúa, nhưng con phải là khí cụ điêu luyện (ĐHV 563). * "Ở nhưng" là cội rễ mọi sự dữ. "Ở nhưng" là sự dữ. Tông đồ không biết "ở nhưng". Không có "tông đồ hưu", chỉ đổi cách làm việc tùy sức (ĐHV 569). * Hội Thánh ở giữa trần gian. Tất cả mọi kiến thức, khoa học đều được xử dụng để bênh vực và trình bày chân lý; càng hiểu biết con càng phục vụ Hội Thánh đắc lực hơn (ĐHV 572). * Con hiểu biết một chân lý khi con tìm học chân lý ấy. Con càng thông hiểu rõ rệt hơn khi con tìm cách bênh vực chân lý ấy (ĐHV 581). Mọi vị thánh đều phấn đấu khai thác triệt để những "nén bạc" mà Chúa ban hầu phụng sự Hội Thánh, phục vụ các linh hồn cách đắc lực và có hiệu quả. Nhiều đấng có khả năng giới hạn đã phải nổ lực học hành hết sức và vất vả như: Thánh Maria J. Vianney. Chúng ta biết ngài được làm linh mục là nhờ "phép chuẩn". Vì tuy học hành kém cỏi, đầu óc mù tịt, nhưng nhờ có lòng đạo đức và sự bền chí mà ngài đã được thụ phong linh mục. Rồi khi làm linh mục, dù Chúa đã ban cho ngài lắm ơn đặc biệt để cứu các linh hồn cho đến nỗi một lần kia, quỷ Satan đã nói với ngài: "Nếu trên thế giới có hai đứa như mày thì bọn tao đành phải thất nghiệp". Nhưng ngài vẫn không ỷ lại vào ơn thánh. Cứ mỗi sáng thứ hai, ngài mang giấy bút lên phòng thánh để dọn bài giảng chúa nhật sắp tới. Ngoài ra, ngài tiếp tục mua sách vở thêm để học hỏi. Ngày nay người ta còn giữ lại được một tủ sách khá lớn của ngài. Thánh Giuse Cupertinô lúc làm chủng sinh cũng phấn đấu học hành "tróc xương, trầy da", nhưng đến kỳ khảo hạch nào cũng... trượt vỏ chuối! Bề trên biết ngài là người đạo đức, thánh thiện nỗ lực, muốn chọn làm linh mục, nên phải bày mưu lập kế cho ngài qua được kỳ thi. Lần nọ, trong lúc khảo hạch, thánh nhân được sắp đứng ở giữa hàng. Đức Giám mục khởi sự khảo hạch các thầy đứng đầu, ai cũng đáp gọn gàng thông suốt khiến ngài rất hài lòng, và như để tiết kiệm thời giờ, ngài bảo: "Thôi, bây giờ khảo hạch mấy thầy ở cuối hàng xem có thuộc thần học không?". Các thầy đứng cuối hàng cũng không kém các thầy đứng trước, ai nấy đều thuộc bài trôi chảy. Đức Giám mục xoa tay tuyên bố: "Vậy là đủ, tha hạch những thầy đứng ở giữa hàng". Curpertinô thoát khỏi một phen hú hồn, thở phào nhẹ nhõm, miệng tíu tít cám ơn bề trên. Sau đó ngài được làm linh mục, rồi làm thánh, và hơn thế nữa, ở Âu châu, người ta đã chọn ngài làm quan thầy cho những hạng... đi thi! Bên cạnh những vị thánh phải học hành vất vả như trên, lại có những vị thánh tài ba xuất chúng, nhưng cũng hy sinh trọn đời để nghiên cứu, học hành và dạy dỗ: Thánh Gioan Boscô rất thông minh, đã miệt mài tận dụng hết mọi khả năng để nghiên cứu, học hành, viết nhiều sách báo cho giới trẻ và soi sáng, hướng dẫn giáo dân tránh khỏi những lạc thuyết thời bấy giờ. Thánh Maximilien Kolbe, một linh mục chuyên nghiên cứu và làm tông đồ bằng cách viết sách vở, làm báo chí. Lúc sang truyền giáo ở Nhật Bản, ngài thành lập nhà in xuất bản tạp chí. Khi bị lao phổi phải về lại Ba Lan, ngài tiếp tục hoạt động tông đồ bằng báo chí sách vở cho đến ngày vào tù và chết đói trong một trại giam Đức quốc xã. Thánh Albertô Cả là một ngôi sao sáng của thế kỷ XIII. Sau khi theo học Đại học Padua, ngài vào Dòng Đa Minh và tỏ ra có khiếu về triết học, thần học. Nên sau đó, ngài lại được gọi sang Cologne (Đức) để tiếp tục tu luyện. Khi đã đỗ đạt, ngài được mời làm giáo sư dạy các Đại học Hildesheim, Fribourg, Rattisbone và Strasbourg. Danh ngài nổi nhất là thời kỳ làm giáo sư tại Đại học Paris. Năm 1260 ngài được bổ nhiệm làm Giám mục thành Rattisbone và chết tại đó vào năm 1280, thọ 87 tuổi, để lại nhiều tác phẩm quý giá và đủ mọi vấn đề nhất là triết học và thần học. Năm 1942, Đức Piô XI đã phong tước vị Tiến sĩ Hội Thánh cho ngài, và tôn ngài làm quan thầy những người chuyên môn về "khoa học tự nhiên". Thánh Thomas Aquinô, người học trò thông minh xuất chúng nhất của thánh Albertô Cả. Nhờ bầu khí và hoàn cảnh gia đình. Thomas Aquinô đã được hấp thụ một nền học vấn chắc chắn ngay từ lúc còn nhỏ. Lớn lên, ngài lại được thụ huấn với thánh Albertô Cả. Nên mới 27 tuổi mà ngài đã là giảng sư Đại học với một kiến thức uyên bác có thể hướng dẫn được giới trí thức thời bấy giờ đang say sưa nền triết lý của ngoại giáo Hy Lạp. Ngài chỉ sống đến 49 tuổi mà để lại một kho tàng phong phú khôn lường về thần học và triết học cho Hội Thánh. Trong đó công trình sáng chói nhất là bộ "Tổng luận thần học" mà muôn thế hệ sau này vẫn còn say mê nghiên cứu học hỏi. Cái độc đáo và ưu việt nhất của ngài là tổng hợp được kiến thức của thời đại, giải đáp được các vấn nạn đương thời và có nhiều trực giác vượt thời gian mà đến nay thần học đang khám phá thấy. Năm 1567, Đức Piô V đã phong ngài làm Tiến sĩ Hội Thánh với biệt hiệu "Tiến sĩ thiên thần". Đến năm 1880, Đức Lêô XIII lại đặt ngài làm quan thầy các trường Công giáo và lấy học thuyết của ngài làm mẫu mực cho triết học và thần học của Hội Thánh. Đức Gioan XXIII cũng nêu gương sáng cho ta trong việc kiên trì học tập, bất kể tuổi tác và hoàn cảnh. Trong Công đồng Vatican II, các nghị phụ đều nhất trí dùng La ngữ làm ngôn ngữ chung, nên Đức Thánh Cha tuy đã 81 tuổi, đầu tóc bạc phơ, vẫn phải luyện lại La ngữ. Trong tập hồi ký, ngài có viết: "Chúa nhật 9.9.1962: tiếp linh mục Ciappi để chuẩn bị diễn văn bằng La ngữ trong các phiên họp mà tôi phải chủ tọa (mỗi ngày 11 giờ)". "Thứ năm 13.9.1962 vẫn bàn chuyện đạo đức với linh mục Ciappi bằng La ngữ; tập nói lại cho quen". Ngoài ra ngài còn học thêm Anh ngữ trong suốt thời gian làm Giáo Hoàng. Còn rất nhiều vị thánh khác mà ta không thể kể hết, cũng như có vô số giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân đã và đang đóng góp rất nhiều vào công cuộc phát triển thuộc đủ mọi địa hạt. Với một bầu nhiệt huyết nóng hổi của Tin Mừng, họ đã ra sức phục vụ nhân loại và Hội Thánh. Một số đã được mời làm chuyên viên trong ủy ban Công lý và Hoà bình trung ương hoặc các hội đồng giáo dân là những cơ quan đã và đang, sẽ được Toà Thánh tham khảo ý kiến về các vấn đề thuộc phạm vi thế tục. Một số khác được mời vào viện Hàn Lâm Khoa Học của Toà Thánh. 7. Phương pháp làm việc trong Hội Thánh. * Hội Thánh cần sự hợp nhất của những bộ óc thông minh để đem tình yêu Chúa đến trong mọi lãnh vực trần thế. Hội Thánh đau khổ và rối loạn vì sự chia rẽ và lộn xộn của những đầu óc thông minh mà tâm hồn tự cao, tự đại. Các thiên thần dữ đã làm như thế (ĐHV 568). * Tự xem mình "chuyên môn tất cả" là phản khoa học và lạc hậu. Thời đại này, muốn phục vụ, phải đem tất cả hiểu biết để hợp tác (ĐHV 578). Hội Thánh có một phương pháp làm việc rất độc đáo: Một đàng Hội Thánh trông cậy hoàn toàn vào ơn Chúa, theo lời Chúa Giêsu đã phán: "Không Thầy chúng con không làm gì được"; đàng khác Hội Thánh dùng hết mọi khả năng, phương tiện của loài người. Nên thường thường, trước khi ban những lời giảng dạy, ra những quyết định, Đức Thánh Cha đều có tham khảo các Đại học Công giáo, các tổ chức bên cạnh Toà Thánh gồm những Giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân thuộc đủ mọi ngành mọi giới như vừa kể trên: Ủy ban Công lý Hoà bình, Hội đồng Giáo dân, Viện Hàn Lâm Khoa học. Ngày 15.9.1965, Đức Thánh Cha Phaolô VI còn lập thêm một tổ chức mới mang tên: "Thượng Hội đồng Giám mục thế giới", gồm có các đại điện các Giám mục của mọi quốc gia, ba năm họp một lần tại Roma, có Văn phòng thường trực, và trước mỗi khóa họp, chương trình nghị sự cũng như các tư liệu đều được gởi đi tất cả các giáo phận. Các Giám mục tiếp nhận các tài liệu ấy, tham khảo rộng rãi các ý kiến của giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận, rồi gởi sang Văn phòng thường trực để kịp thời đúc kết và phổ biến lại trước khi khai mạc hội nghị. Qua tất cả những cơ quan ấy, chúng ta thấy chính Đức Thánh Cha lắng nghe, học hỏi, tham khảo liên lỉ, rồi cầu xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng mới đi đến những quyết định cụ thể. Nếu trên thế giới có một tổ chức nào có một người cầm quyền tối cao và được triệt để vâng lời nhất, thì đó là Hội Thánh Công giáo. Nhưng ngược lại, nếu trên thế giới có một tổ chức nào dân chủ nhất, trong đó ai cũng được góp ý mà chẳng sợ có người theo dõi, trả thù... và mỗi ý kiến đệ trình đều được nghiên cứu, đánh giá một cách chân thành, không phe cánh, không mưu mô thì đó cũng là Hội Thánh Công giáo. 8. Cha đẻ tiếng Việt. * Nếu mỗi ngày con học thuộc một danh từ thôi, nếu mỗi tháng con đọc thêm một cuốn sách thôi, đến nay con đã tiến nhiều. Nếu đến nay con chưa làm, hãy khởi sự ngay từ hôm nay (ĐHV 575) * Văn bằng chứng minh con đã thông minh một giai đoạn nào đó, đặc biệt lúc đi thi. Nếu sự học hỏi của con đứng ngang đó, dù một đống văn bằng cũng không bảo đảm sự thông minh của con (ĐHV 579). Không người Việt Nam chính hiệu nào mà lại không biết đến tên cha Đắc Lộ, một giáo sĩ người Pháp mà danh tính gắn liền mãi mãi với chữ quốc ngữ của dân tộc ta; nhưng thật rất ít người biết trong hoàn cảnh nào ngài đã làm nên một công trình vĩ đại như thế. Ở đây, thiết tưởng ta nên nhắc lại những lời nói đầu tiên ngài ngỏ với dân bản xứ khi tàu vừa cập bến Cửa Bạng ngày 19.3.1627: "Đây là tàu của người Bồ Đào Nha, những người danh tiếng lừng lẫy khắp phương đông... Hiện giờ tàu của họ có chở một thứ hạt trai tuyệt đẹp và quý giá, ai mua thì cả đời được giàu có hạnh phúc muôn thuở. Không nên sợ giá cao, vì chẳng ai nghèo đến nỗi không đủ tiền để mua hạt trai ấy". Tổ tiên chúng ta mới khấp khởi vui mừng xin ngài ít là cho xem qua đôi ba hạt. Ngài trả lời: "Hạt trai ấy mắt xác thịt không thể xem thấy được, chỉ có trí khôn hiểu được mà thôi. Hạt trai ấy chính là lề luật Thiên Chúa, một cái gì quý trọng hơn trân châu và hàng hoá Ấn Độ. Chúng tôi sẵn sàng giảng dạy luật đó cho anh chị em, nên không ngại vượt biển băng ngàn đến đây". Lúc ấy vào thời hai chúa Trịnh Nguyễn, một thời vừa có chiến tranh, vừa có cấm cách bắt đạo Chúa. Sự đi lại vô cùng khó khăn, nhất là đối với một ông tây "da hồng mũi lõ"! Vì thế, thường cha Đắc Lộ phải giảng dạy, làm lễ, cử hành các bí tích ban đêm. Còn ban ngày, ngài di chuyển bằng cáng: hai người gánh một chiếc võng, ngài nằm trong đó, lấy chiếu che lại. Dạo ấy, từ sông Gianh đến Phan Rang, Phan Thiết chỉ có lưa thưa một vài giáo sĩ. Lắm lúc cả địa hạt rộng rãi ấy chỉ có một mình Cha Đắc Lộ tung hoành. Ngài phải lẩn trốn nhiều vùng, phải âm thầm đi đi lại lại để củng cố giáo đoàn Đàng Trong. Mỗi lần ra đến Huế, ngài lại còn lo cho cả giáo dân thuộc địa phận Đàng Ngoài nữa. Các đại diện của giáo dân bên kia sông Gianh vào gặp ngài, chịu các phép bí tích, nhận chỉ thị để rồi trở về củng cố cuộc sống đức tin của các giáo hữu vắng bóng chủ chăn. Khắp Đàng Trong, không chỗ nào mà không in dấu vết chân cha Đắc Lộ. Ba lần ngài bị phát giác phải đuổi về Macao, và mỗi lần như thế, đợi bầu khí hơi hơi lắng dịu ngài lại sắm sửa lễ vật sang dâng cho Chúa Nguyễn, đi theo ghe thuyền nhà buôn trở lại Việt Nam. Không có văn phòng, quạt điện, máy điều hoà, thư viện, thiếu hẳn mọi tiện nghi tối thiểu, thế mà cha Đắc Lộ soạn thảo thành công cuốn "Phép giảng 8 ngày cho những người muốn chịu phép rửa tội mà vào đạo Thánh Chúa Trời" và cuốn tự điển: "Ba thứ tiếng Việt-Bồ-La" gồm cả văn phạm tiếng Việt, cách dùng chữ La tinh thay chữ Nôm, lối phát âm... Ngài đã mang về ấn loát tại nhà in Vatican vào quãng năm 1651, làm nền tảng cho tiếng Việt ngày nay. Dĩ nhiên ngài đã căn cứ vào công trình của những người tiền phong như cha Buzomi chẳng hạn. Nhưng ngài đã có công lớn trong việc tổng hợp, phân tách từ ngữ xác định văn phạm, phát âm và đưa tất cả đến tình trạng hoàn chỉnh để phục vụ Hội Thánh. Ngài đã thâm tính rằng: ngôn ngữ là khí cụ thiết yếu để đưa Tin Mừng đến cho mọi dân tộc, không phải chỉ trong chốc lát mà còn cho muôn vàn thế hệ mai sau. Chắc chắn phải có một tâm hồn hiếu học, một tinh thần tông đồ nồng cháy mới có thể kiên trì nghiên cứu, bảo quản và hoàn thành một công trình khó khăn như thế, giữa bao thử thách gian nan.

Thứ Bảy, 7 tháng 8, 2010

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2010

1 tháng 8/2010: CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN NĂM C


BÀI ĐỌC I: Gv 1, 2; 2, 21-23 "Ích gì cho người bởi mọi việc mình làm". Trích sách Giảng Viên. Giảng Viên đã dạy rằng: Hư không trên các sự hư không, hư không trên các sự hư không, và mọi sự đều hư không. Vì kẻ này làm việc vất vả trong sự khôn ngoan, hiểu biết và lo lắng, rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không, thì thật là hư không và tai hại lớn lao. Ích gì cho người bởi mọi việc mình làm mà phải chịu đau khổ cực lòng dưới phàm trần? Suốt ngày của họ đầy sự đau khổ gian truân, và ban đêm lại không được yên lòng, thế thì chẳng phải là hư không sao? Đó là lời Chúa.



ĐÁP CA: Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9 Đáp: Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: các ngươi đừng cứng lòng (c. 8 ). Xướng: 1) Hãy tới, chúng ta hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hô Đá Tảng cứu độ của ta! Hãy ra trước thiên nhan với lời ca ngợi, chúng ta hãy xướng ca để hoan hô Người. 2) Hãy tiến lên, cúc cung bái và sụp lạy, hãy quỳ gối trước nhan Chúa, Đấng tạo thành ta. Vì chính Người là Thiên Chúa của ta, và ta là dân Người chăn dẫn, là đoàn chiên thuộc ở tay Người. 3) Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: "Đừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta".



BÀI ĐỌC II: Cl 3, 1-5, 9-11 "Anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự". Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côlôxê. Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Đức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Đức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang. Vậy còn sống trên địa cầu, anh em hãy kiềm chế các chi thể anh em, là sự gian dâm, ô uế, dục tình, đam mê xấu xa và hà tiện, tức là sự thờ phượng thần tượng. Anh em chớ nói dối với nhau; anh em hãy lột bỏ người cũ cùng các việc làm của nó, và mặc lấy người mới, con người được đổi mới theo hình ảnh của Đấng đã tạo thành nó: ở đấy không còn là dân ngoại và Do-thái, chịu phép cắt bì hay không chịu phép cắt bì, người man rợ hay người Scytha, nô lệ hay tự do nữa, nhưng mọi sự và trong mọi sự có Đức Kitô. Đó là lời Chúa. ALLELUIA: Mt 4, 4b Alleluia, alleluia! - Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. - Alleluia.



PHÚC ÂM: Lc 12, 13-21 "Những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?" Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, có người trong đám đông thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi". Người bảo kẻ ấy rằng: "Hỡi người kia, ai đã đặt Ta làm quan xét, hoặc làm người chia gia tài cho các ngươi?" Rồi Người bảo họ rằng: "Các ngươi hãy coi chừng, giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu". Người lại nói với họ thí dụ này rằng: "Một người phú hộ kia có ruộng đất sinh nhiều hoa lợi, nên suy tính trong lòng rằng: 'Tôi sẽ làm gì đây, vì tôi còn chỗ đâu mà tích trữ hoa lợi?' Đoạn người ấy nói: 'Tôi sẽ làm thế này, là phá các kho lẫm của tôi mà xây những cái lớn hơn, rồi chất tất cả lúa thóc và của cải tôi vào đó, và tôi sẽ bảo linh hồn tôi rằng: "Hỡi linh hồn, ngươi có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm: ngươi hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi đi". Nhưng Thiên Chúa bảo nó rằng: 'Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?' Vì kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy". Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM TIN MỪNG COI CHỪNG LẦM LẪN!
Thỉnh thoảng cũng có đôi lời tự an ủi phát ra từ những cuộc đời lam lũ vất vả, hay từ những hoàn cảnh tiêu phí hết cả cuộc đời mà vẫn không thấy thỏa mãn giàu có hơn ai, như nhìn quanh mình tất cả đều đi đến tận cùng, đi đến nghĩa trang... tại nơi đây, những kẻ giàu có hơn mình còn cơ hội tô son tô phấn đời họ lần chót bằng những lời ca tụng của gió của mây, trước khi bước vào lòng đất quê hương cát bụi cô đơn lạnh lẽo! Khổ nỗi cuộc đời từ ngàn xưa xem ra vẫn cứ bất công giàu - nghèo, sung sướng - đói khổ, thế lực - trắng tay, danh vọng - cùng đinh... Mỗi cố gắng vươn lên là như thêm một dịp nhận chìm kẻ khác vô hình chung hay cố ý. Nhưng đó là phần ảo tưởng của cuộc đời. Phần thực sự của thân phận con người được kết thúc bằng lời Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay: "Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai? Kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy." (Lc 12:20-21) Lời Chúa chẳng yên ủi người nghèo, và cũng chẳng khích lệ hay lên án người giàu, nhưng cảnh cáo những kẻ Người gọi là ngu ngốc chỉ biết tiêu xài cuộc đời để tích trữ và hưởng thụ vật chất. Lời Chúa Giêsu xem ra làm khó dễ chúng ta quá! Sống trên đời ai lại chẳng muốn được sung sướng giàu có, vì có tiền mua tiên cũng được cơ mà. Hơn nữa Thiên Chúa khi dựng nên con người ngay từ đầu đã muốn cho họ được sống hạnh phúc; và vì lầm lỗi phạm tội, chính Ngài đã sai Con Một của Ngài đến cứu họ đó. Đúng thế, Thiên Chúa muốn tất cả mọi người chẳng những được sống hạnh phúc ở đời này, mà nhất là sẽ hưởng hạnh phúc viên mãn trên quê hương vĩnh cửu với Ngài. Tội tổ tông đã làm cho con người thường lầm lẫn giữa các thực tại giới hạn và vô hạn, nên chẳng lạ gì người phú hộ mà Chúa Giêsu dạy đã trở nên thí dụ điển hình. Ông ta có nhiều của cải vật chất hơn người, và niềm vui duy nhất của ông là ở đó. Ông lầm lẫn giữa đời sống linh hồn và thể xác, và coi vật chất là nhu cầu duy nhất thỏa mãn cho cả hai khi nói: "Hỡi linh hồn, ngươi có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm: ngươi hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi đi!" Xem ra đây là sự lầm lẫn vừa cố ý lại vừa ngu ngốc như Chúa nói, bởi vì vật chất sẽ tiêu tan, và chỉ có linh hồn mới bền vững thôi. Câu kết luận của Chúa Giêsu: "Kẻ tích trữ của cải cho mình mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy" sẽ cho chúng ta nhiều suy tư và quyết định chọn lựa. Dù ở hoàn cảnh nào mà không để mình bị lầm lẫn giữa các giá trị hạnh phúc, chắc chắn sẽ nếm được hạnh phúc thật mà Chúa dành cho mỗi người chúng ta hôm nay. Lm. Raphael Xuân Nguyên